LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Mọi thông tin
trích dẫn trong luận văn đều ghi rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hải phòng, ngày
tháng
năm 2015
Học viên thực hiện
Võ Tiến Dũng
i
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam tôi
đã được các thầy, cô truyển đạt kiến thức và hướng dẫn, giúp đỡ hoàn thành khóa
học đào tạo thạc sĩ.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu ngoài sự có gắng của bản thân, tôi
còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường.
Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình các môn học và luận văn thạc sĩ khoa học.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS. Nguyễn
Hoàng Tiệm đã giành rất nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn và đã giúp đỡ, tạo
điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn. Tôi
xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Hàng hải, Viện Đào tạo sau
đại học cùng toàn thể quý thầy cô đã tận tình giúp đỡ trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Ý nghĩa
1
NSNN
Ngân sách nhà nước
2
KT-XH
Kinh tế xã hội
3
TW
Trung ương
4
HĐND
Tên bảng
Tổng hợp thu ngân sách phường Trại Cau giai đoạn 2011 2014
Tổng hợp thu thuế phường Trại Cau giai đoạn 2011 - 2014
v
Trang
28
29
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số
hình
2.1
Tên hình
Tổng hợp thu ngân sách phường Trại Cau giai đoạn 2011 2014
Trang
28
2.2
Tổng hợp thu thuế sách phường Trại Cau giai đoạn 2011 2014
29
của vùng duyên hải Bắc Bộ; Hải Phòng còn là một cực tăng trưởng tam giác kinh
tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, đồng thời là cửa
ngõ quốc tế về cảng biển, nơi tập trung một lượng lớn nhu cầu về vận tải hàng hóa
xuất khẩu.
Thành phố Hải Phòng hiện nay vẫn không ngừng quy hoạch mở rộng, hình
thành các khu công nghiệp, thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư
vào thành phố, đồng thời cũng hình thành ngày càng nhiều các doanh nghiệp vận
tải biển tham đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa bằng đường biển, góp phần làm
tăng lên nhanh chóng số lượng doanh nghiệp trên địa bàn. Để có thể phát huy được
tối đa vai trò của mình thì yêu cầu đặt ra là trong thời gian tới là cần phải tăng
cường công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn, điều này đã được Chính phủ,
Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế rất quan tâm và chú trọng.
Tăng cường quản lý thu ngân sách nhằm động viên đầy đủ và hợp lý các
nguồn thu vào NSNN, tạo nguồn lực tài chính mạnh mẽ, quản lý chi ngân sách có
hiệu quả, chính là yếu tố có tính quyết định để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát
triển kinh tế -xã hội của thành phố đã đề ra. Quản lý thu ngân sách không chỉ có
những đóng góp đáng kể vào chống thất thu thuế mà còn nhằm đảm bảo công
bằng, động viên đối với các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực của mình, đẩy
mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, công tác quản lý thu ngân
sách vẫn còn tồn tại những hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu phát
triển chung của đất nước đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi mới và
hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra. Với sự đòi hỏi cấp
thiết đó, tôi chọn đề tài:
1
“Một số biện pháp nâng cao quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
phường Trại Cau – Quận Lê Chân – TP Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sĩ
kinh tế.
Nhà nước trên địa bàn phường Trại Cau-quận Lê Chân giai đoạn 2015-2020.
2
5.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, thống kê toán, phân tích
hoạt động kinh tế, phương pháp chuyên gia…
6.
Kết cấu và nội dung đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương I. Lý luận tổng chung về quản lý thu ngân sách nhà nước trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội.
Chương II. Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước của phường Trại Cau
– Quận Lê Chân – TP Hải Phòng (giai đoạn 2010-2015).
Chương III. Một số giải pháp nâng cao quản lý thu ngân sách nhà nước của
phường Trại Cau – Quận Lê Chân – TP Hải Phòng (giai đoạn 2015-2020).
3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ
THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.1. Khái niệm về quản lý, quản lý tổ chức và hiệu quả quản lý
1.1.1. Quản lý và quản lý tổ chức
- Đạt mục đích
- Nhân lực
- Tài lực
Kiểm tra
Phối hợp
hoạt động
Tổ chức
- Vật lực
- Đạt mục tiêu:
+ Sản phẩm
+ Dịch vụ
- Thông tin
1.1.3. Hiệu quả quản lý
- Mục tiêu đúng
Lãnh đạo
Hiệu quả quản lý có thể hiểu là: Kết quả quản lý đạt được của bộ máy hành
- Hiệu quả cao
chính tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực, trong mối quan hệ giữa hiệu
quả kinh tế xã hội.
Hiệu quả của nền hành chính được thể hiện qua:
Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện
chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu
KT-XH. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một
năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua.
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quỹ này thể hiện lượng tiền
huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước,
có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được
tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào.
Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ
tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các
ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân.
NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, được coi là một hệ thống quan hệ
kinh tế tồn tại khách quan.Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi
quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các
quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng.
Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm:
-
Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp.
Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư.
Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính.
Như vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ
tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản
ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện các quan hệ phân phối
và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm
tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT-XH.
6
định từ 3-5 năm. Số bổ sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân
sách cấp dưới.
Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân
sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác.
7
NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công
khai minh bạch, có sự phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm,
nguyên tắc cân đối. Các nguyên tắc này xuất phát từ các lý do sau:
Tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ TW
đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ. Ngân
sách cấp dưới là một bộ phận không thể tách rời của ngân sách cấp trên; NSTW và
NSĐP hợp thành một chỉnh thể NSNN thống nhất. Nguồn tài chính quốc gia được
tạo ra từ một cơ cấu kinh tế thống nhất, được phân bổ trên các vùng lãnh thổ của
quốc gia cho nên NSNN là một thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các khoản thu, các
khoản chi của Nhà nước trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng
nhiệm vụ của Nhà nước. Hệ thống tổ chức và quản lý NSNN là thống nhất từ TW
đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ. Các cơ
chế, chính sách thu chi và phương thức quản lý NSNN phải được thực hiện thống
nhất do Quốc hội, Chính phủ quy định.
Nguyên tắc tập trung được thiết lập nhằm đảm bảo tính thống nhất
trong hệ thống NSNN và tăng cường quyền lực của chính quyền TW. Tuy
nhiên để phù hợp với xu thế phát triển nền dân chủ chính trị, đi đôi với việc tăng
cường tập trung quyền lực của chính quyền TW cần phải đẩy mạnh thể chế dân
chủ thông qua việc phân cấp quản lý NSNN và tăng quyền tự chủ cho các cấp ngân
sách trong việc tổ chức và khai thác tối đa nguồn lực của địa phương để thúc đẩy
sự phát triển của địa phương. Việc phân cấp mà nội dung cốt lõi của nó là sự phân
quyền nhưng đồng thời phải tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ
yếu của phân cấp ngân sách.
Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nguồn thu, nhiệm
vụ chi và cân đối ngân sách. Đây là mối quan hệ lợi ích nên trong thực tế giải
quyết mối quan hệ này rất phức tạp, gay cấn. Do đó phải xác định rõ nhiệm vụ
kinh tế, chính trị của mỗi cấp chính quyền. Phân cấp này phải ổn định và đảm bảo
cho NSTW giữ vai trò chủ đạo, tập trung những nguồn thu lớn để thực hiện những
nhiệm vụ quan trọng trên phạm vi cả nước, đồng thời những nhiệm vụ nào ổn định
mang tính thường xuyên, có tính xã hội rộng phân cấp cho chính quyền địa
phương.
Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách. Đó là
quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách.
Nguyên tắc phân cấp NSNN
9
-
Phân cấp NSNN phải phù hợp với Hiến pháp, với Luật tổ chức HĐND và
UBND các cấp. Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp lý cho mỗi chính quyền về
quyền hạn trách nhiệm trong điều hành NSNN các cấp. Đồng thời phân cấp NSNN
phải đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa nguồn
thu và nhiệm vụ chi được giao.
Phân cấp NSNN phải đảm bảo tính hiệu quả. Nguyên tắc này yêu cầu phân
cấp NSNN không dẫn đến sự chia cắt nguồn thu ngân sách, làm suy yếu và phân
tán nguồn tài chính quốc gia. Phân cấp NSNN phải đảm bảo sự phối hợp đồng bộ
giữa các cấp trong hệ thống ngân sách để hướng vào phục vụ lợi ích chung của
quốc gia. Bên cạnh đó, phân cấp NSNN phải mang tính ổn định để tạo điều kiện
cho các cấp ngân sách chủ động khai thác và bồi dưỡng nguồn thu, tiến đến cân đối
tiền đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết
định mức độ động viên các khoản thu của NSNN.
Thu ngân sách nhà nước ảnh hưởng lớn đến tốc độ, chất lượng và tính bền
vững trong phát triển của một quốc gia. Trong cơ cấu thu, nguồn thu nội địa phải
luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Không thể nói đến sự phát triển bền vững nếu thu từ
ngoài nước (vay nợ, nhận viện trợ từ nước ngoài) và các khoản thu có liên quan
đến yếu tố bên ngoài (thuế nhập khẩu, tiền bán tài nguyên thiên nhiên ra bên ngoài
…) chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu.
Trong cơ cấu thu ngân sách của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế luôn
là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ
những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước. Nền kinh
tế quốc dân càng phát triển với tốc độ cao thì nguồn thu của nhà nước từ thuế
chiếm tỷ trọng càng lớn trong tổng thu NSNN. Thu NSNN bao gồm thuế, các
khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước, thu đóng góp của các
tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của
pháp luật.
1.2.1.3. Khái niệm quản lý thu ngân sách nhà nước
Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ
chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế
vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích SXKD phát triển. Đây là
khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách
11
nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách. Phần lớn các khoản thu
NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần
kinh tế phải tuân thủ thực hiện [2].
Trong việc quản lý các nguồn thu ngân sách, thuế là nguồn thu quan trọng
nhất. Thuế không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu NSNN hàng năm mà
còn là công cụ của nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Để phát huy tốt
điều tiết các hoạt động sản xuất của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập
của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự đóng góp đảm bảo công
bằng, hợp lý. Các nhà nước trong lịch sử đều sử dụng công cụ thuế để ổn định và phát
triển nền kinh tế,chống lại các hành vi kinh doanh phạm pháp.
Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn lực
tài chính cần thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN. Huy động các
nguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống thu dưới
bất kỳ chế độ nào, đó là đòi hỏi tất yếu của mọi nhà nước. Nhà nước muốn thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải có nguồn tài chính.
Nguồn tài chính mà Nhà nước có được đại bộ phận do quản lý tốt nguồn thu ngân
sách mang lại.
Thứ ba, quản lý thu NSNN là nhằm khai thác, phát hiện, tính toán chính xác
các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên được và cũng đồng thời
không ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu để có cơ chế tổ chức quản
lý hợp lý. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình tổ chức
quản lý kinh tế.
Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công bằng
giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong quá
trình SXKD. Với hình thức thu và mức thu thích hợp kèm với các chế độ miễn giảm
công bằng, thu NSNN có tác động trực tiếp đến quá trình SXKD của cơ sở. Với sự
tác động quản lý thu ngân sách sẽ góp phần tạo nên môi trường kinh tế thuận lợi đối
với quá trình SXKD. Đồng thời nó là công cụ quan trọng góp phần thực hiện chức
năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động SXKD của xã hội.
Thứ năm, quản lý thu ngân sách có vai trò tác động đến sản lượng và sản
lượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế. Việc tăng mức thuế quá mức thường
dẫn tới giảm sản lượng trong nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô của nền kinh tế.
13
Ngược lại, giảm mức thuế chung có xu thế làm tăng sản lượng cân bằng. Trong
phải bỏ ra cho công tác thu không nhỏ và đây cũng là địa chỉ của những sai phạm
14
trong việc chấp hành luật thuế như gian lận thương mại, trốn thuế, mua bán hóa
đơn… Còn đối với chi ngân sách thường thì xảy ra tình trạng mâu thuẫn giữa
nhiệm vụ chi được giao và nguồn để trang trải nhiệm vụ chi (thể hiện qua công tác
giao dự toán hàng năm), đôi khi tạo ra cảm giác không bình đẳng.
1.4.
Các tiêu chí cơ bản đánh giá hiệu quả và nhân tố ảnh hưởng tới thu
ngân sách
So sánh số thực hiện với dự toán tháng, quý, năm
(1)
Số tăng thu NS
(tháng, quý, năm)
=
Tổng số thực thu NS
(tháng, quý, năm)
-
Tổng thu NS theo dự toán
(tháng, quý, năm)
(2)
Tỷ lệ % thực hiện
1.5. Nội dung cơ bản về quản lý thu ngân sách nhà nước
1.5.1. Nội dung quản lý thu thuế
Quản lý thu thuế phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật. Quy trình xây dựng các biện pháp
quản lý thuế phải xuất phát từ các luật thuế, nằm trong khuôn khổ luật quy định.
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các biện pháp quản lý thuế của Nhà nước cũng phải
15
phù hợp với quy định chung về thuế của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam
là thành viên, nhất là sau khi chúng ta gia nhập WTO.
Thứ hai, nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ. Quy trình tổ chức và
quản lý thuế được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước cho các cơ quan thu và
cho các đối tượng nộp thuế là các pháp nhân hay thể nhân. Không cho phép cơ
quan thu được đặt ra bất cứ biệt lệ nào và cũng như có sự phân biệt đối xử giữa
những người nộp thuế trong quá trình hành thu thuế.
Thứ ba, nguyên tắc công bằng trong quản lý thuế. Đây là nguyên tắc cơ bản
của thuế, nghĩa là mọi công dân phải có nghĩa vụ vật chất với Nhà nước phù hợp
với khả năng tài chính của mình. Khi xây dựng biện pháp quản lý thuế phải quán
triệt nguyên tắc này nhằm động viên sức lực của toàn xã hội cho công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước; qua đó gắn kết nghĩa vụ, quyền lợi của các tổ chức và
công dân với nghĩa vụ và quyền lợi của quốc gia. Chỉ có như thế sự phát triển mới
mang tính chất cộng đồng và bền vững.
Thứ tư, nguyên tắc minh bạch. Các khâu trong quy trình quản lý thuế đối
với các đối tượng nộp thuế phải được công khai hóa. Công tác tuyên truyền, tư
vấn, giải thích quy trình quản lý thuế đến việc tổ chức thực hiện từng khâu trong
quy trình này đều phải rõ ràng, dễ hiểu, công khai. Hạn chế trường hợp đối tượng
nộp thuế thiếu thông tin về các quy định về thuế.
Thứ năm, nguyên tắc thuận tiện, tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý thuế.
Quản lý thuế là những biện pháp mang tính nghiệp vụ và hành chính pháp định.
khó khăn cho người nộp và cơ quan thuế.
+ Quy trình tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp thuế. Theo phương thức này các
đối tượng nộp thuế phải tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp vào kho bạc nhà nước và
phải chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác, trung thực của việc tự khai tự nộp
của mình. Cơ quan thuế sẽ chủ yếu tập trung vào công tác kiểm tra, thanh tra và
đôn đốc cũng như tư vấn cho đối tượng nộp thuế. Đây là phương thức tiên tiến
được nhiều nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới áp dụng, tạo nhiều thuận
lợi cho người nộp thuế cũng như cơ quan thuế,tiết kiệm được chi phí.
-Tổ chức thu nộp tiền thuế. Hình thức chủ yếu hiện nay là nộp trực tiếp vào kho
bạc nhà nước. Theo đó đối tượng nộp thuế sẽ nộp trực tiếp vào kho bạc nhà nước
dưới dạng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Để làm tốt công tác này cần có sự phối hợp
17
chặt chẽ giữa cơ quan thuế và kho bạc nhà nước để nắm bắt kịp thời tình tình hình
nộp thuế từ đó có biện pháp đôn đốc thu nộp kịp thời.
-Tổ chức thanh tra, kiểm tra về thuế. Đây là khâu tất yếu của quy trình quản lý
thuế. Mục tiêu chính của công tác này là đảm bảo thi hành pháp luật thuế nghiêm
minh từ cả phía đối tượng nộp thuế lẫn cơ quan thuế, giúp loại trừ mọi biểu hiện
gian lận thuế,trốn thuế và cả những nhũng nhiễu, tiêu cực của cán bộ thuế. Ngoài
ra khi đẩy mạnh việc thực hiện chế độ tự khai tự tính thuế, tự nộp càng phải củng
cố và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra.
1.5.2. Nội dung quản lý thu phí, lệ phí
Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN, tuy nhiên nếu
chỉ thu thuế thì chính phủ không đủ nguồn tài trợ cho nhiều hoạt động vốn rất đa
dạng của mình và cũng không thể buộc người dân sử dụng hàng hóa và dịch vụ
công theo cách thức có hiệu quả. Do đó phí, lệ phí đặt ra đối với những tổ chức và
cá nhân sử dụng hàng hóa hay dịch vụ công.
Phí thuộc NSNN là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải trả cho một
cơ quan nhà nước khi nhận được dịch vụ do cơ quan này cung cấp. Trong hoạt