Dịch tể học nhóm bệnh
truyền nhiễm qua da và
niêm mạc
1.MỤC TIÊU BÀI HỌC
Kết thúc bài học, học viên có khả năng
1. Trình bày được tác nhân gây bệnh da và niêm mạc
2. Trình bày quá trình dịch của bệnh truyền nhiễm qua da và niêm mạc
3. Trình bày các biện pháp phòng chống đối với bệnh da và niêm mạc
2.NỘI DUNG
1.Tác nhân gây bệnh
-Vi khuẩn
Than (bacillus anthracis)
Uốn ván (clostridium tetani)
Lậu cầu (neisseria gonrrhoeae)
-Xoắn khuẩn
Leptospira
Treponema pallidum (giang mai)
-Virut
Mắt hột
Dại
HIV (Human immunodeficiency virus)
+Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) là một retro virus. Vius này được xác nhận có 2
loại: loại 1 (HIV-1) và loại 2 (HIV-2). Các virut HIV tương đối khác nhau về huyết thanh học và
phân bố địa lí nhưng có đặc điểm dịch tể học tương tự nhau
-Một sô loại nấm da, nấm tóc
+Sức đề kháng:
+Các mầm bệnh ở nhóm này có sức đề kháng ở ngoại cảnh rất khác nhau:
-Không tồn tại được ở ngoại cảnh:lậu cầu khuẩn, xoắn khuẩn giang mai
-Rất yếu: Virut dại. Virut dại chết nhanh chóng ở nhiệt độ cao, ở 60 độ chúng chết hầu như tức
+Nhiều loài thú ăn thịt hoang dã và súc vật nuôi trong nhà là nguồn chứa virut dại bao gồm:
cáo, chó sói, chó rừng, chồn, gấu trúc Nam Mĩ có dơi hút máu, dơi ăn hoa quả và côn trùng bị
nhiễm vi rút dại
+Ở các nước đang phát triển thì nguồn chứa virut dại chủ yếu duy trì ở đàn chó
+Những động vật khác như: thỏ, sóc, sóc chuột ở Bắc Mĩ, chuột và chuột nhắt rất hiếm bị nhiễm
virut dại và cũng hiếm bị chúng cắn, nếu bị chúng cắn thì cần tiêm phòng dại
+Ở Việt Nam nguồn chứa virut dại chủ yếu là chó nhà. Chó bị nhiễm virut dại vì vết cắn của chó
bị dại, sau một thời kì ủ bệnh dài hay ngắn tùy theo vị trí, số lượng, tính chất của vết cắn mói phát
bệnh dưới hai thể, thể hung dữ và thể liệt nhưng đều thải virut theo nước dải chó từ những ngày
cuối của thời kì ủ bệnh và kéo dài suốt thời kì phát bệnh cho tới khi nó chết
+Mèo cũng có phương thức bị nhiễm và đào thải vi rut giống như chó, mèo cũng là nguồn
truyền nhiễm bệnh dại
Thời kì lây truyền ở chó và mèo thông thường từ 3-5 ngày trước khi bắt đầu có dầu hiệu lâm
sàng và trong suốt thời kì súc vật bệnh
+Trong tổng số người bị súc vật dại cắn, có 88% bị chó nhà cắn, 8% bị mèo cắn, 4% bị súc vật
khác cắn
+Trong nước bọt của người bị bệnh dại có virut dại nhưng chưa thấy mô tả trường hợp nào
người bệnh làm lây bệnh cho người khác
2.2. Đường truyền nhiễm
2.2.1 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục chỉ có phương thức lây duy nhất là tiếp xúc trực tiếp
(trừ bệnh giang mai bẩm sinh)
*Bệnh giang mai: lây truyền do
- Tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết ở các tồn thương giang mai ở da niêm mạc
-Tiếp xúc trực tiếp với dịch và các chất tiết của cơ thể (nước bọt, tinh dịch, máu, dịch âm đạo)
của người bệnh qua tiếp xúc tình dục
-Bệnh có thể lây qua truyền máu nếu người cho máu ở trong thời giang mai tiên phát
-Lây truyền giáng tiếp qua các đồ dùng bị nhiễm xoắn khuẩn giang mai (khăn mặt, chậu, cốc,
dao cạo, dụng cụ y tế…) có thể xảy ra song trên thực tế rất hiếm gặp ( vì xoắn khuẩn rất yếu)
-Nhân viên y tế có thể bị lây qua thăm khám các tổn thương có xoắn khuẩn giang mai
súc làm ô nhiễm
2.2.5. Bệnh uốn ván
+Các nha bào uốn ván xâm nhập vào cơ thể thường qua các vết thương( nhất là vết thương
chiến tranh) bị nhiễm đất bẩn, bụi đường, phân người và động vật, qua các vết rách và vết bỏng.
Thỉnh thoảng cũng thấy trường hợp uốn vàn sau phẫu thuật như cắt bao qui đầu
+Uốn ván sơ sinh: bệnh thường xảy ra do nha bào uốn ván xâm nhập qua dây rốn bằng dụng cụ
bẩn hay do băng rốn cho trẻ sơ sinh ở các gia đình
2.2.6. Bệnh mắt hột và các bệnh nấm
Các virut này tồn tại lâu ở ngoại cảnh và lây truyền do dùng chung các vật dụng hàng ngày
như khăn mặt, mũ, quần áo, chăn chiếu… với người đang có bệnh
2.2.7 Phương thức lây truyền HIV/AIDS
Có bốn phương thức lây truyền HIV: (1) qua quan hệ tình dục, (2) qua truyền máu, (3) qua tiêm
chích ma túy và (4) lây truyền từ mẹ sang con trong thời gian mang thai, sinh nở và cho con bú.
Nguy cơ lây truyền sang bạn tình đang có sự gia tăng nhanh chóng khi tình trạng lây nhiễm bệnh
lậu hoặc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác có chiều hướng tăng. Nói chung, khả năng
lây nhiễm HIV cao hơn khi tuyến nhờn của các cơ quan sinh dục bị hủy hoại hoặc bị nhiễm trùng,
có lẽ bằng việc tạo điều kiện cho virus đi vào máu và việc huy động các tế bào miễn dịch vốn là tế
bào đích cho việc xâm nhập virus
HIV đã phân lập được từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước
tiểu và các dịch khác của cơ thể.Mặc dù có sự phân bố rộng như vậy của HIV trong cơ thể nhưng
nhiều nghiên cứu dịch tể học cho thấy rằng chỉ có: máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò
quan trọng trong việc làm lây truyền HIV. Do đó có 3 phương thức làm lây truyền HIV:
-
Lây truyền theo đường tình dục
+Đây là phương thức lây truyền quan trọng, cả giao hợp đồng giới và giao hợp khác giới đều có
nguy cơ lan truyền bệnh. Bởi vì qua các vết xước rất nhỏ (thường không nhìn thấy bằng mắt
nghiệm sàng lọc máu của những người cho trước khi cấy truyền
-Lây truyền từ mẹ sang con
HIV cũng có thể truyền từ mẹ sang thai nhi hoặc sang con trong suốt thời gian mang thai, sinh
đẻ và lúc cho con bú. Có thể gọi đây là lây truyền dọc, lây truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,
trái ngược với lây truyền ngang khi người cùng thế hệ lây truyền sang nhau. Virus HIV chỉ là một
trong những virus có thể lây truyền dọc.Bệnh có thể lây truyền sang thai nhi trong thời gian trong
thời gian mang thai, trong thời gian sinh đẻ và trong thời gian cho con bú. Nếu không tiến hành
các biện pháp can thiệp đặc biệt thì có khoảng 30-40% các bà mẹ có phản ứng dương tính với
virus HIV ở vùng tiểu sa mạc Sahara châu Phi, có thể truyền virus HIV sang con cái của họ
Nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con khác nhau tùy thuộc vào mỗi nước, từ 13%-32% ở các
nước công nghiệp phát triển, từ 25%-48% ở các nước đang phát triển. Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV
ngay khi còn nằm trong bào thai hoặc thời kì sinh nở
•
Vấn đề lây HIV qua bú sữa mẹ
Bằng chứng cho thấy rằng cho bú có thể lây truyền HIV. Các nhà khòa học đã phân lập được
HIV từ sữa của những người mẹ bị nhiễm HIV. Tuy nhiên, việc nghiên cứu nguy cơ lây truyền qua
sữa gặp nhiều khó khăn.Do đó, việc một bà mẹ bị nhiễm HIV có tiếp tục cho con bú sữa hay không
cần phải được cân nhắc cẩn thận
Nguy cơ lây truyền HIV
Phương thức lây truyên
*Truyền máu
*Mẹ truyền cho con
*Dùng chung kim, bơm tiêm
*Tình dục:
-Âm đạo
-Hậu môn
*Chăm sóc y tê
Trên thực tế, việc lây nhiễm virus HIV trong thời gian cho con bú được khẳng định trong một số
nghiên cứu dịch tể học đã được chính quyền và những người phụ nữ bị nhiễm HIV ở các nước có
thu nhập thấp tình trạng tiến thoái lưỡng nang. Nếu bộ y tế các nước khuyến cáo phụ nữ nhiễm
HIV không cho con bú và họ nghe theo lời khuyên đó, nhiều trẻ em có nguy cơ tử vong do tiêu chảy
và suy dinh dưỡng hơn là số trẻ được cứu sống nhờ việc giảm lây nhiễm HIV. Nguyên nhân của
hiện tượng này là phần lớn các bà mẹ không có đủ tiền mua sữa thay thế cho sữa mẹ ngay cả các
thực phẩm thay thế sữa mẹ được phát miễn phí cho các bà mẹ này, họ cũng không thể chuẩn bị
thức ăn cho con hợp vệ sinh. Vì thế, những phụ nữ bị nhiễm HIV nghèo đành chấp nhận nguy cơ lây
nhiễm HIV thông qua việc cho con bú bởi các giải pháp thay thế rủi ro cao hơn cho sức khỏe của
trẻ. Rõ ràng, quyết tâm cho con bú ở các bà mẹ này rất mãnh liệt. Trong khi đó, các quốc gia có
thu nhập cao và trung bình lại phản đối mạnh mẽ việc cho con bú, và một số nước như Thụy Điển
thậm chí cấm các bà mẹ nhiễm HIV nuôi con bằng sữa mẹ. Việc ngăn cấm mang tính chất đạo đức
này hiện nay đã trở nên nghiêm trọng hơn khi đã có thuốc làm giảm nguy cơ lây nhiễm, bởi
phương pháp này không thể áp dụng rộng rãi cho những cộng đồng có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất
*Những phương thức không lây truyền HIV
Ngoài các phương thức lây truyền chủ yếu đã trình bày ở trên, hiện nay chúng ta không có
bằng chứng về một phương thức lây truyền nào khác. HIV không lây truyền theo các phương thức
sau:
+Ho, hắt hơi
+Bắt tay, ôm hôn
+Dùng chung cốc chén, bát đĩa, thìa
+Tiếp xúc thông thường tại nơi ở và làm việc với người nhiễm HIV trừ khi có quan hệ tình dục
hay trẻ sinh ra từ người mẹ nhiễm HIV
+Vết đốt của côn trùng như muỗi, chấy, rận
2.3. Khối cảm nhiễm
-Tất cả mọi người đều có thể bị nhiễm
-Bệnh uốn ván: dùng giải độc tố uốn ván sẽ tạo được miễn dịch thụ động và tình trạng miễn
dịch tồn tại được ít nhất 10 năm sau khi tiêm chủng đầy đủ. Tiêm globulin miễn dịch uốn ván hoặc
kháng độc tố uốn ván (lấy từ ngựa) sẽ tạo được miễn dịch thụ động trong một thời gian ngắn. Trẻ
sinh ra từ những người mẹ được gây miễn dịch chủ động sẽ có miễn dịch thụ động và có thể bảo vệ
chó đã được tiêm phòng)
Lúc cắn
Trong vòng 10
ngày
Da lành
Da bị xước ở gần thần kinh
trung ương
Bình thường
Da bị xước
Bình thường
Cắn nhẹ
Có triệu
chứng
dại.Mất tích
không theo
dõi được chó
Nghi dại
Nếu bị vết thương và có tiếp
xúc giắn tiếp qua đồ vật có
dính nước dãi của xúc vật
Vết cắn gần não, vết cắn sâu,
có nhiều vết cắn
Vết cắn ở nơi có nhiều dây
sống bình thường
Tiêm kháng huyết thanh dại và
thần kinh (đầu, chi, bộ phận
sinh dục)
đã bán
tiêm vacxin phòng dại
3.2.Bệnh than
+Phải cách li động vật mắc bệnh than để điều trị
+Tiêm vacxin phòng bệnh than hàng năm cho gia súc tại những nơi có luu hành bệnh than
Nếu súc vật chết nghi ngờ là bệnh than thì phải cắt tai con vật, đóng gói cẩn thận theo qui
định và gửi về phòng xét nghiệm thú y. Lấy sắt nung đỏ áp vào chỗ đã cắt, nếu máu chảy ra thì
phải tẩy uế cẩn thận.Động vật chết vì bệnh than phải chôn cách xa nguồn nước, cho vào hố 2 lớp
thuốc khử trùng, vôi bột hoặc dung dịch clorua vôi 20% dưới và trên xác chết, chôn sâu tối thiểu 2
mét.Tốt nhất là đốt xác động vật chết rồi chôn đám tro theo đúng qui cách trên
+Không giết súc vật mắc bệnh than
3.3. Bệnh do Leptospira
+Diệt chuột không mang lại kết quả mong muốn vì thực tế không tiêu diệt được triệt để, trừ khi
cải thiện điều kiện sinh thái không thuận lợi với chuột trên một diện tích rộng lớn
3.4.Bệnh lây truyền qua đường tình dục, mắt hột, nấm
+Phát hiện sớm, điều trị đặc hiệu, triệt để
Không tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, mắt hột,
nấm
3.5.Uốn ván sơ sinh
+ Cải thiện việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ , trong đó chú trọng đến tăng tỉ lệ tiêm phòng uốn
ván cho phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt là phụ nữ có thai
nhưng khác vị trí tiêm
+Trong 6 tháng nếu tiêm phòng dại 2 lần thì lần thứ 2 số lượng mũi tiêm sẽ từ 20-50% tùy
theo vết cắn và thời gian bị cắn lần trước. Trường hợp này nên có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
c. Phản ứng phụ
+Tại chỗ: tẩy đỏ, ngứa
+Toàn thân:
-Đôi khi có hạch, nhức đầu, mệt mỏi, thường xuyên xảy ra ở người nghiện rượu
-Sau khi 3-4 mũi trở đi có thể bị mệt mỏi, buồn ngủ và rối loạn tiểu tiện, tê.
-Đôi khi có thể gây liệt tủy sống, liệt tủy hướng thượng, viêm não … trong trường hợp này cần
ngừng vacxin để điều trị bằng ACTH, Cortifoid và hội chẩn chuyên khoa để quyết định xem có được
tiêm vacxin dại nữa không?
Trong thời gian tiêm vacxin và 6 thâng sau khi tiêm vacxin dại không được dùng thuốc ACTH,
Cortison, không được uống rượu, không được làm việc quá sức
d.Bảo quản vacxin:
Vacxin dại Fuenzalida được bảo quản ở 4°C đến 8°C, tuyệt đối không để vacxin ở ngăn đá dưới
0°C
3.6.2. Kháng huyết thanh dại và cách sử dụng
Kháng huyết thanh dại được tinh chế từ huyết thanh ngựa sau khi đã được gây miễn dịch bằng
virut dại cố định
Dùng kháng nguyên thanh dại để trung hòa virut. Trong trường hợp thời gian ủ bệnh ngắn thì
kháng huyết thanh dại có tác dụng kéo dài thời gian ủ bệnh của virut
a.Chỉ định
-Tất cả các trường hợp có nhiều vết cắn, vết cắn sâu, vêt cắn gần thần kinh trung ương (đầu
mặt, cổ tay)
-Tiêm kháng huyết thanh dại càng sớm càng có hiệu quả cao. Nếu chậm cũng không nên quá
bảy ngày sau khi bị cắn
-Nên ủ ấm huyết thanh dại trước khi tiêm
b.Phương pháp tiêm và liều lượng
UV4
UV5
sơ sinh cao
Ít nhất 1 tháng sau UV1 và trước khi đẻ 1 tháng
Ít nhất 6 tháng sau UV2 hoặc trong thời kì có thai lần sau
Ít nhất 1 năm sau UV3 hoặc trong thòi kì có thai lần sau
Ít nhất 1 năm sau UV4 hoặc trong thời kì có thai lần sau
Không có khoảng cách tối đa giữa các mũi tiêm uốn ván
Ghi chú
-Một liều vắc xin uốn ván không bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh chống lại uốn ván và uốn ván sơ
sinh
-Tiêm 2 liều vacxin uốn ván có tác dụng bảo vệ 3 năm
-3 liều vacxin uốn ván tạo ra sự bảo vệ tốt trong 5 năm
-4 liều vacxin uốn ván tạo ra sự bảo vệ tốt trong 10 năm
-5 liều vacxin uốn ván tạo ra sự tạo miễn dịch suốt cuộc đời
-Mỗi người tiêm không quá 5 liều`