Sáng kiến quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn - Pdf 35

Hội thi tổ trưởng giỏi cấp huyện

Sáng kiến
“Một số biện pháp đổi mới SHCM
theo hướng nghiên cứu bài học”
GV: Nguyễn Châu Tuấn.
Trường THCS TT Chi Nê


Chương I: Tổng Quan.
1 . Cơ sở lý luận
2. Phương pháp nghiên cứu.
3. Mục tiêu
Chương II: Mô Tả sáng kiến.
1. Nêu vấn đề.
2. Giải pháp thực hiện sáng kiến.
3. khả năng áp dụng nhân rộng sáng kiến.
Chương III: Kết luận chung và đề xuất.
1. Kết luận.
2. Đề xuất


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1- Cơ sở lý luận.

Sinh hoạt tổ chuyên môn là một hoạt động nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên, góp phần tháo
gỡ những khó khăn trong quá trình giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ. Sinh hoạt tổ chuyên môn là những vấn đề về thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo
dục học sinh, thực hiện các văn bản chỉ đạo, thực thi nhiệm vụ năm học và các yêu cầu mang tính thức tiễn được mang ra thảo luận, phân tích dưới nhiều
góc độ và rút ra những kết luận sư phạm, những biện pháp khả thi có thể vận dụng vào thực tiễn, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo
viên. Sinh hoạt tổ chuyên môn nhằm góp phần bồi dưỡng giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS. Vậy thực chất của việc sinh hoạt tổ chuyên
môn theo hướng nghiên cứu bài học là gì? Đó chính là những vấn đề xoay quanh câu hỏi “Làm thế nào để nâng cao hiệu quả giờ dạy, chất lượng học tập

lượng việc học của HS. Từ đó giúp GV hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của sinh hoạt chuyên môn và
cùng nhau nhất trí quyết tâm thực hiện sinh hoạt chuyên môn mới.


2. Giải pháp thực hiện sáng kiến.
SHCM theo hướng nghiên cứu bài học cần được thực hiện theo quy trình 4 bước sau đây:
2.1. Chuẩn bị BHMH.
Khuyến khích GV tự nguyện đăng ký tự chọn môn, bài học để dạy minh họa làm cho người tham dự sẽ học tập được
nhiều hơn. Nếu không có GV tự nguyện, Tổ lựa chọn GV, môn, bài học và lớp dạy minh họa. Các GV trong tổ cần được cử
quay vòng, để lần lượt ai cũng được dạy minh họa.
Nhất thiết Tổ phải yêu cầu để tất cả các GV được tham gia vào SHCM và cùng phối hợp với nhau khi soạn bài và thực
hiện BHMH. Đặc biệt, đối với những GV còn tự ti, càng nên được giúp đỡ, hỗ trợ trực tiếp. Nhóm, tổ chuyên môn cũng có thể
chọn môn, chọn bài dạy, chọn GV thực hiện BHMH và cùng trao đổi về kế hoạch bài học. BHMH cần phải thể hiện tính sáng
tạo, áp dụng các PPDH và KTDH mới để cùng nghiên cứu thông qua dự giờ, suy ngẫm, chia sẻ. Ví dụ như điều chỉnh mục tiêu
bài học; chọn nội dung thú vị cho bài học; thiết kế các hoạt động theo tiến trình linh hoạt; bố trí chỗ ngồi của HS sáng tạo; đặt
câu hỏi hay, đào sâu suy nghĩ của HS, để HS hứng thú, phát huy tính tích cực của HS... Nên tôn trọng và khuyến khích sự tự
chủ, sáng tạo của GV khi soạn bài với ý tưởng mới. Mục tiêu, nội dung và phương pháp của giờ học do GV dạy minh họa chủ
động lựa chọn. Do đó, GV dạy minh họa cần tự quyết định mục tiêu bài học, lựa chọn nội dung, TBDH, kết cấu và tiến trình bài
học.


Để SHCM đạt chất lượng cao, Tổ cần khuyến khích sự chủ động tìm tòi, sáng tạo của tất cả các GV khi chuẩn bị BHMH và áp
dụng vào việc dạy học hàng ngày. GV phải tích cực, chủ động tự đọc, tự học, nghiên cứu tài liệu mới; nghiên cứu và thử nghiệm các
bài dạy với thiết kế bài học sáng tạo, mới mẻ khi chuẩn bị BHMH hoặc trong khi tiến hành bài học hàng ngày. Điều quan trọng là xem
xét sự sáng tạo đó có phù hợp việc học của HS không và đem lại hiệu quả như thế nào. GV nên thảo luận kế hoạch bài học với các
đồng nghiệp dạy cùng khối và thậm chí là khác khối nữa. Điều quan trọng trong SHCM cũng như trong dạy học hàng ngày là GV
không bám vào mô hình lý tưởng nhất định mà phải biết đưa ra tiến trình dạy học thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác phù
hợp với tình huống học thực tế của HS. Một BHMH tốt là một bài học có sự sáng tạo, thể hiện một hay các khía cạnh sau:
- Bài học đặt ra các mục tiêu mới có ý nghĩa hơn với HS, có thể khác với các sách hướng dẫn chung hiện nay.
- Bài học có điều chỉnh nội dung bài dạy trong sách giáo khoa cho phù hợp và có ý nghĩa đối với HS.

việc làm và sản phẩm học tập của HS... Đặc biệt chú ý đến sự thay đổi của các em trước hành vi của GV và bạn bè kể cả khi thay đổi hoạt động
học tập.
- Người dự giờ có thể kết hợp bao quát toàn cảnh lớp học và chọn tìm những HS tiêu biểu nhất, điển hình nhất để tập trung chú ý, thu thập
thông tin. Cố gắng lắng nghe những câu trả lời, có ý kiến của HS hoặc nhìn xem kết quả bài làm của HS ra sao? Kết hợp với những thông tin thu
được đó, suy nghĩ xem tình hình đó xảy ra ở số đông hay số ít HS? Nguyên nhân tại sao lại như vậy?
Vị trí quan sát rất quan trọng. Người dự giờ muốn có nhiều thông tin và thông tin chính xác về việc học của HS thì cần chọn vị trí ngang
lớp học hoặc phía trên lớp học (đối diện với HS) để có thể quan sát nét mặt của HS càng nhiều càng tốt. GV không nên ngồi phía cuối lớp, sau
lưng HS. Vì chỗ quan sát ở phía trên có hạn, GV dự giờ có thể đứng cạnh lớp để bao quát lớp học, đôi khi có thể quan sát được cụ thể việc làm,
sản phẩm học tập của HS. Khi HS ngồi theo nhóm hoặc trong khi hoạt động nhóm hay hoạt động cá nhân thì GV dự giờ có thể đến gẩn các em để
quan sát nhưng đảm bảo không che khuất tầm nhìn của GV đứng lớp, có thể cúi người thấp xuống ngang hàng cùng các em HS.


Quan sát việc học của từng HS một cách tỉ mỉ giúp GV có thông tin phong phú để
suy ngẫm và chia sẻ. Dần dần, sau một thời gian sẽ hình thành thói quen và năng lực quan
sát tinh tế, nhạy cảm về HS - một phẩm chất và năng lực mới, đặc biệt quan trọng để GV
cải tiến việc dạy học của mình.
Qua dự giờ mỗi GV có cái nhìn và cách nhìn khác nhau, có suy nghĩ cảm nhận khác
nhau về HS và bài học của các em. Khi các ý kiến khác nhau đó được chia sẻ cho mọi
người cùng thấy sẽ làm cho việc phân tích bài học trở nên phong phú, sâu sắc, đa chiều, đa
dạng. Từ đó, GV có cái nhìn toàn cảnh, phong phú và rõ nét hơn về tất cả các vấn đề liên
quan đến việc dạy và việc học và các cách giải quyết chúng.


Đặc biệt, khi từ bỏ thói quen quan sát việc dạy của GV, người dự và người dạy sẽ thấy tất cả cùng
nhau hướng về một điểm chung là việc học của HS. Họ không còn để ý đến những khoảng cách về năng lực
giữa các GV, thoải mái hơn khi trao đổi và chia sẻ ý kiến. Từ đó họ dễ dàng chấp nhận lẫn nhau và họ sẽ chỉ
quan tâm đến những khó khăn của người GV trước sự thay đổi phức tạp trong học tập của HS.
Tóm lại GV dự giờ chỉ quan sát, suy ngẫm về việc học và các vấn đề liên quan đến việc học của HS.
Người dự giờ phải quan sát tỉ mỉ, tinh tế, nhạy cảm việc học của từng HS để suy ngẫm và chuẩn bị chia sẻ ý
kiến phong phú, sâu sắc. Những dấu hiệu từ HS thể hiện rõ ở khuôn mặt, lời nói, điệu bộ, sản phẩm học tập...


2.4. Áp dụng cho thực tế dạy học hàng ngày.
Đây là bước làm gián tiếp, không nằm trực tiếp trong quy trình SHCM. Tuy nhiên nó
không tách rời việc SHCM vì sau các buổi SHCM, giáo viên sẽ nghiên cứu vận dụng,
kiểm nghiệm những gì đã học và tự đúc rút thêm những vấn đề thắc mắc, băn khoăn. Trên
cơ sở đó tiếp tục tìm tòi trong SHCM (giáo viên có thể dạy lại bài học đó, chuẩn bị bài
minh họa tiếp theo) hoặc áp dụng các giờ dạy hàng ngày của mình. Việc làm này giúp giáo
viên trở thành những "nhà nghiên cứu thực hành". Việc SHCM suy cho cùng là để giáo
viên có năng lực mới, vận dụng trong công việc hàng ngày. Ý nghĩa đích thực của SHCM
là giúp giáo viên không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn để đảm bảo tốt việc nâng
cao chất lượng từng bài học của học sinh.


3- Khả năng áp dụng, nhân rộng sáng kiến.
Trong hai năm học liền kề áp dụng thực hiện việc đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng
nghiện cứu bài học tại tổ Khoa học tự nhiên trường THCS TT Chi Nê, tôi thấy sinh hoạt tổ chuyên
môn thực sự đã có chất lượng, khác hẳn với cách thức sinh hoạt chuyên môn trước kia chỉ nặng về
đánh giá nhiệm vụ được giao. Giờ đây các giáo viên trong tổ chuyên môn đã quen với việc làm mới
này, các đồng chí rất có ý thức và nhiệt tình trong việc xung phong đăng kí bài học và dạy minh họa,
không còn tình trạng e dè hoặc ngại ngùng để đồng nghiệp cùng tham gia góp ý cho bài dạy của
mình. Các đồng chí đã tự tin lên rất nhiều không còn cảm thấy khó khăn vướng mắc trước một nội
dung hay một vấn đề nào đó của bài học, môn học bởi nó đã được tháo gỡ qua việc trao đổi với các
đồng nghiệp trong các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn. Chính vị vậy mà chất lượng dạy của giáo viên
và kết quả học tập của học sinh được nâng lên rõ rệt, cụ thể là:


* Kết quả giảng dạy của giáo viên:
Chất lượng giáo viên
Năm học


13/15

86,7%

2/15

13,3%

0

0

HKI 2014-2015
(Khi chưa áp dụng sáng kiến)

HKI 2015-2016
(Khi áp dụng sáng kiến)


* Kết quả chất lượng học tập của học sinh:
Chất lượng học sinh
Năm học

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu


7,6%

63/258

24,4%

125/258

48,4%

66/258

25,6%

4/258

1,6%

HKI 2014 – 2015
(Khi chưa áp dụng sáng
kiến)
HKI 2015 – 2016
(Khi áp dụng sáng kiến)

* Khả nhân rộng sáng kiến:
Phạm vi đề tài không chỉ áp dụng cho tổ khoa học tự nhiên trường THCS Chi Nê mà có thể
áp dụng cho tất cả các GV đang giảng dạy và làm nhiệm vụ tổ trưởng tổ chuyên môn ở trường
THCS trong toàn huyện để xây dựng tổ đạt thành tích cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục của nhà trường.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status