TIỆU LUẬN CHUYÊN ĐỀ - MÔN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng
trong tăng trưởng phát triển kinh tế. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với
90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ
thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hoá
- hiện đại hoá, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực cho xã hội phát triển.
So với thời kỳ trước đây, diện mạo đất nước có nhiều đổi thay, kinh tế
duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập
trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu
cầu và động lực phát triển cho tất cả những lĩnh vực của đời sống xã hội, đội
ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để
thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để đạt được những
thành tự đó, Nhà nước bằng các biện pháp hay chính sách của mình đã trực tiếp
hay gián tiếp tác động đến nền kinh tế theo một định hướng chunh nhưng vẫn
đảm bảo được tính tự do, phát triển bền vững và động lực tạo cho sự phát triển.
Để khuyến khích đầu tư phát triển , ngoài quan điểm khuyến khích phát
triển sản xuất - kinh doanh, nhà nước còn sử dụng hệ thống các công cụ chính
sách , tạo điều kiện và môi trường khuyến khích đầu tư. Việc quản lí kinh tế vĩ
mô với hệ thống luật lệ, thể chế ổn định, kiềm chế lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ
giá hợp lý ở mức cho phép, cải cách thủ tục hành chính.....là những điều kiện
quan trọng khuyến khích các nguồn lực đầu tư phát triển. Bằng hệ thống sách
công cụ, Nhà nước có thể khuyến khích đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, vùng
cần thiết thông qua các công cụ thuế, tín dụng, giá đất đai, tỷ giá, chính sách bảo
hộ có chọn lọc và có thời hạn để phát triển những ngành công nghiệp non trẻ.
Bên cạnh hệ thống chính sách đầu tư, nhà nước còn có cơ chế chính sách khuyến
khích đầu tư để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Đảng ta đã khẳng định rằng,
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là vấn đề chiếm được lâu dài, b ình
đẳng giữa các thành phần kinh tế các loại hình sản xuất kinh doanh, tạo điều
kiện cho cac chủ đầu tư tham gia tạo điều kiện cho các chủ đầu tư tham gia tự do
đạt được có thể à sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí
tuệ và nguồn lực.
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai
lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Từ đây, khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các
nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản
xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi
ích kinh tế xã hội.
2. Khái niệm chính sách đầu tư:
Chính sách đầu tư là hệ thống những quan điểm, những biện pháp mà nhà
nước sử dụng các công cụ, đòn bảy kinh tế tác động vào các hoạt động đầu tư
của các chủ thể nhằm định hướng hoạt động, bảo đảm sự tăng trưởng và hiệu
quả cao cho nền kinh tế trong từng thời kỳ. Nói cách khác, chính sách đầu tư là
hệ thống chính sách khuyến khích và bảo đảm đầu tư của nhà nước đối với các
chủ thể tham gia đầu tư. Đậy là hệ thống đồng bộ từ quan điểm chiến lược, cơ
Học viên: Vũ Thị Thanh Thảo - Lớp 15M-LKT44
Trang 3
TIỆU LUẬN CHUYÊN ĐỀ - MÔN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ
chế chính sách tạo môi trường thuận lợi bình đẳng cho hoạt động đầu tư. Chính
sách đầu tư bao gồm các chính sách về tích lũy tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư,
chính sách tạo vốn và sử dụng vốn.
3. Một số quan điểm cần quán triệt trong chính sách đầu tư:
Việc hoạch định xem xét duyệt dự án đầu tư nhằm hoạt động sử dụng có
hiệu quả tiềm năng, nguồn lực của nền kinh tế, nhất là tài nguyên và lực lượng
lao động. Phải bảo đảm tính hợp lý trong cơ cấu đầu tư (về quy mô, v ề tổ chức),
sức cạnh tranh lành mạnh. Tiếp tục tăng cường đầu tư của nhà nước và khuyến
khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội.
Hai là, phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo quy chế "một
cửa". Coi trọng việc điều hành vĩ mô của nhà nước nhằm tiếp tục duy trì được
môi trường tài chính tiền tệ, giá cả lạm phát thị trường ổn định. Từng bước điều
chỉnh giá hàng hoá dịch vụ do nhà nước định giá xuống ngang bằng các nước
khu vực, xây dựng cơ chế quản lý, kiểm soát các mặt hàng độc quyền, cơ chế
chống bán phá giá và cơ chế kiểm soát việc chuyển giá nội bộ trong doanh
nghiệp để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh theo chiều hướng đổi mới
mang tính cách mạng trong nhận thức, tư duy, cách làm việc của hệ thống các cơ
quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, công chức, các chủ doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế của từng người có sức lao động, có tiền tiết kiệm, có
vốn, có taìu sản,...
Ba là, đa dạng hoá các kênh và hình thức động viên nguồn lực cho đầu tư
phát triển kinh tế xã hội, tập trung tăng tỉ lệ động viên từ các nguồn thu, thúc
đẩy cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Đối với khu vực kinh tế tập thể,
cần nhanh chóng xoá bỏ mọi sự phâ biệt đối xử. Coi trọng hỗ trợ về tài chính để
đầu tư giống mới, chuyển giao các kỹ thuật khuyến nông khuyến lâm, khuyến
ngư, đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ xuất khẩu, đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng(thuỷ sản, làng nghề, chợ đầu mối). Đối với khu vực kinh tế tư nhân , rà soát
xoá bỏ mọi phân biệt đối xử trong các quan hệ tài chính, tín dụng, giá thuê đất,
đơn giản hoá thủ tục hành chính trong thành lập doanh nghiệp. Nhà nước tạo
mội trường thuận lợi để thành phần kinh tế này phát huy cao độ các nguồn lực
trong nhân dân để đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh ở mọi ngành nghề mà
pháp luật không cấm. Sớm nghiên cứu ban hành cơ chế tài chính đối với doanh
nghiệp dân doanh. Đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: tiếp tục
hoàn thiện môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và ổn định chính sách.
Học viên: Vũ Thị Thanh Thảo - Lớp 15M-LKT44
1. Những nội dung cơ bản của chính sách Đầu tư:
Học viên: Vũ Thị Thanh Thảo - Lớp 15M-LKT44
Trang 6
TIỆU LUẬN CHUYÊN ĐỀ - MÔN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ
Theo quy định tại Điều 5 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 đã được Quốc
hội khóa XIII thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày
1/7/2015 thì Nhà nước áp dụng các chính sách đầu tư như sau:
1.1. Nhà nước đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh
trong các ngành, nghề mà Luật đầu tư không cấm.
Để tạo tính rõ ràng và minh bạch cho chính sách này, Luật Đầu tư số
67/2014/QH13 đã quy định những ngành nghề kinh doanh bị cấm kinh doanh
(Điều 6) và những ngành nghề kinh doanh có điều kiện (Điều 7). Về các điều
kiện đầu tư kinh doanh áp dụng đối với những ngành nghề đầu tư kinh doanh có
điều kiện, để tránh sự lạm quyền trong thực thi, luật đã quy định một số điều
kiện như sau:
+ Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề kinh doanh có điều
kiện được quy định tại các luật, phaá lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không
được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh.
+ Điều kiện đầu tư kinh doanh phải được quy định phù hợp với mục tiêu
quy định và phải bảo đảm côgn khai, minh bạch, khách quan, tiết kiệm thời gian,
chi phí tuân thủ của nhà đầu tư.
+ Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh
doanh đối với ngành, nghề đó phải được đăng tải trên Cổng thông tin đăng lý
+ Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh;
+ Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.
1.4 Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến
khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh
doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế.
1.5 Nhà nước tôn trọng và thực hiện các điều uớc quốc tế liên quan đến
đầu tư kinh doanh mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trong thực tiễn các điều ước quốc tế mà Việt Nam được là thành viên tôn
trọng và thực hiện nghiêm túc. Trong tất cả các văn bản luật đều quy định
trường hợp mà các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định
khác thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế đó.
2. Vai trò của Chính sách đầu tư với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chính sách đầu tư là hệ thống những quan điểm, những biện pháp mà nhà
nước sử dụng các công cụ, đòn bẩy kinh tế tác động vào các hoạt động đầu tư
Học viên: Vũ Thị Thanh Thảo - Lớp 15M-LKT44
Trang 8
TIỆU LUẬN CHUYÊN ĐỀ - MÔN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ
của chủ thể nhằm khẳng định hướng hoạt động, đảm bảo sự tăng trưởng và hiệu
quả cao cho nền kinh tế trong từng thời kỳ. Nói cách khác, chính sách đầu tư là
hệ thống chính sách khuyến khích và bảo đảm đầu tư của nhà nước đối với các
chủ thể tham dự. Chính sách khuyến khích đầu tư có vị trí quan trọng đối với
tăng trưởng kinh tế, trong tình hình đất nước ta hiện nay vấn đề quyết định mọi
sự tăng trưởng và quyết định sự phát triển KT-XH chính là giả quyết vấn đề đầu
tư. Đây là hệ thống đồng bộ từ quan điểm chiến lược, cơ chế chính sách tạo môi
trường thuận lợi bình đẳng cho hoạt động đầu tư. Chính sách đầu tư bao gồm
các chính sách về tích luỹ tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư, chính sách tạo vôố và
những biện pháp khuyến khích đầu tư, hấp dẫn, tin cậy phải bảo đảm tính ổn
định và lành mạnh hoá môi trường chính trị xã hội.
Năm 1988, Đảng và nhà nước ta ban hành Luật đầu tư, đặc biệt khuyến
khích nguồn đầu tư nước ngoài đã có phát triển mạnh mẽ đối với những việc
này, xác định chính sách khuyến khích đầu tử trược tiếp của nước ngoài đã trở
thành một nguồn lực quan trọng góp phần đẩy mạnh động lực tăng trưởng kinh
tế của nước ta. Sonh đó, luật khuyến khích đầu tư trong nước 1988 đã huy động
được vốn tìm ẩn, khả năng quản lý trong dân và phát triển KT-XH làm cho sản
xuất phát triển thoả mãn nhu cầu về trật tự, hàng hoá cho sản xuất và sản phẩm
tiêu dùng của nhân dân. Mặt khác, nhằm khuyến khích đầu tưphát triển, nhà
nước đồng thời sử dụng hệ thống chính sách công cụ như: để ổn định kinh tế vĩ
mô là việc xây dựng hệ thống luật lệ thể chế ổn định, tạo một hành lang pháp lý
vững vàng, bình đẳng cho mọi đối tượng tham gia, kiềm chế nạm lạm phaá mất
giá đồng tiền gây ra tai nạm lợi nhuận ảo trong sản xuất kinh doanh, giảm tỷ lệ
thất nghiệp lãng phí nguồn nhân lực lao động cũng là nguyên nhân chính gây ra
các tệ nạn xã hội, bảo đảm một tỷ giá hợp lý ở mức cho phép, cải cáh thụ tục
hành chính công khai hoá quy trình và giảm thủ tục là nguyên nhân gây nhiều
phiền hà, khó khăn tạo tâm lý ngán ngại đầu tư cho các đối tượng tham gia đầu
tư. Qua các công cụ này nhà nước có thể khuyến khích đầu tư vào những ngành,
lĩnh vực, vùng cần thiết thông qua, các công cụ điều chỉnh mức thuế, tín dụng,
giá đất đai, chính sách bảo hộ có chọn lọc và có thời gian để phát triển những
ngành công nghiệp nao trẻ. Qua các Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng ta xác định
sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là vấn đề chiến lược lâu dài,
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế các loại hình sản xuất kinh doanh, tạo
điều kiện cho các chủ đầu tư tham gia tự do, làm ăn công khai hợp pháp... Đây
Học viên: Vũ Thị Thanh Thảo - Lớp 15M-LKT44
Trang 10
tỷ xuất cho vay thường cao, hoặc vay có các điều kiện kèm theo.
Học viên: Vũ Thị Thanh Thảo - Lớp 15M-LKT44
Trang 11
TIỆU LUẬN CHUYÊN ĐỀ - MÔN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ
Hiện các nguồn vốn vay từ DOA đang chựng lại, do vây Đaản và Nahd
nước ta đang có xu hướng khuyến khích vay từ nguồn FDI. Từ những nguồn
vốn vay này nhằm phát triển, mở rộng thị trường, đổi mới công nghệ, có thêm
nguồn lựuc và kinh nghiệm quản lý, nhằm chuẩn bị tốt cho qúa trình hội nhập,
Mặt khác, nhằm để nâng cao khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả việc đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài, khả năng huy động phải đặt trong mối tương quan
trogn việc sử dụng nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đi vay, phải cải thiện
môi trường đầu tư đi đôi với các biện pháp khuyếch trương đầu tư thồn qua các
ưu đãi về đầu tư như: miễn giảm thuế, ưu đãi về tín dụng, giải thủ tục hành
chính.
Học viên: Vũ Thị Thanh Thảo - Lớp 15M-LKT44
Trang 12
TIỆU LUẬN CHUYÊN ĐỀ - MÔN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ
KẾT LUẬN
Sau hai chương trên, hẳn chúng ta đã có một cái nhìn khá toàn diện về
những nội dung cơ bản của chính sách đầu tư cũng như vai trò của những chính