Chủ trương của đảng cộng sản việt nam trong quan hệ với trung quốc từ năm 1975 đến năm 2001 - Pdf 35

đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

nguyễn thị mai hoa

chủ tr-ơng của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong quan hệ với trung quốc
từ năm 1975 đến năm 2001

luận án tiến sĩ lịch sử

Hà nội - 2007


đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

nguyễn thị mai hoa

chủ tr-ơng của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong quan hệ với trung quốc
từ năm 1975 đến năm 2001
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số

: 62 22 56 01

luận án tiến sĩ lịch sử

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đăng Tri



Ban Chấp hành Trung ương

CMDTDCND: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
CHND:

Cộng hòa nhân dân

CHXNCH:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CHDCND:

Cộng hòa dân chủ nhân dân

CNĐQ

Chủ nghĩa đế quốc

CNTB:

Chủ nghĩa tư bản

CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

DCCH:


XHCN:

Xã hội chủ nghĩa

NDT:

Nhân dân tệ

USD:

Đô la Mỹ

WB

Ngân hàng thế giới

WTO:

Tổ chức Thương mại thế giới


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ VỚI

16

99

TRIỂN QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1991 ĐẾN
NĂM 2001

3.1. Củng cố và thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc những năm 1991-1995

99

3.2. Tăng cường và phát triển quan hệ toàn diện với Trung Quốc những
năm 1995-2001

114

Chương 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

141

4.1. Nhận xét

141

4.2. Kinh nghiệm

164

KẾT LUẬN

200


triển của mỗi quốc gia. Những năm 1975 - 2001 cũng là thời gian mối quan hệ Việt
Nam - Trung Quốc diễn trong bối cảnh quốc tế phức tạp với những sự thay đổi cơ
bản trong xu thế của thời đại, những biến động to lớn trong các mối quan hệ quốc tế.
Hiện nay, Trung Quốc vừa là một nước lớn, vừa là nước láng giềng của
Việt Nam, đang phát triển với tốc độ cao và ổn định, có vị thế ngày càng cao trên
trường quốc tế. Trong hệ thống các quan hệ quốc tế của Việt Nam, Trung Quốc
là quốc gia có vị trí đặc biệt, thậm chí riêng biệt mà không quốc gia nào khác có
được. Đối tác này chiếm hầu hết các ưu tiên đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta:
Vừa là quốc gia láng giềng, quốc gia XHCN, quốc gia cùng khu vực (ưu tiên 1);
vừa là nước lớn (ưu tiên 2); vừa là nước bạn bè truyền thống (ưu tiên 3); vừa là
thành viên của phong trào cộng sản quốc tế (ưu tiên 4)... Có thể nói, đây là một
đối tác chiến lược đặc biệt của Việt Nam và việc không ngừng thúc đẩy, tăng
cường quan hệ với Trung Quốc là một nội dung rất quan trọng trong đường lối đối
ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

1


Ở thời điểm hiện tại, quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc vẫn đang tiếp
tục phát triển với cả những thành tựu và tồn tại. Do vậy, nghiên cứu quá trình
thực hiện quan hệ Việt Nam - Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN một
cách hệ thống, toàn diện là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc. Thông qua đó, một mặt, chúng ta có thể đánh giá được những thành tựu
cũng như hạn chế của đường lối đối ngoại mà ĐCSVN đề ra trong thời kỳ đất
nước quá độ tiến lên CNXH; góp phần tiếp tục đưa mối quan hệ Việt Nam Trung Quốc đi vào ổn định và phát triển ở hiện tại, phục vụ thiết thực lợi ích của
cả hai dân tộc, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xử lý quan hệ
với các nước lớn, các nước láng giềng, giúp chúng ta có thêm những cơ sở khoa
học để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương đối ngoại trong giai đoạn mới,
thúc đẩy sự hội nhập của Việt Nam vào khu vực, thế giới. Mặt khác, qua luận án,
cung cấp thêm một số tư liệu để góp phần khỏa lấp một khoảng trống vẫn tồn tại trong

giữa Việt Nam - Trung Quốc: "Quan hệ kinh tế - văn hóa Việt Nam - Trung
Quốc, hiện trạng và triển vọng" [227]; "Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Nhìn
lại 10 năm và triển vọng" [228]; "Tình hình đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào
Việt Nam" [220]; "Ảnh hưởng của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với quan
hệ kinh tế - thương mại Việt Nam - Trung Quốc" [243]...
Nội dung các công trình nêu trên chủ yếu đề cập đến mối quan hệ kinh tế thương mại, văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc sau khi hai nước chính thức
bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Các công trình đã có ưu điểm là tổng
kết được những số liệu cụ thể trong quan hệ kinh tế - thương mại, văn hóa và chỉ
ra những bước phát triển không ngừng trong những lĩnh vực hợp tác này. Tuy
nhiên, các bài nghiên cứu thiên về khẳng định các tác động tích cực của các lĩnh
vực hợp tác đối với sự phát triển của hai nước, đặc biệt là khu vực biên giới, còn
những bất cập trong hợp tác kinh tế - thương mại giữa hai nước, hay những thua thiệt
về phía Việt Nam như: Nạn buôn lậu, nhập siêu, vấn đề thanh toán… mới chỉ được đề
cập ở chừng mực nhất định.
- Các công trình nghiên cứu về an ninh và những vấn đề lãnh thổ, lãnh
hải: "Cuộc xung đột Trung Quốc - Việt Nam" [87]; "Tội ác chiến tranh của bọn
bành trướng Trung Quốc đối với Việt Nam" [293]; "Việt Nam một tiêu điểm của
chiến tranh tư tưởng phản cách mạng" [173]; "Từ góc độ Việt Nam, nghiên cứu phê
phán chính sách của Trung Quốc đối với các nước Đông Dương" [306]; "Hiệp định
phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam - Trung Quốc trong
vịnh Bắc Bộ" [219];"Đàm phán ký kết phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa và Hiệp định nghề cá trong vịnh Bắc Bộ" [277]; "Tranh chấp vùng
biển Việt Nam - Trung Quốc" [305]; "Hoàng Sa, Trường Sa" [273]... Ngoài ra, tạp

3


chí Lịch sử quân sự đã ra số đặc biệt - số tháng 6-1988 với các bài viết xung quanh
việc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau khi xảy ra cuộc gây chiến
của Trung Quốc với Việt Nam tháng 3-1988.



Các cơng trình của các nhà nghiên cứu nước ngồi
Đây là nguồn tài liệu hoặc bằng tiếng nước ngồi, hoặc đã được dịch ra
tiếng Việt, bao gồm những cơng trình nghiên cứu của các nhà sử học, các nhà
nghiên cứu Trung Quốc, Nga, Mỹ và các nước khác...
"Bỹồmớaỡck Pẽoởỵửốÿ, õóðợcỷ ũeốố ố ùðaũốờốố" (Cách mạng
Việt Nam - lý luận và thực tiễn) [363]; "Hõoồ ũồớọeớửốÿ õ õớúũðồớớeỡ
ðaỗõốũốố ố ỡồổọúớàðợọớỷừ ợũớợứồớốÿừ cũðàớ ũốừoaờeaớcờợóợ ỏaceộớa",
Những xu hướng mới trong sự phát triển nội tại và quan hệ quốc tế giữa các
nước châu Á - Thái Bình Dương) [364]; "èồổọúớàðợọớợồ ờợỡúớốũốữồủờợðàỏợữồồ ố ớàửốợớàở-ợủõợỏợọốũồởỹớợồ ọõốổồớốồ" (Phong trào cộng sản cơng nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc) [362]; "ðeccốÿ ùéờốớa
ùðợũốõ Bỹồmớaỡa" (Cuộc chinh phạt của Bắc Kinh chống Việt Nam) [352]....
"China’s Advances in the South China Sea" (Các bước tiến của Trung Quốc trên
biển Nam Trung Hoa) [345]; "The South China Sea Disputes: Implications of
China’s Earlier Territorial Settlements" (Những tranh cãi trên biển Nam Trung
Hoa: Sự can thiệp của Trung Quốc đối với vấn đề thoả thuận lãnh thổ) [346];
"China’s Involvement in the Vietnam War 1964-1969" (Sự tham gia của Trung
Quốc vào cuộc chiến tranh Việt Nam 1964-1969) [347]…. Các tạp chí tiếng
Anh: Foreign Affairs, Far Eastern Economic Review... Các tạp chí Trung
Quốc: Tạp chí Nghiên cứu Đơng Nam Á, tạp chí Nghiên cứu châu Á - Thái Bình
Dương, tạp chí Quốc phòng… Các tài liệu dịch: "Diễn biến quan hệ Trung Việt trong 40 năm qua" [118], "Mười năm chiến tranh Trung - Việt" [241],
sách "Chín lần xuất qn lớn của Trung Quốc" [240], "Quan hệ Trung - Việt sau
bình thường hố: Nhìn lại thời gian qua và triển vọng" [254, "Chủ quyền trên
hai quần đảo Hồng Sa và Trường Sa" [138], "Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ
Trung - Việt" [2]…
Khai thác nguồn tài liệu này, có thể thu nhận được những thơng tin q
báu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc và quan hệ đối ngoại của Trung Quốc
nói chung và với Việt Nam nói riêng ở thời kỳ hiện tại, trên quan điểm của
những nhà sử học nước ngồi. Có thể dẫn ra đây hàng loạt những tác giả và
cơng trình tiêu biểu theo hai nhóm: Các cơng trình của những nhà nghiên cứu người

không đặt vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Đặc biệt, hai tác giả Sa Lực, Mân Lực trong sách "Chín lần xuất quân
lớn của Trung Quốc" đã nhìn nhận những thời điểm quan hệ cách mạng hai nước
với khía cạnh "xuất quân" chinh phạt của Trung Quốc, đồng thời phủ định hoàn
toàn viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam, mục đích là để khẳng định vai trò quyết
định độc nhất của Trung Quốc trong việc ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam qua hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Song cũng cần nhận thấy rằng, đây là

6


công trình viết ra với ý đồ xuyên tạc sự thật, các số liệu, sự kiện, đánh giá không
sát thực tiễn lịch sử và cố tình không đi vào bản chất của vấn đề.
Một ấn phẩm rất đáng chú ý của tác giả Mân Lực là cuốn "Mười năm
chiến tranh Trung - Việt", do nhà xuất bản Đại học Tứ Xuyên xuất bản vào tháng
3-1993 và được Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng Việt Nam dịch vào tháng 2-1994.
Tác giả đã miêu tả những xung đột biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung
Quốc trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1989 dưới khía cạnh của một
cuộc chiến tranh mười năm đánh trả lại sự "xâm chiếm đất đai thường xuyên"
của "tiểu bá" Việt Nam. Diễn biến của "cuộc chiến tranh mười năm" đó được
chia ra thành những giai đoạn khác nhau, mà xuyên suốt toàn bộ nội dung các
giai đoạn là sự tuyên dương tinh thần chiến đấu "anh dũng" và "cảm tử" của Giải
phóng quân Trung Quốc, đồng thời, tác giả cũng hùng hồn cáo buộc cho "Việt
Nam "tiểu bá" theo "đại bá" Liên Xô thực hiện âm mưu bành trướng, bá quyền
đã làm tổn hại và phá vỡ tình hữu nghị Trung - Việt" [241, tr. 195]. Cùng mục
đích như cuốn "Chín lần xuất quân lớn của Trung Quốc", nên tất nhiên, phần lớn số
liệu, sự kiện, đánh giá, nhận định của tác giả Mân Lực thiếu chính xác, thiên lệch, nếu
không muốn nói là sai lệch và bị bóp méo.
Còn tác giả Hồ Tài - chuyên gia nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Trung
Quốc sau bình thường hóa, trong bài viết "Quan hệ Trung - Việt sau bình thường

cách cặn kẽ mưu đồ chiến lược của Trung Quốc thông qua cuộc chiến tranh,
phân tích âm mưu bành trướng, bá quyền của Trung Quốc đối với Việt Nam và
Đông Dương, chỉ ra rằng, với chính sách ấy, Trung Quốc đi vào con đường
chống lại hòa bình, hữu nghị và hợp tác quốc tế, chống lại chủ nghĩa quốc tế vô
sản và bộc lộ sự nguy hiểm của mình đối với cách mạng thế giới.
Đặc biệt đáng chú ý là cuốn "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa" của Giáo sư Monique Chemillier Gendereaur - Chủ tịch Hội luật gia
châu Âu. Đây là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập của một học giả
lớn, phân tích lập luận của các bên liên quan đến cuộc tranh chấp phức tạp này
dựa vào cơ chế giải quyết tranh chấp theo luật quốc tế, đặc biệt là Công ước về
Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc. Sau khi phân tích các bằng chứng cụ
thể của hai bên liên quan là Việt Nam và Trung Quốc, Giáo sư Monique
Chemillier Gendereaur đã khẳng định: "Khi có Hiệp ước bảo hộ của Pháp năm
1884, Việt Nam đã nắm giữ không có cạnh tranh và trong khoảng gần hai thế kỷ
một quyền (un dronit) đối với các quần đảo (Hoàng Sa, Trường Sa - TG) theo
đúng chế độ luật pháp của thời kỳ đó" [138, tr. 150] và "các quyền của Việt Nam
lâu đời hơn, vững chắc hơn, mặc dù các đòi hỏi của Trung Quốc đã được cụ thể hóa
nhờ vào việc chiếm đóng bằng vũ lực cách đây 39 năm đối với một bộ phần quần
đảo và cách đây 21 năm với bộ phận kia (so với năm 1996 - TG)" [138, tr. 152].
Tập thể tác giả Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A trong sách
"Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa" [134], khi lý giải những nguyên
nhân trong thái độ và chính sách của Trung Quốc trên biển Đông, không phải là
không có lý (tuy chưa có hình dung thật đầy đủ), khi đưa ra một trong những
nguyên nhân chính của tình trạng Trung Quốc hung hăng trên thế mạnh ở biển
Đông đối với Việt Nam là "kết quả của một đợt thủy triều dâng cao của chủ
nghĩa dân tộc có thể đã được sử dụng để thay thế chủ nghĩa xã hội như là một

9



Tóm lại, thu thập, phân tích nguồn tư liệu liên quan đến quan hệ Việt Nam Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001, có thể đưa ra những kết luận sau:
Thứ nhất, nguồn tư liệu liên quan đến quan hệ Việt Nam - Trung toát lên ba
khuynh hướng chính:
- Các công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam tương đối đang dạng,
phong phú, trình bày, lý giải nhiều vấn đề trong quan hệ Việt - Trung và bao
trùm các giai đoạn của mối quan hệ. Ngoài việc mô tả lịch sử, một trong những

11


trọng tâm nghiên cứu của các công trình này là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng
của dân tộc trong các bất đồng, tranh chấp với Trung Quốc.
- Công trình của các tác giả Trung Quốc chủ yếu nghiên cứu những mâu
thuẫn trong quan hệ hai nước, từ đó bào chữa cho những hành động xâm chiếm,
tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải của phía Trung Quốc, tìm nguyên nhân những mâu
thuẫn trong quan hệ hai nước ở từ phía Việt Nam.
- Công trình của các tác giả nước ngoài tập trung nghiên cứu những sự
kiện "không bình thường" trong quan hệ Việt - Trung và nhìn chung là dựa trên
thực tiễn lịch sử, cơ sở pháp lý, bằng cách đánh giá khách quan, chủ yếu bênh
vực cho lợi ích của Việt Nam trong các tranh chấp với Trung Quốc. Tuy nhiên,
cũng có những nhận định, đánh giá về một số sự kiện chưa thật chính xác, do
nhiều nguyên nhân.
Thứ hai, tất cả những công trình nói trên, ở những mức độ khác nhau, đã
giúp chúng tôi có một số tư liệu cần thiết để có thể hình thành một số hiểu biết
chung, soi rọi giúp tiếp cận, đi sâu nghiên cứu vấn đề.
Thứ ba, cũng cần nhận thấy rằng, có rất nhiều vấn đề chưa rõ ràng hoặc
phản ánh trái ngược sự thật lịch sử, mà khi nghiên cứu chúng tôi cố gắng xem
xét lại với định hướng đúng đắn, dựa trên việc khai thác thêm những tư liệu mới
và khái quát nó một cách đầy đủ hơn.
Thứ tư, nhìn chung, tất cả các công trình nói trên chỉ đi vào những khía cạnh

hai Nhà nước về ngoại giao nói chung, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc nói
riêng, cũng như các hiệp định, thư, điện, bài phát biểu của các nguyên thủ quốc
gia hai nước; các báo cáo, văn bản tiếp xúc của các cơ quan, phái đoàn hai nước;
các báo cáo của các bộ ngành hai nước... hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm
lưu trữ Quốc gia, Văn phòng lưu trữ Trung ương Đảng, Phòng lưu trữ của Bộ Ngoại
giao, Vụ Trung Quốc (Bộ Ngoại giao), Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng... là những
tài liệu gốc của luận án.
- Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, sách có liên quan do
các cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố như Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử
quân sự, Viện Sử học, Học viện quan hệ quốc tế... là nguồn tư liệu quan trọng.
- Các tư liệu, sách báo về lịch sử Việt Nam, Trung Quốc, lịch sử quan hệ
quốc tế, lịch sử phong trào cộng sản, phong trào công nhân thế giới... là nguồn tài liệu bổ
trợ dùng để làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
- Tài liệu thống kê của Tổng cục thống kê được sử dụng để làm rõ một
số nội dung có liên quan.

13


- Nguồn tư liệu từ phía Trung Quốc và các công trình của các nhà nghiên
cứu nước ngoài được khai thác, nhưng ở mức độ nhất định (do những khó khăn
chủ quan, khách quan của tác giả).
5. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các chủ trương do ĐCSVN đề ra
trong quan hệ với Trung Quốc; quá trình chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong
việc thực thi chủ trương ấy.
Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các chủ trương, các sự kiện chính, quan
trọng, có tính chất bản lề, những mốc lớn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

những trách nhiệm cũng như đóng góp của mỗi nước (đặc biệt là của ĐCSVN)
trong những bất đồng, thành tựu của quá khứ và hiện tại.
- Bước đầu đưa ra những đánh giá, nhận xét có cơ sở khoa học về thành
tựu, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, từ đó rút ra
một số kinh nghiệm chủ yếu.
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu hay phục vụ công tác
giảng dạy cho những môn học có liên quan
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm có
4 chương và 8 tiết:
Chương 1. Chủ trương của Đảng trong quan hệ với Trung Quốc từ năm
1975 đến năm 1986
Chương 2. Chủ trương tiến tới bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc
của Đảng những năm 1986-1991
Chương 3. Đảng chủ trương củng cố, thúc đẩy và phát triển quan hệ với
Trung Quốc từ năm 1991 đến năm 2001
Chương 4. Nhận xét và kinh nghiệm

15


Chương 1

CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1986
1.1. KHÁI QUÁT QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 1950- 1975 VÀ CHỦ
TRƢƠNG CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC NHỮNG NĂM 19751978

1.1.1. Khái quát quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 1950- 1975
Việt Nam, Trung Quốc là hai nước láng giềng vốn có mối quan hệ lâu

Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Trung Quốc là
nước trực tiếp viện trợ vũ khí, phương tiện chiến tranh, trang bị quân sự nhiều
nhất cho Việt Nam (xem thêm phụ lục 3). Trong điều kiện cuộc kháng chiến của
ta vô vàn khó khăn, thì viện trợ của Trung Quốc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Cần phải nhấn mạnh rằng, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam đều được dồn
vào hai thời điểm quan trọng, có tính chất bước ngoặt của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp: Năm 1950 - khai thông biên giới nước ta, nối liền với các
nước trong phe dân chủ; năm 1954 - chiến thắng Điện Biên Phủ, dẫn tới việc ký kết
Hiệp định Geneva lập lại hòa bình ở Đông Dương và giải phóng miền Bắc Việt Nam.
Điều đó càng làm tăng thêm ý nghĩa viện trợ của Trung Quốc đối với chúng ta.
Tuy nhiên, sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt Nam không phải là sự
giúp đỡ một chiều. Đầu năm 1948, quân Tưởng Giới Thạch câu kết với quân Pháp
tổ chức đánh phá khu căn cứ cách mạng Trung Quốc ở Tĩnh Tây. Khi Trung Quốc
đề nghị ĐCS Đông Dương và Chính phủ Việt Nam giúp đỡ phối hợp chiến đấu
chống quân Tưởng, thì Việt Nam đã lập tức chấp nhận, đáp ứng mọi yêu cầu,
mặc dù lúc đó ta còn rất nghèo và thiếu thốn. Theo yêu cầu khẩn thiết của các bạn
Trung Quốc, với tinh thần "cứu Trung Quốc cũng là tự cứu mình" [185, tr. 38], quân
dân Việt Nam đã giúp bạn về mọi phương diện, nhất là gạo, muối, vũ khí và tài
chính(1).
Đầu năm 1949, trước sức tiến công như vũ bão của Quân giải phóng
Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch cố dồn lực lượng giữ lấy miền Hoa Nam. Các
khu căn cứ của bạn sát biên giới Việt - Trung gặp nhiều khó khăn. Tháng 31949, ĐCSTQ cử đồng chí Sầm Minh Coóng, Chính ủy Bộ Tư lệnh Biên khu
Việt Quế sang gặp Trung ương ĐCS Đông Dương đề nghị đưa bộ đội sang giúp
xây dựng, củng cố Biên khu Điền Quế, Việt Quế, chuẩn bị thời cơ đón chủ lực
Quân giải phóng Trung Quốc tiến xuống Hoa Nam. Mặc dù lúc bấy giờ cuộc
kháng chiến chống Pháp của ta còn nhiều gay go và đang trong giai đoạn quyết
Từ tháng 1-1948 đến cuối năm 1948, mỗi tháng Việt Nam gửi giúp riêng quân, dân Biên khu Điền Quế 50
tấn muối, hàng chục tấn gạo và một số lượng đáng kể đạn cối 81 ly, đạn AT... là những thứ mà Quân giải
phóng Trung Quốc lúc đó rất cần [140, tr. 3]. Trong những năm 1948-1949, căn cứ địa Việt Bắc trở thành nơi
ém quân của Quân giải phóng Trung Quốc. Họ được cung cấp lương thực, thực phẩm và muối. Ngành tài

của nhân dân Việt Nam thắng lợi đã góp phần nâng cao vị trí và uy tín của Trung
Quốc trên trường quốc tế. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là mối quan hệ ủng
hộ, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, vì Việt Nam độc lập có nghĩa là Trung Quốc
không bị uy hiếp bởi CNĐQ từ phía Nam. Ngược lại, Trung Quốc được giải
phóng có nghĩa là Việt Nam tránh được sự đe dọa của CNĐQ từ phía Bắc.
Sau khi Việt Nam có hòa bình trên nửa đất nước (1954), để mở rộng ảnh
hưởng, chuẩn bị cho việc tiếp xúc và hòa hoãn với Mỹ (nhất là trong điều kiện quan
Sau khi giải phóng vùng đất này, bộ đội Việt Nam đã chuyển giao cho bạn vũ khí thu được gồm hơn
500 khẩu súng các loại [139, tr. 349].
(1)

18


hệ Liên Xô - Trung Quốc đang có những bất đồng, mâu thuẫn gay gắt), Trung Quốc
tiếp tục tích cực giúp đỡ chúng ta hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và phát
triển kinh tế (xem thêm phụ lục 3). Sau sự kiện Chính phủ nước CHND Trung Hoa
chính thức công nhận Chính phủ nước Việt Nam DCCH, quan hệ kinh tế giữa hai
nước cũng bắt đầu được mở ra (xem thêm phụ lục 3). Giai đoạn này, trong quan hệ
kinh tế chính thức giữa Việt Nam và Trung Quốc, chủ yếu là phía Việt Nam nhận
viện trợ, còn nếu có buôn bán qua lại thì cũng trên cơ sở hưởng những ưu đãi phi
kinh tế.
Trong lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc đã viện trợ kinh tế, kỹ thuật, cung
cấp các thiết bị, xây dựng các cơ sở sản xuất công - nông nghiệp, các cơ sở đào
tạo... cho Việt Nam (xem thêm phụ lục 3). Để tạo điều kiện thuận lợi cho giao
thông liên lạc, trao đổi hàng hóa giữa hai nước và các nước XHCN khác, Trung
Quốc giúp ta xây dựng các cầu đường (xem thêm phụ lục 3), nối liền giao thông
giữa Việt Nam với Trung Quốc và phe XHCN.
Trung Quốc cũng gửi chuyên gia của mình sang giúp Việt Nam trong
hầu hết các ngành kinh tế, tiếp nhận cán bộ, công nhân Việt Nam sang Trung Quốc

1966 đến đầu năm 1969, một số chi đội phòng không của quân đội Trung Quốc
đã luân phiên nhau sang tham gia chiến đấu chống máy bay Mỹ, bảo vệ các tỉnh
phía Bắc, bảo vệ lực lượng công binh đang mở đường và hành lang biên giới vào
các cửa khẩu, nơi tập kết, chuyên chở hàng hóa (xem thêm phụ lục 3). Ngoài ra,
Trung Quốc cũng tích cực viện trợ cho ta về kinh tế, kỹ thuật (xem thêm phụ lục
3).
Ngoài viện trợ kinh tế, Trung Quốc còn nhận đào tạo cán bộ, công nhân cho
Việt Nam (xem thêm phụ lục 3). Trung Quốc cũng cử chuyên gia giúp Việt Nam
trong các ngành kinh tế (xem thêm phụ lục 3). Ngoài sự giúp đỡ của Trung ương,
4 tỉnh biên giới của Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hồ Nam)
đã ký giúp đỡ 7 tỉnh biên giới của Việt Nam về các mặt nông nghiệp, giao thông,
công nghiệp....
Cũng cần nhận thấy một điều rằng, do còn ngại chiến tranh tiếp diễn nên
Trung Quốc không muốn giúp đỡ quy mô lớn và có ý đi chậm trọng một số công
trình trọng điểm. Mặt khác, Trung Quốc luôn thuyết phục ta nhận người của
mình trực tiếp giúp Việt Nam xây dựng. Có lẽ ở đây, cũng cần nhận thấy những
mục đích lâu dài của Trung Quốc ẩn sau hành động này.
Khối lượng vật chất phục vụ chiến tranh mà Trung Quốc giành cho cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam được nhân dân Việt
(1) Việt Nam và Trung Quốc đã ký hai Hiệp bđịnh về hỗ trợ, chi viện cho nhau khi có chiến tranh lớn xảy
ra (ký vào tháng 7-1963 và được Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phê chuẩn vào ngày
7-9-1963; Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê chuẩn ngày 7-11-1963).

20


Nam sử dụng hiệu quả trong các hoạt động tác chiến trên chiến trường, góp phần
từng bước đưa lực lượng và phong trào cách mạng miền Nam phát triển cả về
lượng, về chất, từng bước đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status