TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 32 (2006 -2010)
Đề tài:
CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ
TRỢ KHI GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG - LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hướng dẫn:
TS Phan Trung Hiền
Sinh viên thực hiện:
Phan Quốc Kiệt
MSSV: 5062257
Lớp: Luật Tư Pháp K32
CẦN THƠ, 04/ 2010
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quy hoạch xây dựng là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế
đất nước. Đặc biệt với sự ra đời của hiến pháp 1992 với việc thực hiện chính sách
kinh tế mở cửa với sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
trong những năm gần đây đất nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể về phát
triển kinh tế xã hội. Nền kinh tế có nhiều khởi sắc, tăng trưởng kinh tế cao, đời
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi chính sách hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất vì mục đích công cộng, phát triển kinh tế để thực hiện quy hoạch xây
dựng căn cứ theo Nghị định 69/2009/NĐ-CP được ban hành ngày 13/8/2009 quy
định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư. Đề tài đi vào tìm hiểu những quy định hiện hành của pháp luật về chính
sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất, cũng như thực tiễn của chính sách này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu và thực hiện luận văn này là cơ hội để người viết hiểu rỏ hơn
về chính sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất và thực tiễn áp dụng của chính sách
này. Qua đó người viết đưa ra những nhận xét, đánh giá, cũng như những quan
điểm của mình nhằm mong muốn tìm ra những giải pháp cho việc thực thi của
chính sách hỗ trợ được triễn khai tốt hơn, nhằm đảm bảo tối ưu quyền và lợi ích cho
người có đất bị thu hồi, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của người viết trước vấn đề
mang tính thực tế này. Tuy nhiên do nghiên cứu dưới góc độ pháp lý nên những
quan quan điểm mà người viết đưa ra sẽ không tránh khỏi những sai sót và mang
tính chủ quan. Do đó người viết rất mong sự đóng góp và chỉ dẫn của quý thầy cô
và các bạn để đề tài có thể hoàn thiện hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, người viết sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên
cứu Chủ nghĩa duy vật biện chứng sử dụng như là cơ sở của phương pháp luận để
xem xét toàn bộ các vấn đề của đề tài, phương pháp sưu tầm và tổng hợp những bài
nghiên cứu, ý kiến của các luật gia, văn bản quy phạm pháp luật…Kết hợp với
phương pháp so sánh, đối chiếu đánh giá các quy định của pháp luật nhằm thấy
được những điểm mới cũng như những hạn chế của các quy định về chính sách hỗ
trợ khi thu hồi đất .Đồng thời kết hợp dẫn chứng để làm sáng tỏ nội dung những
chính sách hỗ trợ của nhà nước khi thu hồi đất giải phóng mặt bằng.
thi của chính sách hỗ trợ, đồng thời người viết đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn
thiện hơn về chính sách hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng.
Có thể nói những vấn đề liên quan đến đất đai bao giờ cũng là vấn đền khá
phức tạp và nhạy cảm. Tuy nhiên khi nghiên cứu dưới góc độ pháp lý chắc chắn
không tránh khỏi hạn chế, thiếu sót. Những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn
sẽ là những đóng góp quí báo để đề tài thêm hoàn thiện hơn.
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
-3-
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHI GIẢI
PHÓNG MẶT BẰNG
Chương này người viết giới thiệu khái quát về chính sách hỗ trợ khi giải phóng
mặt bằng bao gồm các khái niệm cơ bản về chính sách hỗ trợ, phân tích vai trò của
chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất giải phóng mặt bằng. Đồng thời còn phân tích lược
sử phát triển của chính sách hỗ trợ qua các giai đoạn, đối tượng được hưởng chính
sách hỗ trợ, cũng như thẩm quyền quyết định chính sách hỗ trợ.
1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Thu hồi đất
Khi hàng loạt các công trình công cộng, công trình quốc gia, các khu kinh tế,
khu công nghiệp được triển khai hiển nhiên cần phải có những diện tích đất lớn để
thực hiện các dự án này. Thế nhưng đất đai thuộc sở hữu toàn dân, với tư cách là
người quản lý, nhằm bảo đảm lợi ích nhà nước, lợi ích nhân dân, khi đó Nhà nước
sẽ ra quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của người dân hoặc đất được nhà nước
bị lấy đi và tài sản được trả lại.
Như vậy bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
1.1.3. Hỗ trợ
Theo luật đất đai hiện hành thì hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà
nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới,
cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.
Hỗ trợ được hiểu là Nhà nước thực hiện chính sách trợ cấp đối với các đối
tượng bị thu hồi đất nhằm giúp đỡ người dân bị thu hồi đất ổn định cuộc sống mới,
để chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm và giải quyết khó khăn mà những khó
khăn này có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ việc thu hồi đất.
Do mang nặng bản chất của sự “giúp đỡ” nên hỗ trợ mang nặng tính “chính
sách”. Để chăm lo cho đời sống của nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách; chẳng hạn
chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng nhằm giúp họ bù
đắp phần nào những mất mát vượt qua khó khăn để ổn định cuộc sống; hay chính
sách xóa đói giảm nghèo nhằm trợ cấp, giúp đỡ những hộ nghèo theo tiêu chí hộ
nghèo của Bộ lao động thương binh xã hội vượt qua những khó khăn, thoát nghèo v
v…Mỗi chính sách đều có đối tượng riêng, chính sách hỗ trợ khi giải phóng mặt
bằng cũng không là ngoại lệ, đối tượng hướng đến của chính sách này là những
người có đất bị thu hồi đất nhằm giúp đỡ thêm cho họ để tái lập cuộc sống mới,
chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống, giải quyết các khó khăn về mặt kinh tế
vv…Chính sách này ngày càng được quan tâm và quy định rạch ròi hơn.
Như vậy ta thấy giữa bồi thường và hỗ trợ có sự khác nhau về bản chất. Bồi
thường là sự đền trả lại giá trị của những thiệt hại mà chủ thể đã gây ra do việc thu
hồi đất, còn hỗ trợ là hình thức trợ cấp với mục đích trợ giúp cho người có đất bị
thu hồi vươt qua những khó khăn để ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế...
1.2. Mục đích, ý nghĩa của chính sách hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng
1.2.1. Mục đích
Khi nhà nước thu hồi đất để giải phóng mặt bằng ngoài việc bồi thường cho
bị thu hồi. Bởi vì khi thu hồi đất ít nhiều cũng ảnh hưỡng đến cuộc sống hiện tại
của người dân, đặc biệt là những người đang lao động, những người này thường là
trụ cột là lao động chính trong gia đình, vì vậy họ có thể sẽ bị xáo trộn trong công
việc đang làm khi di chuyển đến nơi mới. Điều này sẽ ảnh hưỡng đáng kể đến thu
của cá nhân cũng như của gia đình. Vấn đề được đặt ra là không chỉ bị mất việc làm
hiện tại mà còn là khi bị di dời vào chỗ mới do điều kiện nơi ở mới mà họ không
thể sử dụng tay nghề hoặc những kỷ năng có sẵn để làm việc như trước kia và như
vậy họ sẽ bị mất công ăn việc làm tại nơi ở mới. Chính từ thực tế đó nhằm giúp
người lao động vượt qua những khó khăn, trở ngại Nhà nước thực hiện chính sách
hỗ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm mới cho các đối tượng này. Việc hỗ trợ
cho các đối tượng này là một nhu cầu rất thực tế không chỉ giúp cho người lao động
vượt qua khó khăn có được việc làm nuôi sống bản thân và gia đình mà còn giúp
cho người lao động chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp hơn với nơi sinh sống mới và
còn tránh được tình trạng “nghèo đi” vì bị thu hồi đất.
Như vậy qua phân tích trên có thể thấy chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất có mục đích quan trọng. Chính sách này đã phần nào tháo gỡ những khó khăn
cho người dân có đất bị thu hồi,giúp người dân tái tạo lại cuộc sống mới, chuyển
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
-6-
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
đổi nghề nghiệp ổn định việc làm, yên tâm lao động sản xuất nhằm giải quyết khó
khăn về mặt kinh tế.
1.2.2. Ý nghĩa của sách hỗ trợ
Qua phân tích ý mục đích của chính sách hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng trên ta
thấy chính sách hỗ trợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quy hoạch xây dựng
nói chung và người dân có đất bị thu hồi nói riêng.
quan trọng, chính sách này ngày càng đi vào đời sống nhân dân nói chung và đối
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
-7-
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
tượng người có đất bị thu hồi nói riêng. Chính sách hỗ trợ đã góp phần nâng cao
điều kiện sống cho người dân, và góp phần cho sự vận hành của thị trường bất động
sản ở nước ta theo hướng tích cực hơn. Nhờ những quy định của pháp luật về chính
sách hỗ trợ ngày càng hợp lý hơn, mức hỗ trợ ngày càng cao hơn giúp cho người
dân có thể khôi phục lại những tài sản bị mất do việc thu hồi đất, tháo gỡ được
những khó khăn cho người dân từ đó nhân dân chấp hành tốt chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước.
Ngoài ra chính sách hỗ trợ còn có một vai trò chiến lược trong quy hoạch xây
dựng, gúp cho các dự án được triển khai nhanh hơn, tiến độ của các dự án được
đảm bảo giúp cho đất nước ta xây dựng được những cơ sở vật chất kỉ thuật, phát
triển kết cấu hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao từ đó góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế xây dựng đất nước ngày càng phát
triển.
Tóm lại chính sách hỗ trợ được thực hiện tốt đúng theo mục đích và ý nghĩa của
nó sẽ góp phần giúp cho công tác quản lý của nhà nước trên các lĩnh vực nói chung
và lĩnh vực đất đai nói riêng được tốt hơn. Kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân
dân và lợi ích của Nhà nước, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân, xây
dựng đất nước ngày càng phát triển.
1.3. Quan hệ giữa thiệt hại, bồi thường, và hỗ trợ
Qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về bồi thường, cũng như phân tích
khái niệm, đặc điểm, vai trò của chính sách hỗ trợ ta thấy giữa thiệt hại, bồi thường
hỗ trợ có mối quan hệ thống nhất với nhau có thể nhận thấy qua một số điểm sau:
trợ có mối quan hệ với nhau. Cần đặt chúng trong nhiều mối quan hệ với nhau
nhằm đảm bảo tối ưu quyền và lợi ích hợp pháp cho người có đất bị thu hồi.
1.4. Lược sử của chính sách hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng qua các giai đoạn
Vấn đề đền bù, hỗ trợ và tái định cư chỉ thật sự là vấn đề trên thực tế khi Nhà
nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường. Mặc dù luật đất đai phát triển qua nhiều
giai đoạn, song lược sử của chính sách hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng có thể tạm
chia thành các giai đoạn cụ thể như sau:
1.4.1 Giai đoạn trước luật đất đai 1993
Nhìn chung trong giai đoạn này công tác giải phóng mặt bằng còn đơn giản
chưa được quan tâm do ảnh hưởng của chế độ bao cấp trước đó, lợi ích của xã hội,
của công cộng được đặt lên trên lợi ích cá nhân một cách mạnh mẽ. Hơn nữa quyền
hạn của người sử dụng đất trước năm 1993 còn rất hạn chế, đất đai trong giai đoạn
này không được xem là một loại tài sản lưu thông trên thị trường. Nếu có việc thu
hồi đất cho những dự án công cộng thì tài sản trên đất được bồi hoàn cho chủ sở
hữu tài sản, nhưng đất đai chủ yếu là hoán đổi chứ không được bồi hoàn. Do đất đai
trong thời kỳ này không được xem là tài sản “có giá” nên sự hoán đổi chỉ mang tính
chất tượng trưng với những điều kiện mà người bị thu hồi đất có thể chấp nhận
được. Điều này dựa trên cơ sở lý luận: Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân, do nhà
nước quản lý; người sử dụng đất được nhà nước giao, nên khi cần thì nhà nước có
thể lấy lại và giao lại một thửa đất khác.
Vì vậy mà trong giai đoạn này công tác hỗ trợ cho người bị thu hồi chưa được
quan tâm. Khi nhà nước có nhu cầu sử dụng đất thì có thể lấy lại và giao lại cho
người sử dụng đất một thửa khác chỉ mang tính chất tượng trưng. Còn vấn đề “bồi
hoàn” đối với những tài sản khác cũng chỉ mang một ý nghĩa tượng trưng chưa
tương xứng, không đòi hỏi mức độ chính xác về giá trị của tài sản bị lấy đi và tài
sản được hoàn lại.
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
Cụ thể hóa luật đất đai năm 2003 với phương chăm là phải tạo điều kiện tốt
hơn cho người bị thu hồi đất ổn định cuộc sống với khả năng tái tạo cuộc sống bằng
hoặc tốt hơn nơi cũ Nghị định số 97/2004/NĐ-CP ngày 3/12/ 2004 ra đời để khắc
phục những điểm còn hạn chế và bổ sung cho Nghị định 22/1998/NĐ-CP, khẳng
định thêm về các khái niệm thi trường bất động sản, về giá đất. Nghị định
197/2004/NĐ-CP ra đời nhằm “bổ khuyết” những hạn chế, thiếu xót của Nghị định
22/1998/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất giải phóng mặt bằng, song
song đó nghị định còn ghi nhận mục đích thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế,
Nghị định 197 và đã quy định chi tiết hơn về các loại hỗ trợ cụ, hình thức hỗ trợ và
đối tượng được hỗ trợ, cũng như thẩm quyền quyết định chính sách hỗ trợ. Cho nên
đây được xem là bước tiến quan trọng trong chính sách về đất đai khi đó vấn đề bồi
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
- 10 -
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
thường và hỗ trợ đã được quy định tách bạch riêng biệt. Tuy nhiên việc thực thi
chính sách hỗ trợ trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc nên tình trạng khiếu nại,
khiếu kiện vẫn còn nhiều. Tiếp theo đó Nghị định số 84/2007/NĐ-CP cũng dành
nhiều quy phạm để hướng dẫn trình tự, thủ tục thu hồi đất, thực hiện việc hỗ trợ,
bồi thường và tái định cư.
Trong năm 2009 Chính phủ vừa ban hành Nghị định 69/2009/NĐ-CP quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2009. Trên tổng thể, Nghị định bổ
sung nhiều điểm mới, tích cực, theo hướng tăng quyền lợi cho người bị thu hồi đất
– đối tượng lâu nay được đánh giá là chịu nhiều thiệt thòi, Nghị định này tăng mức
hỗ trợ cho người dân có đất bị thu hồi. Mức hỗ trợ tăng lên nhiều lần so với trước,
ngoài ra nghị định 69/2009/NĐ-CP còn quy định thêm nhiều hình thức hỗ trợ khác.
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
dụng đất ở Việt Nam chỉ là chủ sở hữu của quyền sử dụng đất có nghĩa là chỉ có
quyền sử dụng và chiếm hữu chứ không có quyền định đoạt đối với đất đai. Nhìn
chung nước ta là nước nông nghiệp do đó khi thu hồi đất đối tượng được hưởng
chính sách hỗ trợ phần nhiều là những người nông dân lao động nông nghiệp.
Chính vì vậy mà chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất cần được quy định những gì mà
có lợi cho người nông dân, vì đây là một lực lượng sản xuất vô cùng quan trong
rtrong xã hội. Tầm quan trọng của mối quan hệ với nông dân đã được V.I. Lênin
chỉ ra khi áp dụng chính sách kinh tế mới ở Liên Xô (cũ) với phương châm “bắt đầu
từ nông dân”. V.I. Lê nin viết: “10 - 20 năm quan hệ đúng đắn với nông dân thì
thắng lợi được đảm bảo… nếu không thì là 20 - 40 năm đau khổ với sự khủng bố
của bạch vệ”. (V.I.Lênin Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tập 43, trang
459).
Người sử dụng đất có thể được xác định dựa trên hai tiêu chí:
Tiêu chi thứ nhất: Căn cứ vào vào căn cứ pháp lý làm phát sinh quyền sử dụng đất
(tiêu chí pháp lý) điều đó có nghĩa là hộ gia đình, cá nhân, tổ chức để được xác định
là người sử dụng đất khi được Nhà nước cho phép sử dụng đất thông qua một trong
các hình thức theo quy định của pháp luật dất đai như: Được Nhà nước giao đất,
được nhà nước cho thuê đất hay được nhà nước cho phép nhận chuyển quyền sử
dụng đất thông qua các giao dịch chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế quyền sử
dụng đất.
Tiêu chí thứ hai: Căn cứ vào thực tế sử dụng đất (tiêu chí thực tế) người sử dụng
đất được xác định là người đang sử dụng đất trên thực tế.
Dựa mục đích sử dụng có thể phân loại nhóm các đối tượng được hưởng chính
sách hỗ trợ như sau: hộ gia đình cá nhân có đất bị thu hồi; các tổ chức được nhà
nước giao đất, cho thuê đất hoặc đang sử dụng đất mà bị thu hồi, và các tổ chức
kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh.
1.5.1 Hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi
Trong xã hội các hình thức sử dụng đất rất đa dạng và luôn gắn với hoạt động
tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp, phi nông
nghiệp, đối với từng trường hợp cụ thể khi bị thu hồi đất sẽ được hưởng chính sách
hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Đây là đối tượng chiếm đa số trong công tác
thực hiện chính sách hỗ trợ của Nhà nước, bởi lẽ nước ta là nước nông nghiệp, phần
lớn diện tích đất nước ta là đất nông nghiệp do đó khi thu hồi đất đối tượng chịu
ảnh hưởng nhiều nhất là hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
Qua đó có thể nói rằng hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp, hợp
lệ phù hợp với quy định của pháp luật dưới các hình thức là được nhà nước giao,
cho thuê hoặc thuê quyền sử dụng đất, hoặc nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế
hoặc được tặng cho khi bị thu hồi thì sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ.
Như vậy đối tượng được hỗ trợ ở đây chính là hộ gia đình, cá nhân sống trong
khu vực giải tỏa (khu vực có đất bị thu hồi) có nhà ở, đất ở, đất nông nghiệp đang
sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các đối tượng này nếu được quan
tâm đúng mức thì sẽ khẳng định được vai trò của chính sách hỗ trợ, giúp cho hộ gia
đình, cá nhân có đất bị thu hội vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống tạo, điều kiện
để phát triển hòa cùng với sự phát triển của đất nước. Qua đó cho thấy rằng Nhà
nước đã ngày càng quan tâm hơn đối với các chính sách về đất đai nói chung và
chính sách hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi nói riêng nhằm đảm bảo quyền lợi tối
ưu cho người, để thực hiện công bằng xã hội, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước.
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
- 13 -
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
1.5.2. Tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất, hoặc đang sử dụng đất mà
nước thu hồi đất.
1.5.3. Các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh
Ngoài các đối tượng trên, pháp luật còn quan tâm đến các trường hợp của các tổ
chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh khi bị thu hồi đất. Vì vậy các tổ chức kinh tế,
hộ sản xuất kinh doanh có đất bị thu hồi cũng được hưởng chính sách hỗ trợ. Trong
trường hợp này chính sách hỗ trợ được đặt ra khi việc thu hồi đất gây ảnh hưởng
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
- 14 -
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
cho các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh. Tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh
doanh ở đây được hiểu là phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
thương mại về đăng ký kinh doanh.
Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất giải phóng mặt bằng còn được đặt ra
với đối tượng các tổ tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh.
Với những hỗ trợ này sẽ phần nào giảm bớt đi những khó khăn cho các đối tượng
này. Một mặt còn thể hiện sự thông thoáng trong các chính sách về đất đai để từ đó
hướng đến mục tiêu chung là xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên
chính sách hỗ trợ đối với các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh là vấn đề rất
nhạy cảm mang ý nghĩa về mặt tinh thần, là động lực giúp cho họ an tâm hơn khi
kinh doanh sản xuất ở nơi mới. Qua đó thể hiện sự khuyến khích của nhà nước đối
với các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh về các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh, nhằm đưa đất có nền kinh tế ngày một phát triển và năng dộng hơn theo cơ
chế thị trường. Trong đó sự đóng góp của các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh
doanh là nhân tố quan trọng không thể thiếu đối với sự phát triển của đất nước.
1.6 Thẩm quyền quyết định chính sách hỗ trợ
Xét về chủ thể có thẩm quyền áp dụng thì chính sách hỗ trợ khi giải phóng mặt
thực hiện và quy trách nhiệm cho con người cụ thể trong công việc, đặc biệt là đối
với vấn đề thu hồi đất nói chung và chính sách hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi
nói riêng.
Tóm lại hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng là sự trợ giúp của Nhà nước cho người
bị thu hồi đất thông qua các hình thức như trợ cấp tiền, đào tạo nghề mới, bố trí
việc làm mới, cấp phát kinh phí để di dời nhằm giúp giúp họ vượt qua khó khăn,
yên tâm hơn trong lao động sản xuất để ổn dịnh cuộc sống. Khác với bồi thường là
phải trả lại thiệt hại gây ra một cách tương xứng, hỗ trợ là sự trợ giúp của Nhà cho
các đối tượng bị thu hồi đất nên mang tính chính sách. Chính sách hỗ trợ nếu được
thực hiện tốt sẽ có một vai trò quan trong trọng công tác giải phóng mặt bằng nói
riêng và trong các chính sách về đất đai của Nhà nước nói chung. Qua các giai đoạn
thì chính sách hỗ trợ ngày càng được quan tâm hơn, và được quy định cụ thể hơn.
Về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ cũng như hình thức và mức hỗ trợ thì
cũng được xác định đầy đủ hơn phù hợp với thực tế và quy luật kinh tế. Việc giao
cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chính sách hỗ trợ cho thấy sự linh hoạt
trong chính sách hỗ trợ, giúp cho công tác hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng có điều
kiện đi sát với thực tế tại địa phương. Qua đó cho thấy Đảng và Nhà nước ta ngày
càng quan tâm hơn đối với các chính sách về đất đai nói chung và chính sách hỗ trợ
khi thu hồi đất nói riêng nhằm đảm bảo tối ưu quyền và lợi ích hợp pháp cho người
sử dụng đất ở việt Nam.
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
- 16 -
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 2
Người sử dụng đất hợp pháp: khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế thì
phải đảm bảo lợi ích cho người có đất bị thu hồi một cách tối ưu theo quy định của
pháp luật.
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
- 17 -
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
Nhà đầu tư: Đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư để khuyến khích các nhà đầu tư
bỏ vốn vào đầu tư các dự án, công trình quốc gia.
Nhóm các nguyên tắc điều chỉnh riêng.
Nguyên tắc này đòi hỏi người bị thu hồi đất phải đáp ứng các điều kiện về bồi
thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật đất đai. Có nghĩa là vấn đề hỗ trợ được
đặt ra khi có những cơ sở nhất định.
Cơ sở để xác định bồi thường, hỗ trợ căn cứ vào Điều 14 NĐ 69/2009/NĐ-CP
cụ thể như sau:
“Điều 14. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ.
1. Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có đủ điều kiện quy định tại các
khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03
tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất (sau đây gọi là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP) và các Điều 44,
45 và 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (sau đây gọi là Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP) thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được
bồi thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ.
Mặc dù Hiến pháp có quy định “Đất đai cùng các tài sản khác mà pháp luật
quy định là của nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân” “Nhà nước giao đất cho các
tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” (Điều 18), tuy nhiên không có quy định
nào về thu hồi đất trong quy hoạch xây dựng và do đó cũng không có quy định nào
liên quan đến chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất. Thậm chí ngay cả luật đất đai cũng
không có quy định nào điều chỉnh vấn đề này. Cơ sở pháp lý hiện hành cao nhất
của chính sách hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng là Điều 17 Nghị định 69/2009 và
được cụ thể hóa từ điều 18 đến điều 23 của nghị đinh này. Quá trình xây dựng nghị
định, Bộ TN-MT đã vận dụng tất cả những gì có lợi nhất cho người dân bị thu hồi
đất, nghị định 69/2009/NĐ-CP đã chú trọng phần hỗ trợ ổn định đời sống và ổn
định sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho những hộ gia
đình, cá nhân trực tiếp sản xuất khi bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
2.3. Phương thức áp dụng
Tùy theo từng trường hợp thu hồi đất mà áp dụng các phương thức hỗ trợ
khác nhau. Đối với trường hợp thu hồi đất ở thì áp dụng phương thức hỗ trợ di
chuyển và hỗ trợ tái định cư. Đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp thì áp
dụng phương thức hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi
nghề và tạo việc làm. Bên cạnh đó vấn đề hỗ trợ cũng được đặt ra khi thu hồi đất
nông nghiệp trong khu dân cư, đất vườn, ao không được công nhận là đất ở. Tùy
từng trường hợp hình thức hỗ trợ áp dụng cho các phương thức này là khác nhau.
Hình thức hỗ trợ thường là hỗ trợ bằng tiền, hoặc đất ở, hoặc căn hộ chung cư, hoặc
đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Phương thức hỗ trợ được quy định cụ thể
tại điều 17 NĐ 69/CP cụ thể như sau:
“Điều 17 Hỗ trợ
Các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất bao gồm:
1. Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở;
2. Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo
việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp;
3. Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không
được công nhận là đất ở;
đất nói riêng. Cụ thể về vấn đề hỗ trợ di chuyển được quy định tại Điều 18 của
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP như sau:
“ Điều 18 Hỗ trợ di chuyển:
1. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
được hỗ trợ kinh phí để di chuyển.
2. Tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc đang sử dụng đất hợp
pháp khi Nhà nước thu hồi mà phải di chuyển cơ sở sản xuất, kinh doanh thì
được hỗ trợ kinh phí để tháo dỡ, di chuyển và lắp đặt.
3. Người bị thu hồi đất ở mà không còn chỗ ở khác thì trong thời gian chờ
tạo lập chỗ ở mới (bố trí vào khu tái định cư) được bố trí vào nhà ở tạm hoặc
hỗ trợ tiền thuê nhà ở.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ cụ thể quy định tại các
khoản 1, 2 và 3 Điều này.”
Như vậy với quy định trên thì việc hỗ trợ di chuyển sẽ được thực hiện tùy theo
đối tượng cũng như từng trường hợp cụ thể mức hỗ trợ trợ sẽ do Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quy định căn cứ vào thực tế tại địa phương.
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
- 20 -
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
Khoản 1: Quy định quy định hỗ trợ di chuyển đối với hộ gia đình cá nhân. Đối
tượng được hỗ trợ đó là hộ gia đình, cá nhân, khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di
chuyển đến nơi ở khác. Điều kiện được hỗ trợ: Khi nhà nước thu hồi đất ở, hộ gia
đình, cá nhân không còn chổ ở phải di chuyển đến nơi ở mới, việc di chuyển đến
nơi ở mới đó sẽ được hỗ trợ về khoản kinh phí để di chuyển. Hình thưc hỗ trợ: Hỗ
trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ cụ thể sẽ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
- 21 -
Chính sách và pháp luật về hỗ trợ khi giải phóng mặt bằng - lý luận và thực tiễn
thì toàn bộ hoạt động của cơ sở phải tạm ngừng lại, mặc dù vậy thì tổ chức vẫn phải
chi một khoản để trả tiền lương cho nhân viên. Đây là một trở ngại cho tổ chức phải
di dời cơ sở. Thứ hai: khi tạm dừng hoạt động thì thì đồng thời cơ sở phải chi một
khoản tiền bù lỗ cho những ngày ngừng hoạt động kinh doanh đó, đây cũng là vấn
đề khá nhạy cảm đối với tổ chức phải di chuyển cơ sở. Thứ ba: chi phí cho việc di
chuyển thường rất nhiều vì các các cơ sở, tổ chức sản xuất kinh doanh thường có
quy mô lớn. Cho nên, ngoài việc hỗ trợ chi phí thực tế ngoài di chuyển, tháo dỡ và
lắp đặt thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần căn cứ các chi phí phát sinh mà đưa ra
mức hỗ trợ cho phù hợp hơn cho các tổ chức phải di chuyển cơ sở. Có như vậy mới
có thể làm giảm được gánh nặng mà tổ chức phải di dời cơ sở, cho họ thấy được sự
linh hoạt trong chính sách hỗ trợ mà thực hiện tốt việc di dời, giảm đi những thiệt
hại mà tổ chức phải gánh chịu khi di chuyển cơ sở đến nơi mới để hoạt động của
các tổ chức có hiệu quả hơn.
Ngoài việc hỗ trợ cho hộ gia đình, tổ chức thì chính sách hỗ trợ di chuyển cũng
được đặt ra đối với các cá nhân trong trường hợp chờ tạo lập chỗ mới (khoản 3).
Điều kiện hỗ trợ là trong thời gian chờ tạo lập chổ ở mới, không còn chổ ở khác thì
được hỗ trợ với hai hình thức là bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh sẽ căn cứ vào thực tế quy định cụ thể về thời gian và mức hỗ
trợ cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
2.4.2. Hỗ trợ tái định cư
Tái định cư là một nhu cầu rất tất yếu đối với người bị thu hồi đất mà không
còn chổ ở nào khác, giúp cho họ có thể tái tạo lại cuộc sống mới với mức sống tốt
hơn. Trên thực tế thì tái định cư gồm có ba trường. Thứ nhất là bố trí tái định cư đối
thì được nhận tiền tương đương với khoản chênh lệch đó.
2.Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự
lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản tiền bằng suất đầu tư hạ tầng tính cho một
hộ gia đình tại khu tái định cư tập trung trường hợp đã được nhận khoản tiền
hỗ trợ tái định cư quy định tại khoản 1 Điều này.
3.Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể tại địa phương quy
định về suất tái định cư tối thiểu và mức hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này.”
Khoản 1: Quy định hỗ trợ tái định cư đối với hộ gia đình cá nhân. Đối tượng
được hỗ trợ đó là hộ gia đình cá nhân bị nhà nước thu hồi đất ở. Điều kiện để được
hỗ trợ đó phải thuộc các trường hợp được bố trí tái định cư. Các trường hợp được
bố trí tái định cư theo thông tư số 14/2009/TT-BTNMT (ngày 01/10/2009 quy định
chi tiết về bồi thường hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất,
cho thuê đất) có bốn trường hợp: Thứ nhất: Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển
chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường,
thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu
tái định cư).Thứ hai: Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở
còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị
thu hồi.Thứ ba: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi
xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở
mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu
hồi. Thứ tư: Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng)
cùng chung sống đủ điều kiện tách hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử
dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều
kiện thực tế tại địa phương để quy định diện tích đất, diện tích nhà ở để bố trí tái
định cư. Hình thức hỗ trợ: giao đất ở, nhà ở tái định cư, hoặc bằng tiền. Trước đây,
đối tượng bị thu hồi đất sau khi được cấp đất tái định cư mà diện tích đất được cấp
chênh lệch so với diện tích bị thu hồi thì đối tượng được cấp đất sẽ phải trả chi phí
định suất tái định cư tối thiểu và mức hỗ trợ cho phù hợp với địa phương đó. Quy
định này cho thấy ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhiều quyền hạn hơn trong việc hỗ
trợ tái định cư, vì thế mà áp lực không hề nhỏ.
Do vậy, chính sách hỗ trợ tái định cư phát huy được hiệu quả thiết nghĩ UBND
cấp tỉnh cần xác lập cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát đặc biệt là phải chú trọng
vào khâu triển khai thực hiện.
2.5 Các khoản hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Khi thu hồi đất nông nghiệp hộ gia đình cá nhân có đất bị thu hồi được
hưởng các khoản hỗ trợ sau: hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo
chuyển đổi nghề và tạo việc làm.
2.5.1 Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
2.5.1.1 Hỗ trợ ổn định đời sống
Bên cạnh việc hỗ trợ di chuyển và hỗ trợ tái định cư thì chính sách hỗ trợ
cũng đưa ra một hình thức hỗ trợ nhằm làm giảm bớt khó khăn cho người có đất bị
thu hồi (đất nông nghiệp) đó là hỗ trợ ổn định đời sống. Với chính sách hỗ trợ này
GVHD: TS Phan Trung Hiền
SVTH: Phan Quốc Kiệt.
- 24 -