Hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
--------------------

NGUYỄN XUÂN HIỆP

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014


i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
--------------------

NGUYỄN XUÂN HIỆP

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng


Nguyễn Xuân Hiệp


iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa

i

Lời cam đoan

ii

Mục lục

iii

Danh mục các chữ viết tắt

vi

Danh mục các bảng

vii

Danh mục các hình

viii


1.2.2. Các bộ phận cấu thành của chính sách tài chính đối với cơ sở
giáo dục đại học

32

1.2.3. Vai trò và yêu cầu của chính sách tài chính đối với cơ sở giáo
dục đại học

52

1.3. CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI MỘT SỐ CƠ SỞ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC NGÀNH AN NINH, CẢNH SÁT TRÊN THẾ GIỚI VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

58

1.3.1. Chính sách tài chính đối với một số cơ sở giáo dục đại học
ngành an ninh, cảnh sát các nước trên thế giới

58

1.3.2. Bài học kinh nghiệp về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo
dục đại học ngành Công an Việt Nam
Kết luận chương 1

64
66




92

2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN

103

2.3.1. Những thành tựu, kết quả đạt được

103

2.3.2. Những hạn chế, bất cập

106

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

113

Kết luận chương 2

116

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN

118

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH

3.3. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI
VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN

129

3.3.1. Giải pháp tổng thể về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục
đại học ngành Công an

129

3.3.2. Nhóm giải pháp về khai thác, huy động nguồn tài chính cho các
cơ sở giáo dục đại học ngành Công an

138

3.3.3. Nhóm giải pháp về chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài
chính cho các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an

145

3.4. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG
CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

149

Kết luận chương 3

153

KẾT LUẬN

ĐHANND
ĐHCSND
ĐHKTHC
ĐHPCCC
EU
GD
GDĐH
GDĐT
GDP
GDP-đn
GV
HH
HVANND
HVCSND
KHCN
KTTT
KTXH
NCKH
NSNN
OECD
PCCC
SN
SV
UNDP
UNESCO
WB
XH

Ngân hàng Phát triển châu Á
An ninh nhân dân

Sự nghiệp
Sinh viên
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc
Ngân hàng Thế giới
Xã hội


vii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Số hiệu

Tên bảng

Bảng 1.1: Suất thu lợi của GDĐH

Trang
23

Bảng 1.2: Chi NSNN cho GDĐH bình quân một SV so với GDP-đn của
một số nước năm 2004 (theo phương pháp sức mua tương đương)

33

Bảng 1.3: Chi NSNN cho GDĐH Việt Nam (2007 - 2010)

34

Bảng 1.4: Tình hình chi GD ở các nước EU năm 2001


Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả huy động các nguồn tài chính của các CSGDĐH
ngành Công an từ năm 2006 - 2012

79

Bảng 2.5: Kinh phí thường xuyên của các CSGDĐH ngành Công an

82

Bảng 2.6: Kinh phí SN GDĐT của các CSGDĐH ngành Công an

83

Bảng 2.7: Kinh phí NCKH của các CSGDĐH ngành Công an

85

Bảng 2.8: Kinh phí đầu tư XDCB của các CSGDĐH ngành Công an

85

Bảng 2.9: Nguồn ngoài NSNN của các CSGDĐH ngành Công an

89

Bảng 2.10: Cơ cấu các nội dung chi kinh phí thường xuyên của các CSGDĐH
ngành Công an
Bảng 2.11: CPĐV của GDĐH ngành Công an


Hình 2.3: Cơ cấu các nguồn kinh phí thuộc NSNN của các CSGDĐH ngành
Công an

81

Hình 2.4: Tương quan giữa tốc độ tăng NSNN cấp cho các CSGDĐH với
tốc độ tăng ngân sách chi an ninh, SV ĐH hệ chính quy ngành
Công an

82

Hình 2.5: Cơ cấu nguồn ngoài NSNN của các CSGDĐH ngành Công an

89

Hình 2.6: Cơ cấu chi kinh phí thường xuyên ngành Công an

94

Hình 2.7: Các hình thức cấp phát kinh phí thường xuyên cho các CSGDĐH
ngành Công an

98


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định đến sự phát triển
KTXH. Trong thời đại toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và sự phát triển nhanh chóng của

2
hóa, hiện đại hóa là rất lớn. Trong những năm qua, mặc dù NSNN còn khó khăn,
song Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc đầu tư cho GDĐT và tỷ trọng chi
NSNN cho GD đạt đến 20% tổng chi NSNN. Tuy nhiên, dù quy mô đào tạo tăng
nhanh, đặc biệt là GDĐH, nhưng chất lượng đào tạo còn chưa đáp ứng được yêu cầu
của XH, còn nhiều yếu kém, chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn tài chính Nhà
nước đầu tư cho lĩnh vực này. Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo tại các
CSGDĐH ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu.
Để nâng cao chất lượng đào tạo ĐH và phát triển toàn diện GDĐH đòi hỏi phải
thực hiện có kết quả chương trình cải cách GDĐH. Đến lượt nó, cải cách GDĐH đòi
hỏi phải có nguồn lực tài chính lớn và có chính sách tài chính đúng đắn đối với lĩnh
vực GDĐH. Điều đó đặt ra vấn đề cấp thiết là làm thế nào để có chính sách tài chính
thích hợp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn tài chính hạn hẹp
cho phát triển GDĐH nước ta. GDĐH ngành Công an với mục tiêu đào tạo nguồn lực
cán bộ có trình độ cao đẳng, ĐH và sau ĐH cho công tác đảm bảo an ninh quốc gia,
giữ gìn trật tự XH của đất nước cũng không nằm ngoài thực trạng đó của nền GDĐH
nước nhà. Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách tài chính đối với các
CSGDĐH nói chung và các CSGDĐH ngành Công an nói riêng đang là vấn đề được
quan tâm hơn bao giờ hết đối với các nhà nghiên cứu, đồng thời mang ý nghĩa khoa
học và thực tiễn rất to lớn. Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành Công an”.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chính sách tài chính đối với CSGDĐH nói chung đã được giới nghiên cứu và
các nhà quản lý rất quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Dưới các góc độ
khác nhau, những công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề có liên quan
trực tiếp đến đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ của tác giả. Nhìn chung có thể phân
chia các kết quả nghiên cứu liên quan đến chính sách tài chính đối với các CSGDĐH
theo các nội dung chính như sau:
2.1. Những vấn đề mang tính tổng thể về chính sách tài chính đối với cơ sở
giáo dục đại học

được coi như một công ty - “một thực thể được thành lập theo luật pháp và hoạt động
vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, do Chính phủ hay tư nhân sở hữu hoặc kiểm
soát”. Cùng chung góc nhìn này và có những phân tích cụ thể hơn, Phạm Chí Thanh
(2011) (“Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam”,
Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân), TS Nguyễn Trường Giang
(2013) trong bài tham luận Đổi mới cơ chế tài chính gắn với nâng cao chất lượng đào
tạo ĐH, thực hiện mục tiêu công bằng hiệu quả (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài
chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP,


4
Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng các trường ĐH cần được Nhà nước giao
vốn và bảo toàn phát triển vốn, được quyết định việc sử dụng tài sản, huy động vốn,
góp vốn liên doanh, liên kết; TS Nguyễn Ngọc Anh và các đồng sự (2013) trong bài
tham luận Cơ chế phân bổ ngân sách cho đại học công lập: hiện trạng và khuyến nghị
(Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính
- Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng các
trường cần được cho phép sở hữu và tự quyết về việc sử dụng tài sản và đi vay; Lê
Phước Minh (2005) (Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam,
Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng) đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận
về các chiến lược tăng thu nhập, giảm chi phí và tính toán CPĐV, tỷ lệ thu hồi trong
đầu tư trong GDĐH tương tự như một doanh nghiệp; Bùi Tiến Hanh (2007) (Hoàn
thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đề nghị thí điểm cơ chế cổ phẩn hóa nhằm chuyển
các CSGD công lập sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp.
+ Dưới góc nhìn có tính thực tế hơn đối với GDĐH nước ta hiện nay, TS Lê
Xuân Trường (2012) (Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
giáo dục đại học và cao đẳng công lập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính,
Học viện Tài chính) cho rằng quyền tự chủ ở mức độ cần phải vừa đảm bảo sự quản
lý của Nhà nước vừa phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo, cụ thể: thủ trưởng

+ Về phương thức quản lý NSNN theo đầu ra, TS Nguyễn Trường Giang (2013)
cho rằng cần thực hiện quản lý NSNN theo đầu ra gắn với hệ thống định mức kinh tế
kỹ thuật, các kết quả đánh giá, kiểm định độc lập về chất lượng đào tạo. Đồng thời,
thực hiện chính sách Nhà nước đặt hàng đối với những ngành đào tạo cho nhu cầu sử
dụng của Nhà nước và người học phải cam kết chấp nhận sự phân công của Nhà
nước. Đồng ý với quan điểm này, TS Vũ Nhữ Thăng và Ths Hoàng Thị Minh Hảo
(2013) trong bài tham luận Đổi mới chính sách tài chính đối với các cơ sở đại học
công lập gắn với tăng trưởng bền vững (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính
đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài
chính, tháng 11 năm 2012) đi vào phân tích cụ thể hơn các tiêu chí làm căn cứ phân
bổ NSNN cho các CSGDĐH theo đầu ra, gắn với các mục tiêu công bằng, hiệu quả,
nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề đào tạo. Đồng thời, kiến nghị Nhà nước cần sớm
hoàn thiện hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu chất
lượng đầu ra, tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo,...
+ Về lộ trình thực hiện phương thức quản lý NSNN theo đầu ra, Bùi Tiến Hanh
(2007) (Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đề xuất áp dụng khuôn khổ
chi tiêu trung hạn, theo đó cần dự toán đầy đủ mọi nguồn tài chính sẵn có (NSNN và


6
ngoài NSNN) cho phát triển GD từng năm và trung hạn 03 năm theo kiểu cuốn chiếu.
TS Trịnh Đình Dũng (2013) trong bài tham luận Một số vấn đề nổi lên qua nghiên
cứu bước đầu về chi tiêu NSNN cho GDĐH ở Việt Nam (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ
chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội,
UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) đưa ra đề xuất muộn nhất là giữa kế hoạch
5 năm (2016 - 2020) chuyển sang quản lý NSNN cho GDĐH theo đầu ra và khuôn
khổ chi tiêu trung hạn (3 - 4 năm theo cách cuốn chiếu).
+ Dưới góc nhìn thiên về các điều kiện, biện pháp cụ thể nhằm áp dụng phương
thức quản lý NSNN theo đầu ra, TS Nguyễn Ngọc Anh và các đồng sự (2013) cho

giúp tăng cường hiệu quả, hiệu lực chi NSNN; đặc biệt các tác động của các đầu ra, kết
quả cuối cùng đối với phát triển KTXH được phân tích, đánh giá và dự báo ngay từ khi
các khoản chi NSNN chưa được thực hiện (trong quá trình xây dựng dự toán NSNN).
- Về hiệu quả đầu tư cho GDĐH:
+ Đặng Văn Du (2004) (Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho
đào tạo đại học ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đã đề xuất
các giải pháp nâng cao hiệu quả theo 02 nhóm gồm: thứ nhất, hiệu quả trong, đó là
việc trả lương cho GV theo số lượng và chất lượng lao động, hạ tỷ lệ SV/GV, đầu tư
cơ sở hạ tầng, giáo trình tài liệu,...; thứ hai, hiệu quả ngoài, đó là từng bước thực hiện
công bằng trong GDĐH, trong đó mức học phí/1SV/năm = Tổng chi thường xuyên
năm/số SV bình quân năm; phân bổ kinh phí thường xuyên từ NSNN cho trường ĐH
phải được coi là khoản kinh phí để thực hiện đơn đặt hàng và thực hiện cơ chế đấu
thầu; gắn kết giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.
+ Dưới góc nhìn thiên về chính sách, TS Phạm Vũ Thắng (2013) trong bài Kết
quả nghiên cứu xác định chi phí đào tạo một sinh viên đại học Việt Nam và khuyến
nghị về chính sách tài chính GDĐH Việt Nam (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài
chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP,
Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cũng cho rằng các yếu tố chất lượng (tỷ lệ GV/SV,
diện tích sàn/SV) có ảnh hưởng cùng chiều đến CPĐV trong GDĐH và khi thay đổi
chính sách hoặc thực thi chính sách theo hướng nâng cao chất lượng GDĐH cần có
chính sách tài chính mới nhằm tăng nguồn lực tài chính cho GDĐH.
+ Dưới góc nhìn tổng quát hơn, TS Lê Xuân Trường (2012) đã xây dựng được
các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư chung cho GDĐH (tỷ lệ SV có việc làm trong
một khoảng thời gian nhất định sau khi tốt nghiệp; số lượng, tỷ lệ SV tốt nghiệp các
hạng; tỷ lệ SV tham gia các hoạt động khoa học; số lượng và tỷ lệ các công trình
NCKH SV đoạt giải; số lượng và tỷ lệ SV đoạt giải các cuộc thi olympic các môn học
trên tổng SV; số lượng các phát minh, sáng chế của cán bộ, giáo viên được công nhận
bởi các cơ quan nhà nước và các tổ chức quốc tế; số lượng các trích dẫn khoa học



+ Với mục tiêu nâng cao hiệu quả các nguồn tài chính từ NSNN, TS Vũ Nhữ
Thăng và Ths Hoàng Thị Minh Hảo (2013) cho rằng cần đổi mới cơ cấu chi NSNN
cho GDĐH trên cơ sở tăng chi đầu tư XDCB, giảm dần chi cho bộ máy và hoạt động
thường xuyên.


9
+ Dưới góc nhìn rộng hơn, Phạm Chí Thanh (2011) cho rằng cần phải từng
bước chuyển đổi sang cơ chế hạch toán đủ chi phí đào tạo, người học phải đóng đủ
chi phí; Nhà nước không cấp kinh phí thường xuyên, trước mắt tiếp tục đầu tư cơ sở
vật chất, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; khi có điều kiện phù hợp tiến tới việc
Nhà nước không cấp kinh phí trực tiếp cho các trường.
- Về việc thu học phí GDĐH:
+ Dựa trên quan điểm coi học phí là nguồn thu của NSNN và là khoản tiền bù
đắp sự thiếu hụt mà NSNN không đủ trang trải cho nhà trường, Trần Xuân Hải
(1999) (Giải pháp tạo vốn đầu tư phát triển sự nghiệp đào tạo trong giai đoạn hiện
nay ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Tài chính - Kế toán) đề
xuất tăng cường thu hồi chi phí cá nhân đối với GDĐH (tức là tăng học phí), Bùi Tiến
Hanh (2007) đề nghị tăng tỷ lệ thu hồi chi phí thông qua chính sách học phí (mức học
phí cần dựa trên chi phí cần thiết để bảo đảm hoạt động GD đạt mức chuẩn chất
lượng cần thiết và phù hợp với khả năng đóng góp của người học).
+ Tuy nhiên, dưới góc nhìn mới (coi học phí là giả cả của DV GDĐH), TS Vũ
Nhữ Thăng và Ths Hoàng Thị Minh Hảo (2013), Phạm Chí Thanh (2011), TS Lê Xuân
Trường (2012),... đề nghị chuyển đổi chính sách học phí hiện nay sang thực hiện chính
sách giá DV dạy học. Phân tích sâu hơn về quan điểm này, PSG.TS Nguyễn Ngọc Vũ
(2013) trong bài tham luận Thực trạng tình hình thí điểm tự chủ tài chính ở các
CSGDĐH - Một số vấn đề đặt ra (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với
giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính,
tháng 11 năm 2012) cho rằng đối với các ngành có khả năng XH hóa cao, các trường
được tự xây dựng mức thu học phí trên cơ sở từng bước tính toán đầy đủ chi phí đào

viên, các chi phí trang thiết bị, cơ sở vật chất; về lâu dài, khi công tác quản lý nhà
nước tốt và thị trường lao động lành mạnh, thì học phí ĐH không giới hạn trần.
+ Với cách tiếp cận coi học phí như là thu nhập của doanh nghiệp, Phạm Chí
Thanh (2011) cho rằng học phí phải bù đắp đủ các chi phí hoạt động của trường (như
tiền lương giáo viên, chi phí quản lý, vật tư tiêu hao, chi phí khấu hao) theo 02 giai
đoạn: (i) đủ bù đắp các khoản chi phí thường xuyên (chưa tính khấu hao tài sản); (ii)
đủ bù đắp toàn bộ chi phí dạy học (bao gồm cả chi phí khấu hao).
+ Mặc dù đồng ý về việc chuyển sang cơ chế giá DV GDĐH, song PGS.TS
Phạm Ngọc Dũng, Ths Chử Thị Hải (2012) trong bài Đổi mới cơ chế tài chính đối với
các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam hiện nay (Tạp chí Nghiên cứu Tài
chính kế toán số 09(110) - 2012) cho rằng Nhà nước cần quy định khung giá theo
từng cấp học, bậc học, ngành học; đối với hoạt động đào tạo theo nhu cầu và đặt hàng
của XH, được thu mức học phí tăng thêm tương ứng với phần giá trị DV gia tăng so
với tiêu chuẩn quy định.


11
- Về việc XH hóa các nguồn lực cho GDĐH:
+ Trần Xuân Hải (1999) cho rằng cần huy động nguồn vốn từ nội bộ CSĐT
thông qua các hợp đồng cung cấp DV GDĐT, NCKH, khuyến khích sự đóng góp, tài
trợ của các tổ chức, cá nhân,...
+ TS Lê Xuân Trường (2012) tổng kết được thành hai phương thức thực hiện
XH hóa các nguồn lực cho GDĐH, cụ thể: thứ nhất, liên kết giữa trường với các
doanh nghiệp, tổ chức (người sử dụng lao động) thông qua hỗ trợ học bổng, kinh phí
đào tạo và đặt ra yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của SV để trường có định hướng đào
tạo phù hợp và lựa chọn những SV giỏi, trao đổi các cán bộ tham gia một số nội dung
giảng dạy; thứ hai, huy động từ đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường thông qua góp
vốn cổ phần.
+ GS.TS Hoàng Văn Châu (2013) trong bài tham luận Tự đảm bảo kinh phí
trường ĐH ngoại thương và đề xuất cơ chế tài chính (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status