LUẬN VĂN Chính sách và pháp luật về bồi thường khi giải phóng mặt bằng - Pdf 42

Header Page 1 of 146.

LUẬN VĂN
“Chính sách và pháp luật về bồi thường khi
giải phóng mặt bằng”

Footer Page 1 of 146.


Header Page 2 of 146.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH BỒI
THƯỜNG VỀ ĐẤT KHI GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
1.1. Khái quát chung về giải phóng mặt bằng
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Ý nghĩa
1.1.3. Vai trò của công tác giải phóng mặt bằng trong việc
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2. Tổng quan về chính sách bồi thường
1.2.1. Cơ sở lý luận về bồi thường
1.2.2. Bản chất của việc bồi thường
1.2.3. Chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi
đất ở Việt nam qua các thời kỳ
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG
KHI GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
2.1. Cơ sở pháp lý về bồi thường giải phóng mặt bằng
2.2. Đối tượng được bồi thường
2.3. Nguyên tắc bồi thường
2.4. Điều kiện để được bồi thường
2.4.1. Điều kiện bồi thường của Hộ gia đình, cá nhân.

quan trực tiếp đến các bên tham gia và của toàn xã hội.
1.1.2. Ý nghĩa
Trong điều kiện nước ta hiện nay, “Giải phóng mặt bằng”
là một trong những công việc quan trọng phải làm trên con
đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sự cần thiết
triển khai xây dựng nhiều công trình cơ sở hạ tầng, nhiều khu
kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, theo đó các cơ
sở văn hoá giáo dục, thể dục thể thao cũng đuợc phát triển,
tốc độ đô thị hoá cũng diễn ra nhanh chóng.
Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định tiến độ
của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án. Có thể nói:
“Giải phóng mặt bằng nhanh là một nửa dự án”. Việc làm này
không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của
Footer Page 3 of 146.


Header Page 4 of 146.

chủ đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất cũng như
tinh thần của người bị thu hồi đất.
1.1.3. Vai trò của công tác giải phóng mặt bằng trong việc
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
 Đối với sự phát triển cơ sở hạ tầng
Ở mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế xã hội có một sự
phát triển thích ứng của hạ tầng kinh tế xã hội. Với tư cách là
phương tiện vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế xã hội lại trở
thành lực lượng sản xuất quyết định đến sự phát triển của nền
kinh tế xã hội mà trong đó giải phóng mặt bằng là điều kiện
tiên quyết để dự án có được triển khai hay không.
- Về mặt tiến độ hoàn thành của dự án

tốt sẽ xảy ra hiện tượng “treo” công trình làm cho chất lượng
công trình bị giảm, các mục tiêu ban đầu không thực hiện
được, từ đó gây lãng phí rất lớn cho ngân sách Nhà nước. Mặt
khác, khi giải quyết không thoả đáng quyền, lợi ích hợp pháp
của người có đất bị thu hồi sẽ dễ dàng nỗ ra những khiếu kiện,
đặc biệt là những khiếu kiện tập thể, làm cho tình hình chính
trị - xã hội mất ổn định.
1.2. Tổng quan về chính sách bồi thường
1.2.1. Cơ sở lý luận về bồi thường
Khi các công trình được xây dựng nhằm phục vụ cho mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia
được triển khai thì Nhà nước cần phải có mặt bằng để thực
hiện dự án. Thế nhưng đất đai thuộc sở hữu toàn dân, với tư
cách là người quản lý, nhằm đảm bảo được lợi ích của Nhà
nước, lợi ích của nhân dân, khi đó Nhà nước sẽ ra quyết định
thu hồi quyền sử dụng đất của người dân hoặc đất được Nhà
nước giao quản lý.
Theo điều 4, Luật đất đai năm 2003 “Thu hồi đất là việc
Nhà nước ra quyết định hành chính để thu hồi quyền sử dụng
đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn quản lý”.
Việc xây dựng những khu công nghiệp cho mục tiêu phát
triển kinh tế, những con đường quốc gia để phục vụ lợi ích
chung là rất cần thiết nhưng không vì thế mà phải hy sinh
quyền lợi của những cá nhân, những nhóm người. Do đó, khi
quyền sử dụng đất của người dân bị thu hồi thì Nhà nước sẽ
bồi thường thiệt hại.

Footer Page 5 of 146.


mặt bằng, người dân phải di chuyển chỗ ở và kéo theo đó là
những khó khăn mà họ sẽ, gặp phải trong cuộc sống hiện tại
cũng như tương lai. không có chỗ ở ổn định thì con người sẽ
không có điều kiện tốt nhất cho việc học tập, lao động, nghiên
cứu khoa hoc…

Footer Page 6 of 146.


Header Page 7 of 146.

Bài học của một số nước phát triển cho ta cách nhìn mới,
đó là bên cạnh những công sở nguy nga tráng lệ, những cao
ốc trọc trời là những khu nhà “ổ chuột” của dân lao động –
công bằng và dân chủ không thể chỉ thông qua việc hô hào mà
thực tế lại không thực hiện.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Chúng ta không thể chỉ có những đô thị đẹp,
hiện đại, những khu chế xuất khổng lồ, những công trình công
cộng khang trang mà kèm theo đó chỗ ở của người dân phải
được nâng cấp tiện nghi hơn, rộng rãi hơn… Chính vì vậy
phải tính một cách toàn diện, không thể có một hiện tượng
một công trình mới ra đời lại kéo theo những người dân
không có chỗ ở hoặc chỗ ở kém hơn nơi ở cũ.
Nếu không nhìn rõ bản chất vấn đề, mỗi năm chúng ta có
hàng ngàn dự án cần giải phóng mặt bằng, mỗi dự án chỉ kéo
theo một gia đình không có chỗ ở thì đã có hàng ngàn gia
đình thiếu chỗ ở hoặc chỗ ở tạm bợ. Như vậy là sự phát triển
sẽ thiên lệch, lợi ích của quốc gia, lợi công cộng không hài
hoà với lợi ích cá nhân, gia đình. Từ đó mục tiêu lớn của quốc

Sau cách mạng tháng tám thành công chúng ta tiến hành
xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập
quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân. Hiến pháp năm 1959,
Nhà nước thừa nhận ba hình thức sở hữu đất đai bao gồm sở
hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể. Khi tiến
hành thu hồi đất Nhà nước tiến hành điều chỉnh ruộng đất
hoặc nhượng lai ruộng đất cho người bị trưng dụng sẽ được
đền bù từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng được
trưng dụng. Thực tế trong thời kỳ này phương án bồi thường
chủ yếu là thoả thuận sau đó thống nhất giá mà không cần có
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hay ban hành giá
bồi thường.
 Thời kỳ sau năm 1975 đến trước sự ra đời Luật đất
đai năm 1993
Trên cơ sở hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở
hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Vì vậy việc
thực hiện đền bù về đất không được thực hiện mà chỉ thực
hiện đền bù tài sản gắn liền với đất hoặc những thiệt hại do
việc thu hồi đất gây nên.Ngày 01/07/1980 hội đồng chính phủ
ra quyết định 201/CP về việc: không được phát canh thu tô,
cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất với bất kỳ hình thức
nào, không được dùng để thu những khoản lợi nhuận không
Footer Page 8 of 146.


Header Page 9 of 146.

do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định”.
Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giaothu” giữa Nhà nước và người sử dụng.
Ngày 31/5/1990, hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị định



Header Page 10 of 146.

thường của nghị định này vẫn còn rất nhiều hạn chế, chưa bù
đắp một cách đầy đủ những thiệt hại gây ra từ việc thu hồi đất
, chỉ bồi thường thiệt hại về đất và bồi thường thiệt hại về tài
sản, cho nên người bị thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn,
không đủ khả năng tái tạo lại cuộc sống so với trước khi bị
thu hồi, quyền và nghĩa vụ của họ chưa được quan tâm nột
cách đầy đủ. Đến năm 1998 Chính phủ ban hành nghị định số
22/1998 ngày 24/4/1998 để thay thế Nghị định 90/CP, chính
sách bồi thường đã thay đổi có sự mở rộng phạm vi bồi
thường để bù đắp một phần nào đó cho người bị thu hồi đất
nhưng vẫn chưa đảm bảo hết thiệt hại. Đặc biệt với sự ra đời
của Luật đất đai năm 2003 đã khắc phục được những thiếu sót
trong công tác bồi thường. Trong đó có những quy định cụ thể
về việc tính bồi thường về đất, điều kiện nơi tái định cư đối
với các trường hợp được áp dụng cơ chế chuyển đổi đất đai
bắt buộc.
Trong suốt thời gian này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều
văn bản duới Luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản
pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều
luật, trong đó có những quy định chi tiết về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất để giải phóng măt bằng, cụ thể như:
- Nghị định của chính phủ số 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 về thi hành Luật đất đai.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư 116/2004/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày

cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Footer Page 11 of 146.


Header Page 12 of 146.

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG
KHI GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
2.1. Cơ sở pháp lý về bồi thường giải phóng mặt bằng
Sau một thời gian dài thực hiện Luật đất đai 1993 đã thấy
những thiếu sót, những khó khăn về phạm vi bồi thường, nên
đến Luật đất đai 2003 và cùng với đó Chính phủ ban hành
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 đã khắc
phục được những thiếu sót, khó khăn trên.
Hiện nay cùng với Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định
181/2004/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP là sự ra đời của
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính
phủ, trong đó công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đã có
nhiều thay đổi khi UBND cấp tỉnh có dự án được thoả thuận
với người dân về mức bồi thường. Qua đó kéo gần thêm
khoảng cách giữa chủ đầu tư với người có đất bị thu hồi, hạn
chế những “dự án treo” trên giấy mà nguyên nhân chủ yếu là
việc bồi thường giải phóng mặt bằng gặp khó khăn.
2.2. Đối tượng được bồi thường
- Đối tượng được áp dụng bồi thường bao gồm tổ chức,
cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong
nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân
Footer Page 12 of 146.

- Công bằng: trong cùng một thời điểm, theo yêu cầu tiến
độ giải phóng mặt, vị trí như nhau thì được bồi thường như
nhau.
- Công khai: niêm yết công khai phương án bồi thường tại
trụ sở UBND cấp xã và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư cá
người bị thu hồi đất và người có liên quan tham gia ý kiến.

Footer Page 13 of 146.


Header Page 14 of 146.

* Nguyên tắc đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, lợi ích
của người sử dụng đất và của chủ đầu tư.
- Nhà nước là người vừa quyết định chính sách bồi thường
vừa là người đưa ra các biện pháp xử lý hài hoà lợi ích người
đang sử dụng đất với lợi ích nhà đầu tư khi thực hiện các quy
hoạch.
- Người sử dụng đất hợp pháp khi Nhà nước thu hồi đất sử
dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng, phát triển kinh tế thì Nhà nước phải đảm bảo
lợi ích cho người bị thu hồi đất một cách thoả đáng theo quy
định của pháp luật.
- Nhà đầu tư: để khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào
đầu tư phát triển, nhưng trong quá trình thu hồi đất nhà đầu tư
không thoả thuận được với người dân thì Nhà nước có thể can
thiệp vào việc thỏa thuận này sao cho giữa nhà đầu tư và
người dân đều có lợi, không gây thiệt hại cho người bị thu hồi
đất, không kéo dài thời gian cho chủ đầu tư.
 Nhóm các nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động riêng

tiền thuê đất đối với đất Nhà nước cho thuê, thuế thu nhập từ
chuyển quyền sử dụng đất các thửa đất khác của người có đất
bị thu hồi (nếu có), tiền thu xừ phạt vi phạm pháp luật về đất
đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong
quản lý và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong sử dụng đất
đai.
+ Trường hợp người sử dụng đất mà chưa thực hiện nghĩa
vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của
pháp luật thì phải trừ khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài
chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân
sách Nhà nước. Nhưng các khoản nghĩa vụ tài chính về đất
đai phải nộp lớn hơn hoặc bằng tiền bồi thường thì số tiền
được trừ tối đa bằng tiền bồi thường.
- Tài sản gắn liền với đất thuộc đối tượng được bồi thường,
khi tiến hành thu mà bị thiệt hại phải được bồi thường.
2.4. Điều kiện để được bồi thường
Không phải trường hợp thu hồi đất nào thì người sử dụng
đất cũng được bồi thường, mà người bị thu hồi đất phải thoả
mãn một trong các điều kiện luật định thì mới được bồi
thường, các đối tượng khác nhau thì sẽ có những điều kiện

Footer Page 15 of 146.


Header Page 16 of 146.

quy định cho từng đối tượng khác nhau. Cụ thể gồm ba đối
tượng là hộ gia đình cá nhân, tổ chức và cộng đồng dân cư.
2.4.1. Điều kiện bồi thường của Hộ gia đình, cá nhân.
Đây là bộ phận chiếm số đông khi tiến hành bồi thường



Header Page 17 of 146.

Nam dân chủ cộng hoà, chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hoà Miền Nam Việt Nam và Nhà nuớc cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan
Tài nguyên và Môi Trường.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng
ký ruộng đất, sổ địa chính.
- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất
hoặc tài sản gắn liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn
liền với đất.
- Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà
ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993, nay được Ủy ban
nhân cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15/10/1993.
- Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với
đất ở theo quy định của pháp luật. Nhà ở phải là nhà thuộc sở
hũu Nhà nước, bao gồm: nhà ở tiếp quản từ chế độ cũ, nhà vô
chủ, nhà vắng chủ đã đựoc xác lập sở hữu Nhà nước, nhà ở
đuợc tạo lập bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước,
nhà ở được tạo lập bằng tiền theo phương thức nhà nước và
nhân dân cùng làm, các nhà khác thuộc sở hữu Nhà nước.
Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở mua nhà ở gắn liền với đất
ở thuộc sở hữu Nhà nước trước ngày 057/1994. Có giấy tờ
nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do cơ quan, đơn vị hành chính
sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức đoàn thể nhà
nước, tổ chức chuyên quản nhà ở bán theo quy định tại Nghị
định 61/CP ngày 05/7/1994 của chính phủ về mua bán và kinh

giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất. Thế nhưng trường hợp
không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất thì việc xác định
căn cứ để bồi thường sẽ khó khăn hơn. Chính vì vậy việc bồi
thuờng sẽ dựa vào thời gian sử dụng đất, mỗi giai đoạn sẽ có
những đặc điểm khác nhau nên việc bồi thường cho mỗi giai
đoạn cũng khác nhau, có ba giai đoạn gồm:
* Giai đoạn trước ngày 15 tháng 10 năm 1993.
Đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 nhưng
không có các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất và được
xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường được
thực hiện như sau:
- Đất có nhà ở: đất đang sử dụng là đất có nhà ở thì người
đang sừ dụng đất được bồi thường đối với diện tích đất thực
tế đang sử dụng nhưng diện tích được bồi thường không vượt
quá hạn mức giao đất do Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực
Footer Page 18 of 146.


Header Page 19 of 146.

thuộc trung ương quy định. Đối với phần vượt quá hạn mức
giao đất ở và phần diện tích đất vườn, ao trên cùng thửa đất
có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở ( nếu có) thì
được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông
nghiệp xen kẽ trong khu dân cư.
- Đất phi nông nghiệp: đất đang sử dụng vào mục đích phi
nông nghiệp (không phải đất ở) thì người đang sử dụng đất
được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng.
Trường hợp trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng
vào mục đích nông nghiệp thì phần diện tích đó được bồi

trung ương ở Đông nan bộ và đồng bằng sông cữu long và
vùng các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương khác, phần
diện tích vượt hạn mức thì không được bồi thường.
- Trường hợp không được bồi thường: người sử dụng đất
có các hành vi vi phạm nêu trên, sử dụng đất vượt hạn mức
giao đất tại địa phương thì không được bồi thường, nếu đất
đang sử dụng là đất có nhà ở mà người có đất bị thu hồi
không có chỗ ở nào khác thì được hỗ trợ về đất hoặc giải
quyết nhà tái định cư theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh.
Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao sử dụng trước ngày 18
tháng 12 năm 1980, mà đất được tách ra từ thửa đất không có
các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất thì diện tích đất ở
được xác định là không quá năm lần hạn mức diện tích giao
đất ở của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định
nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất mà hộ gia
đình và cá nhân đang sử dụng. Thửa đất cìn lại sau khi đã tách
đất ở mà được xác nhận không có tranh chấp thì được bồi
thường theo hiện trạng sử dụng đất.
* Từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về sau.
Trường hợp thu hồi đối với đất đã sử dụng trong khoảng
thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01
tháng 7 năm 2004 nhưng không có các loại giấy tờ chứng
minh nguồn gốc đất và được xác nhận đất đó không có tranh
chấp thì việc bồi thường về đất được thực hiện đương đấi
giống như đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, tuy
nhiên có một số điểm khác như sau.
- Đất có nhà ở: trường hợp đất đang sử dụng là đất có nhà ở
thì giá trị bồi thường phải trừ đi quyền sử dụng đất phải nộp
theo mức thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối

Đất do lấn, chiếm và đất được giao, được cho thuê không
đúng thẩm quyền kề từ ngày 01 tháng 7 năm 1993 trở về sau
thì người có hành vi lấn, chiếm hoặc được giao đất , cho thuê
đất không đúng thẩm quyền không được bồi thường về đất
khi bị thu hồi.
* Giao đất không đúng thẩm quyền trước ngày 01
tháng 7 năm 2004.
Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng
7 năm 2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền đã nộp
Footer Page 21 of 146.


Header Page 22 of 146.

để được sử dụng đất mà chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 có hai
thời điểm giao đất là thời điểm trước ngày 15 tháng 10 năm
1993 và thời điểm sau ngày 15 tháng 10 năm 1993 người sử
dụng đất ở hai thời điểm này thì chính sách bồi thường sẽ
khác nhau.
- Trước ngày 15/10/1993: giai đoạn này chưa có luật đất
đai năm 1993 nên chưa có quy định rõ về hạn mức giao đất
đất nông nghiệp hay đất phi nông nghiệp. Người sử dụng đất
được giao loại nào thì thì được bồi thường theo loại đất đó kể
cả đất ở, diện tích bồi thường không bị hạn chế là toàn bộ
diện tích đất được giao.
- Sau ngày 15/10/1993: đây là giai đoạn Luật đất đai năm
1993 có hiệu lực, chính sách quản lý đất đai đã được chặt chẽ
hơn, nhưng việc bồi thường cho người bị thu hồi mà đất có
được, đuợc giao không đúng thẩm quyền tương đối giống như

tiền trả cho việc chuyển nhượng không có nguồn từ ngân
ksách nhà nước.
- Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá
nhân.
 Đối với cộng đồng dân cư: cộng đồng dân cư đang sử
dụng đất có các công trình đình, đền, chùa, miếu, am, từ
đường, nhà thờ họ được xác nhận là đất sử dụng chung cho
cộng đồng và không có tranh chấp.
Lưu ý: đất sử dụng ổn định bao gồm: Đất rừng phòng hộ,
đất rừng đặc dụng. Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử
dụng. Đất ở. Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh
doanh của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng ổn định được
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Đất xây dựng trụ sở
sơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp. Đất sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh. Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng. Đất
có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ
họ. Đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn
hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích
công cộng và các công trình công cộng khác không nhằm mục
đích kinh doanh; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam
thắng cảnh. đất làm nghĩa trang, nghĩa địa và được cơ quan có
thẩm quyền xác nhận là không có tranh chấp.

Footer Page 23 of 146.


Header Page 24 of 146.

2.5. Chủ thể tham gia bồi thường
Chủ thể tham gia bồi thường bao gồm cơ quan Nhà nước

hợp, chưa công bằng thì Hội đồng bồi thường sẽ trình Chủ
Footer Page 24 of 146.


Header Page 25 of 146.

tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định phê duyệt bổ sung
hoặc điều chỉnh, nhưng xét thấy đề xuất là đúng đắn mà
người sử dụng đất vẫn cố tình không thực hiện, Hội đồng bồi
thường sẽ trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành biện pháp
cưỡng chế đo đạc, kiểm kê tài sản để làm căn cứ cho việc bồi
thường.

2.6. Diện tích và giá đất tính bồi thường
2.6.1. Diện tích đất bồi thường
Để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất khi bị thu hồi
giải phóng mặt bằng. Mặc dù người dân có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và phần diện tích đã ghi rõ trên giấy tờ, tuy
nhiên không phải lúc nào diện tích ghi đó cũng chính xác với
phần diện tích họ đang xử dụng, trên thực tế có thể dư hoặc
thiếu cho nên khi bồi thường phải tiến hành đo đạ. Diện tích
bồi thường là diện tích được xác định trên thực địa - thực tế
đo đạc diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất, khi tiến
hành đo đạc có thể diện tích thực tế khác với diện tich trên
giấy tờ về quyền sử dụng đất do nhiều nguyên nhân có thể do
kỹ thuật đo đạc lúc làm giấy vẫn còn thủ công, lỗi ghi chép
hoặc do người sử dụng đất khai không đúng sự thật và dẫn tới
diện tích thực tế có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn trên giấy.
- Trường hợp diện tích thực tế nhỏ hơn, diện tích bồi
thường là diện tích đo đạc thực tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status