Nâng cao hiệu quả hoạt động đấu thầu ở Việt Nam thông qua việc ứng dụng đấu thầu qua mạng - Pdf 35

LỜI NÓI ĐẦU

Trong bất kì nền kinh tế nào, đấu thầu luôn là phương thức hữu hiệu nhất để chủ đầu tư có
thể chọn được những nhà thầu có khả năng tốt nhất và đưa ra mức giá hợp lý nhất. Đặc
biệt trong lĩnh vực mua sắm công, khi nguồn tiền không thuộc sở hữu của bất cứ cá nhân
cụ thể nào, thì việc sử dụng hiệu quả nguồn tiền đó chỉ có thể thực hiện được thông qua
hoạt động đấu thầu.
Thực tế chỉ ra rằng, đấu thầu thông thường ngày càng bộc lộ những hạn chế khó khắc
phục. Chi phí thực hiện cao, sự lách luật, đi đêm của các bên... đang là những điều cản trở
mục tiêu của hoạt động đấu thầu. Trong bối cảnh đó, đấu thầu qua mạng là phương pháp
tốt nhất để hạn chế những nhược điểm trên. Rút kinh nghiệm từ những nước đi trước và
nhận được sự trợ giúp nhiệt tình từ phía Hàn Quốc, Việt Nam đang từng bước triển khai
đấu thầu qua mạng để nâng cao hiệu quả của hoạt động đấu thầu. Đây là một bước đi lớn
trong công tác đấu thầu ở nước ta.
Xuất phát từ sự quan trọng của việc ứng dụng đấu thầu qua mạng ở Việt Nam , tôi đã chọn
đề tài: "Nâng cao hiệu quả hoạt động đấu thầu ở Việt Nam thông qua việc ứng dụng đấu
thầu qua mạng" để viết chuyên đề tốt nghiệp. Trong quá trình thực hiện, tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc tới chị Vũ Quỳnh Lê và các chuyên viên của Cục Quản lý đấu thầu - Bộ KHĐT,
đã giúp đỡ tôi thu thập tài liệu để hoàn thành bài viết.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU QUA MẠNG

Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đấu thầu qua mạng
Khái niệm
Đấu thầu qua mạng là việc ứng dụng công nghệ thông tin (đặc biệt là mạng Internet) vào
quá trình đấu thầu bởi Chính phủ, nhằm kiểm soát những mối quan hệ về đấu thầu với các
nhà cung cấp và nhà thầu trong việc đấu thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư
vấn. Đấu thầu qua mạng sẽ dỡ bỏ khoảng cách vật lý về không gian và thời gian, cho phép
cung cấp một luồng thông tin minh bạch và hiệu quả cùng quá trình thực hiện rộng rãi hơn.
Các bên tham gia đấu thầu qua mạng phải thực hiện khai báo, đăng tải nội dung HSMT,

động trên mạng giúp cho quá trình đấu thầu diễn ra công khai, đúng thủ tục qui trình trong
luật đấu thầu, bảo mật an toàn thông tin, tiến từng bước đến áp dụng tác nghiệp đấu thầu
qua mạng, góp phần giảm gánh nặng quản lý và chi phí trong công tác đấu thầu.
Hệ thống đấu thầu qua mạng được phát triển trên nền web thiết kế với giao diện thân thiện,
hỗ trợ tính năng đa ngữ. Với tiêu chí mang đến cho người dùng cuối (các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu tổ chức đấu thầu và tham gia thầu) sử dụng phần lớn các tiện ích của mạng máy
tính, mạng Internet với một cách tiếp cận tự nhiên nhất, giúp họ có một phong cách làm
việc hiện đại, hiệu quả, chuyên nghiệp.
Về mặt công nghệ, hệ thống đấu thầu qua mạng được xây dựng trên nền công nghệ Portal
mã nguồn mở, kỹ thuật xây dựng portlet theo đúng chuẩn quốc tế JSR 168, có khả năng
tương thích, mở rộng cao. Về mặt kiến trúc hệ thống, toàn bộ phần mềm được thiết kế theo
mô hình phân tầng (3-tiers) và triết lý MVC (Model View Controller). Về qui trình phát
triển, hệ thống đấu thầu qua mạng là kết quả của việc áp dụng linh hoạt qui trình eXtreme
Programming (XP), đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm. Về tính ứng dụng, hệ
thống đấu thầu qua mạng cơ bản số hóa được qui trình nghiệp vụ đấu thầu, bảo đảm tính
tin cậy và an toàn trong suốt quá trình thực hiện đấu thầu. Về vấn đề bảo mật hệ thống
được đảm bảo bởi các cơ chế xác nhận và chứng thực JAAS (Java Authentication and
Authorization Service), đồng bộ hóa LDAP (Lightweight Directory Access Protocol) và
tích hợp cơ chế chứng thực JA-SIG (Out-of- the box Single Sign-On JA-SIG Central
Authentication Service) do Portal mang lại. Về an toàn truyền tin, tính tin cậy các thông tin
được đảm bảo với chữ kí điện tử (digital signature) và giải pháp SSL VPN.
Vai trò của đấu thầu qua mạng
Đâu thầu qua mạng là một giải pháp mới cho Chính phủ điện tử trong lĩnh vực đấu thầu tại
Việt Nam . Hệ thống đấu thầu qua mạng có vai trò quan trọng như sau :
Tăng cường tính công bằng, công khai, minh bạch và hiệu quả trong công tác đấu thầu.
Đưa quy trình đấu thầu dần theo đúng qui trình đấu thầu chuẩn trong môi trường hiện đại
hội nhập kinh tế quốc tế.
Đảm bảo thực hiện nghiêm túc và tuân thủ chặt chẽ hơn nữa các qui định của Nhà nước và
pháp luật Việt Nam về đấu thầu.
Với giao diện thân thiện, đơn giản, dễ sử dụng sẽ tạo thuận lợi cho quá trình đấu thầu diễn

Công khai thông tin
Nâng cao tính công
bằng và cạnh tranh
Cải thiện việc tiếp cận
vào thị trường của
Chính phủ
Mở rộng thị trường
Chính phủ cho các nhà
cung cấp mới
Khuyến khích/kích thích
khối doanh nghiệp vừa
và nhỏ tham gia
Cải thiện việc tiếp cận
các thông tin mua sắm
công khai
Chính phủ thông tin cho
doanh nghiệp
Dễ dàng tiếp cận các thông
tin mua sắm Chính phủ
Có thể theo dõi, giám sát
việc thực hiện dấu thầu
Hiệu
quả
Chi phí
Có được giá tốt hơn
Giảm thiểu chi phí giao
dịch
Giảm được nhân sự mua
sắm
Giảm được chi phí ngân

Kinh nghiệm của một số nước cho thấy hiệu quả tác động của mua sắm công qua mạng là
rất lớn:
Tại Đức: Giảm được 10-30% giá mua và 25-75% chi phí giao dịch.
Tại Anh: 500 trường học giảm giá mua tới £100 triệu/năm.
Châu Âu: Chi phí chuyển hệ sang sử dụng hệ thống simap.eu.int của Châu Âu khoảng €10
triệu, việc dừng phân phối các hồ sơ tài liệu bằng giấy tiết kiệm khoảng €70 triệu/năm.
Thời gian từ khi có yêu cầu đến khi ký hợp đồng giảm từ 52 ngày xuống còn 10-15 ngày.
Hàn Quốc: Tiết kiệm được $17,1 tỷ trong khi chi phí đầu tư cho hệ thống là $25 triệu.
Trong 4 năm, cơ quan mua sắm giảm từ 1058 xuống 935 người trong khi khối lượng mua
sắm tăng tới 30%. Việc thanh toán hoàn toàn tự động không chậm hơn 4 giờ.
Rumani: Trong 4 tháng của năm 2003, khoảng 1000 cơ quan mua sắm và 8000 nhà cung
cấp tham gia với hơn 60.000 giao dịch trên hệ thống đấu thầu qua mạng của Chính phủ (e-
GP) đã tiết kiệm được 22% ($35,5 triệu trên tổng số $161,4 triệu).
Bảng 1.2: Tỷ lệ tiết kiệm đạt được khi ứng dụng mua sắm công qua mạng
STT Các nước đã triển khai % Tiết kiệm
1 Chương trình cải tiếm mua sắm

Welsh National Assembly (BVW) 3%
Northern Ireland Purchasing Agency 12%
UK Central Government Departments 7%
2 Hệ thống mua bán qua mạng

UK OGC 5%
UK GCAT 10%
Chính phủ Đan Mạch 2-8%
3 Hệ thống đấu thầu điện tử
Chính phủ Canada (MERX) 15%
4 Đấu giá ngược
US Government – buyers.gov 7-10%
US Navy NAVICP 10-20%

mạng đấu thầu.
Phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, cơ quan liên quan như: Tài Chính,
Công thương, Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ để ban hành các văn bản
pháp lý hướng dẫn về nghiệp vụ và triển khai áp dụng hình thức đấu thầu mua sắm qua
mạng.
Thực hiện giám sát việc triển khai áp dụng và ra văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu
qua mạng được Quốc hội hoặc Chính phủ ban hành.
Quản lý toàn bộ các thông tin về hoạt động đấu thầu mua sắm trên hệ thống.
Đầu mối tổ chức hoạt động nghiên cứu, đánh giá hiệu quả áp dụng và thực thi Luật đấu
thầu mua sắm Chính phủ qua mạng để kiến nghị các biện pháp quản lý hữu hiệu. Đề xuất
sửa đổi, bổ sung khi cần thiết.

+ Xây dựng mạng đấu thầu
Đầu mối quản lý và xây dựng mạng đấu thầu mua sắm hàng hóa, đề xuất mô hình quản lý,
lựa chọn công nghệ.
Xây dựng quy trình đăng tải và thực hiện quản lý các thông tin đăng tải của chủ đầu tư và
nhà thầu trên hệ thống.
Xây dựng và hoàn thiện toàn bộ các nghiệp vụ và thủ tục đấu thầu qua mạng của hệ thống
bao gồm: đấu thầu điện tử, ký hợp đồng điện tử, bàn giao hàng hóa, nghiệm thu, thanh toán
điện tử, kê khai thuế – hải quan quản lý Nhà nước đối với hệ thống đấu thầu quốc gia.
Xây dựng mẫu thủ tục kê khai, thủ tục giao dịch chuẩn áp dụng cho mọi đối tượng tham
gia vào hệ thống.
Thuê một tổ chức (doanh nghiệp) thực hiện vận hành hệ thống dưới sự giám sát và kiểm
soát về chất lượng của Bộ KHĐT.
c. Cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực chuyên ngành gồm các Bộ: Tài chính, Thông tin
và Truyền thông, Công thương, Ban cơ yếu Chính phủ…).
+ Bộ Tài chính:
Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công thương, Ban Cơ yếu Chính phủ để
ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn về quản lý, trình tự, thủ tục thực hiện các
nghiệp vụ về thuế, hải quan, quản lý thông tin về giá cả bằng công cụ điện tử trên mạng

Chính phủ.
d. Các chủ đầu tư (bên mời thầu) là cơ quan mua sắm công.
Các chủ đầu tư (bên mời thầu) là những cơ quan Nhà nước có hoạt động mua sắm nằm
trong danh mục hàng hóa bắt buộc phải mua sắm tập trung trên mạng đấu thầu mua sắm
hàng hóa của Chính phủ. Vì vậy, các cơ quan này phải đăng ký tham gia sử dụng mạng đấu
thầu và tuân thủ quy trình thủ tục đấu thầu theo Luật đấu thầu và văn bản hướng dẫn thi
hành của Chính phủ về đấu thầu mua sắm qua mạng.
Phối hợp với Bộ KHĐT, Bộ Công thương và Cơ quan vận hành mạng đấu thầu để cung
cấp và đăng tải công khai các thông tin: giới thiệu về chủ đầu tư, thông tin về mua sắm
hàng hóa, giá cả, yêu cầu về chủng loại, kỹ thuật...để các nhà thầu tìm hiểu trong quá trình
đấu thầu hoặc khi cần tham khảo.
Phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ trong việc đăng ký chữ ký số để sử dụng trong các
hoạt động giao dịch điện tử trong đấu thầu qua mạng.
e. Các nhà thầu tham gia đấu thầu cung cấp hàng hoá.
Là các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp hàng hóa cho các cơ quan Nhà nước bằng
phương thức đấu thầu qua mạng đấu thầu của Chính phủ.
Các nhà thầu phải đăng ký tham gia vào hệ thống đấu thầu mua sắm hàng hóa của Chính
phủ và tuân thủ các điều kiện và yêu cầu về trình tự, thủ tục đấu thầu theo Luật đấu thầu và
văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ về đấu thầu mua sắm hàng hóa qua mạng.
Các nhà thầu phải đăng ký chứng thực chữ ký số tại cơ quan có thẩm quyền do Bộ Thông
tin và Truyền thông cấp phép và bảo đảm giá trị pháp lý về các giao dịch điện tử theo
hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Các nhà thầu phải cung cấp thông tin cho cơ quan vận hành mạng đấu thầu mua sắm và
đăng tải công khai các thông tin: giới thiệu về nhà thầu, các hồ sơ pháp lý về nhà thầu,
năng lực tài chính – kỹ thuật, giới thiệu về các sản phẩm hàng hóa (chủng loại, chất lượng,
giá cả, bảo hành, hỗ trợ khách hàng...) và các điều kiện thương mại có liên quan trên mạng
đấu thầu mua sắm của Chính phủ.
g. Cơ quan quản lý vận hành hệ thống
Là tổ chức do Bộ KHĐT lựa chọn và thuê dịch vụ để vận hành mạng đấu thầu mua sắm
của Chính phủ.

1.3.2.2. Các thành phần trong hệ thống đấu thầu qua mạng
Một hệ thống đấu thầu qua mạng tiêu biểu bao gồm các thành phần:
- Thành phần đăng ký tài khoản người dùng và quản lý chứng thực cho toàn bộ
người dùng.
- Thành phần công bố thông tin đấu thầu: Bao gồm việc chuẩn bị kế hoạch đấu thầu,
mời thầu, khả năng đưa và lấy dữ liệu đấu thầu về.
- Thành phần tìm kiếm thông tin đấu thầu.
- Thành phần nộp HSDT.
- Thành phần mở HSDT.
- Thành phần đánh giá HSDT.
- Thành phần công bố thông tin kết quả đấu thầu.
1.3.2.3. Các bước hoạt động của hệ thống đấu thầu qua mạng
Hình 1.2: Mô hình mô tả các bước hoạt động trong hệ thống
đấu thầu qua mạngHình 1.3: Mô tả mô hình chức năng của một hệ thống
đấu thầu qua mạng

Cụ thể các lớp chức năng như sau:
Lớp giao tiếp người dùng: Hỗ trợ giao tiếp giữa hệ thống mua sắm điện tử với các
đối tượng sử dụng hệ thống như Bên bán (Nhà thầu), Bên mua (Các đơn vị sử dụng ngân
sách Nhà nước trong mua sắm công), và Bộ phận vận hành hệ thống, các đối tượng giao
tiếp với hệ thống được mã hóa bảo mật bằng mã hóa SSL và chứng thực sử dụng chứng chỉ
số. Lớp giao tiếp với người dùng bao gồm các thành phần chức năng sau:
Cổng thông tin mua sắm điện tử: Hỗ trợ tất cả các tính năng của cổng thông tin
(quản lý tài liệu, nội dung, làm việc nhóm, thông báo) cho người dùng hoặc nhóm người
dùng để họ tương tác với các chức năng được hệ thống cấp phép theo vai trò.
Giao diện cá nhân hóa cho người dùng/nhóm người dùng: Tính năng cá nhân hóa
giao diện của cổng thông tin cho người dùng

thống mua sắm điện tử.
- Liên kết với hệ thống là các cơ quan Nhà nước quản lý các vấn đề về cấp chứng chỉ
số, quản lý cơ sở hạ tầng CNTT, quản lý mua sắm hàng hóa tập trung, giám sát hoạt động
của hệ thống tương ứng với các cơ quan: Trung tâm chứng thực số quốc gia (thành lập
trong năm 2008), Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Tài chính.
Hệ thống mua sắm điện tử phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu chức năng như
trong chu trình mua sắm như trên. Mô hình sau mô tả các thành phần chính của hệ thống
mua sắm điện tử cùng với các mối tương quan với các bộ phận chức năng khác.
Hình 1.4: Chức năng của hệ thống đấu thầu qua mạng Mô tả chức năng hệ thống
- Hệ thống đấu thầu điện tử:
Đăng ký người dùng và phát hành chứng chỉ chữ ký số: Cho phép đăng ký sử dụng hệ
thống, cấp phát định danh, mật khẩu và phát hành chứng chỉ chữ ký số cho tất cả người
dùng trong hệ thống.
Chức năng chuẩn bị đấu thầu qua mạng: Cho phép chuẩn bị HSMT, thư mời thầu, công bố
thông tin mời thầu.


- Hệ thống thanh toán qua mạng
Chức năng quản lý nhận/kiểm tra: Chức năng cho phép kiểm tra tiến độ thực hiện Hợp
đồng/Đơn hàng như đã thực hiện hay chưa, đang thực hiện hay đã hoàn thành.
Chức năng quản lý thanh toán trong quá trình thực hiện hoặc sau khi hoàn thành thực hiện
hợp đồng/đơn hàng.
Quản lý yêu cầu thanh toán.
Quản lý hóa đơn thanh toán trong quá trình thực hiện hoặc sau khi hoàn thành thực hiện
hợp đồng/đơn hàng.
Tích hợp với các hệ thống thông tin tài chính, kiểm tra các loại thuế liên quan.
Quản lý việc hoàn tiền: Quản lý việc hoàn trả tiền trong trường hợp giá thực hiện hợp
đồng/đơn hàng thay đổi.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI ĐẤU THẦU QUA MẠNG
Ở VIỆT NAM

2.1. Sự cần thiết phải ứng dụng đấu thầu qua mạng trong hoạt động đấu thầu ở Việt Nam
Đấu thầu là phạm trù kinh tế tồn tại trong nền kinh tế thị trường, trong đó người mua đóng
vai trò tổ chức để các nhà thầu (những người bán) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của người
mua là có được hàng hoá và dịch vụ thoả mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất
lượng và chi phí thấp nhất. Mục tiêu của người thầu (nhà thầu) là giành được quyền cung
cấp hàng hoá dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào đồng thời đảm bảo mức lợi
nhuận cao nhất có thể.
Công tác quản lý đấu thầu hiện nay nổi lên những vấn đề sau :
- Các chủ đầu tư, bên mời thầu thực hiện đấu thầu “nội bộ” mặc dù chọn hình thức lựa
chọn nhà thầu rộng rãi, nhưng thực tế là chỉ định thầu (thực hiện đấu thầu một cách hình
thức, giả vờ), đấu thầu thiếu công khai, minh bạch và sự giám sát của cộng đồng. Các gói
thầu bị xé nhỏ để phù hợp với Luật nhằm thực hiện hình thức chỉ định thầu. Chủ đầu tư
thường đưa ra rất nhiều lý do, những nguyên nhân nghe thực sự hợp lý để lách luật và
tránh đấu thầu rộng rãi. Đây là một trong những vấn đề nổi cộm mà các cơ quan kiểm tra

thầu xây lắp và thiết bị thuộc dự án xây dựng mới Trường THCS Trung An, Củ Chi-
TPHCM). Trung bình mỗi gói thầu có đến 20 nhà thầu tham dự, cộng dồn với chi phí đi lại
của nhà thầu khi mua HSMT, nộp HSDT, in ấn tài liệu... có thể thấy, khoản tiền bỏ ra cho
hoạt động này là không nhỏ. Lập kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, nhận hồ sơ đấu
thầu, mở thầu, đánh giá hồ sơ, thẩm định và phê duyệt, hoàn thiện hợp đồng, ký hợp
đồng... Phải trải qua ít nhất 8 giai đoạn và khá nhiều thủ tục, một dự án mới được chuyển
đến tay nhà thầu thông qua giấy tờ, con dấu, văn bản...
- Lãng phí thất thoát trong xây dựng cơ bản và mua sắm hàng hóa công. Thái độ thờ ơ, vô
trách nhiệm của các cơ quan chủ quản và chủ đầu tư đã dẫn đến hàng loạt những sai phạm
trong đấu thầu. Hàng hóa kém chất lượng, công trình không đảm bảo yêu cầu khiến hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư của Việt Nam vào hàng thấp nhất trong các quốc gia đang phát
triển.
- Sức ép hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu khách quan nền kinh tế thị trường. Rất nhiều
các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, JBIC hoặc các đối tác của Việt Nam đang đòi
hỏi những chế tài xử phạt và cơ chế quản lý nghiêm minh hoạt động đấu thầu. Những vụ
tiêu cực như PMU 18, PCI,... buộc chúng ta phải có phương thức kiểm soát hiệu quả hơn
quá trình mua sắm công.
Trong bối cảnh đó, TMĐT ngày càng được phát triển và ứng dụng rộng rãi và sẽ trở thành
hình thức giao dịch cơ bản trong thế kỷ 21. Việc áp dụng TMĐT giúp cho doanh nghiệp
nâng cao năng lực canh tranh, tiết kiệm chi phí và nhanh chóng hội nhập với kinh tế toàn
cầu. Tham gia TMĐT không chỉ là các doanh nghiệp và người dân, mà Chính phủ là một
chủ thể tích cực tham gia ứng dụng TMĐT. Ngoài việc tạo lập ra môi trường cho TMĐT,
Chính phủ còn là chủ đầu tư lớn của thị trường TMĐT.
Theo các nghiên cứu khảo sát gần đây, chi tiêu Chính phủ của các nước hàng năm chiếm
khoảng từ 10% - 20% GDP của mỗi nước. Chi phí mua sắm Chính phủ của EU chiếm
khoảng 16% GDP, Ý khoảng 11,9%, trong khi Hà Lan khoảng 21,5%. Trung Quốc chi tiêu
Chính phủ khoảng $600 tỷ năm 2006.
Do giá trị mua sắm công là rất lớn đối với mỗi quốc gia, hàng hoá và dịch vụ mua sắm
công cũng hết sức đa dạng nên hàng năm các quốc gia phải dành rất nhiều thời gian và
nguồn lực để tiến hành đấu thầu mua sắm công. Việc ứng dụng TMĐT vào mua sắm công

chính – theo Báo cáo kiến trúc tổng thể dự án: “Ứng dụng TMĐT trong mua sắm Chính
phủ) làm việc trong tháng = 28181VNĐ/1 ngày = 0,28*10-4 tỷ (ký hiệu là S)
Khi thực hiện online theo quy trình đấu thầu mô tả ở dưới, thời gian tiết giảm như sau:
Bảng 2.1: Thời gian tiết giảm được khi đấu thầu qua mạng
TT
Các bước trong quy trình
đấu thầu
Trước khi có hệ thống
(ngày)
Sau khi có hệ
thống (ngày)
Thời gian tiết
giảm (ngày)
1
Chuẩn bị đấu thấu:
Sơ tuyển (nếu có)
Lập HSMT
Thông báo mời thầu
Theo Luật đấu thầu;
thời gian thông báo
mời thầu tối thiểu là 10
ngày trước khi phát
hành HSMT.
Giả thiết thời gian
tối thiểu là 5 ngày
5
2
Tổ chức đấu thấu:
Phát hành HSMT
Lập tổ chuyên gia xét thầu

Tư vấn Vốn đầu tư phát triển 8.650 3.545,58 3.336,80
Hàng hóa Vốn đầu tư phát triển 4.341 84.205,75 81.763,92
Loại Nguồn vốn
Tổng số gói
thầu
Tổng giá gói
thầu
Tổng giá trúng
thầu
Xây lắp Vốn đầu tư phát triển 17.563 77.531,91 74.152,29
Tổng cộng (1) 30.554 165.283,24 159.253,01
Tư vấn
vốn liên doanh, cổ phần, Hợp
đồng hợp tác kinh doanh

Hàng hóa
Vốn liên doanh, cổ phần, hợp
đồng hợp tác kinh doanh
64% (1.188) 14.331,80
74,6%
(13.431,77)
Xây lắp
vốn liên doanh, cổ phần, hợp
đồng hợp tác kinh doanh

Tổng cộng (2) 1.857 19.167,10 18.005,05
Tư vấn Vốn chi tiêu thường xuyên 95 22,72 19,98
Hàng hóa Vốn chi tiêu thường xuyên 1.385 2.398,48 2.188,67
Tổng cộng (3) 1.480 2.421,19 2.208,65
(1)+(2)+(3) 33.891 186.871,53 179.466,72

2.2.1 Thực trạng các yếu tố sẵn có phục vụ cho việc triển khai đấu thầu qua mạng ở Việt
Nam
2.2.1.1. Tình hình phát triển TMĐT ở Việt Nam
TMĐT đã trở thành một khái niệm quen thuộc đối với các doanh nghiệp và hầu hết người
dân. Các doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ các cơ hội của TMĐT và quan tâm tới việc
xây dựng các mô hình kinh doanh TMĐT, đưa TMĐT thành một phần không thể tách rời
của chiến lược phát triển doanh nghiệp trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển
TMĐT sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy thương mại và nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới.
Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi cho ứng dụng và phát triển TMĐT, xây dựng
khuôn khổ pháp lý, thiết lập sự cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ tạo ra cơ chế giải quyết tranh
chấp, bí mật riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng. Luật giao dịch TMĐT, Luật CNTT, các
Nghị Định về TMĐT, về ứng dụng CNTT trong cơ quan Nhà nước, về chứng thực số và
chữ ký số v.v. đã tạo khung pháp lý căn bản để triển khai ứng dụng TMĐT. Hạ tầng CNTT
và truyền thông của Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ, số người sử dụng Internet đã đạt
22% là tỷ lệ khá cao cho ứng dụng TMĐT.
Nhà nước cần phải đi tiên phong trong việc ứng dụng TMĐT, chính phủ điện tử, để cung
cấp qua môi trường mạng các dịch vụ công như hải quan điện tử, thuế điện tử, cấp phép
nhập khẩu điện tử. Chính các dịch vụ công của Nhà nước sẽ lôi kéo các doanh nghiệp tham
gia vào môi trường mạng, tham gia TMĐT.
Các cơ quan Nhà nước đang tích cực triển khai cung cấp cho người dân và doanh nghiệp
các dịch vụ công. Tổng Cục Thuế, Hải Quan đang tích cực triển khai các chương trình khai
báo thuế, khai báo hải quan qua mạng. Chính phủ cũng đã xác định đẩy mạnh ứng dụng
TMĐT trong mua sắm công để phát huy vai trò tiên phong của các cơ quan Nhà nước
trong việc ứng dụng TMĐT.
2.2.1.2. Hiện trạng ứng dụng TMĐT trong công tác đấu thầu
Nhận thức rõ vai trò của TMĐT trong các hoạt động mua sắm công, trong kế hoạch tổng
thể phát triển TMĐT đã xác định đến 2010 “Tất cả các chào thầu mua sắm Chính phủ được
công bố trên các trang tin điện tử của các cơ quan Chính phủ và 30% mua sắm Chính phủ
được tiến hành trên mạng”. Việc ứng dụng đấu thầu qua mạng sẽ tạo điều kiện và bắt buộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status