Tội cản trở việc thi hành án theo luật hình sự việt nam - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HỒ HỮU THÀNH

TỘI CẢN TRỞ VIỆC THI HÀNH ÁN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HỒ HỮU THÀNH

TỘI CẢN TRỞ VIỆC THI HÀNH ÁN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

đến nay .................................................................................................. 19
CHƢƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA TỘI CẢN TRỞ VIỆC THI
HÀNH ÁN THEO QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 ... 27
2.1. Khách thể của tội cản trở việc thi hành án ...................................... 27
2.2. Mặt khách quan của tội cản trở việc thi hành án................................. 29
2.2.1. Dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội ................................................. 30
2.2.2. Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội .............................................. 32
2.2.3. Các dấu hiệu khác ................................................................................. 33
2.3. Chủ thể của Tội cản trở việc thi hành án ......................................... 34
2.4. Mặt chủ quan của tội phạm ............................................................... 38
2.4.1. Dấu hiệu lỗi ............................................................................................ 39
2.4.2. Dấu hiệu động cơ mục đích ................................................................... 42
2.5. Hình phạt và các biện pháp tư pháp .................................................. 42


2.5.1. Hình phạt ............................................................................................... 42
2.5.2. Các biện pháp tư pháp .......................................................................... 44
2.6. Phân biệt Tội cản viêc̣ thi hành án với một số tội phạm khác có liên quan ... 49
2.6.1. Phân biệt Tội cản trở việc thi hành án với Tội không chấp hành án .. 49
2.6.2. Phân biệt tội cản trở việc thi hành án với tội không thi hành án ........ 51
2.6.3. Phân biệt tội cản trở việc thi hành án với tội chống người thi hành
công vụ ............................................................................................................. 53
CHƢƠNG 3 THỰC TIỄN XỬ LÝ VÀ GIẢI PHÁP HOÀ N THIỆN PHÁP
LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ XƢ̉ LÝ TỘI CẢN TRỞ VIỆC THI
HÀNH ÁN ...................................................................................................... 55
3.1. Thực trạng xử lý tội cản trở viê ̣c thi hành án ...................................... 55
3.1.1.Tình hình xét xử của tòa án trên địa bàn toàn quốc ............................. 55
3.1.2. Tình hình xét xử đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp và Tội
cản trở việc thi hành án ................................................................................... 58
3.2. Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý tội cản


DANH MỤC BẢNG
Nội dung

STT
Bang 3.1

Trang

Từ năm 2011 đến năm 2015, tòa án nhân dân trên địa
bàn cả nước đã xét xử số lượng vụ án hình sự rất lớn.

55

Cụ thể được biểu hiện bằng bảng số liệu như sau
Bảng 3.2

Để rõ hơn, số liệu vụ án hình sự được xét xử sơ thẩm từ
năm 2011 đến 2015

Bảng 3.3.

Số liệu vụ án hình sự được xét xử phúc thẩm từ năm 2011
đến 2015

Bảng 3.4. Xét xử giám đốc thẩm từ năm 2011 đến năm 2015
Bảng 3.5.

Các vụ án hình sự xâm phạm hoạt động tư pháp bị khởi
tổ, truy tố từ năm 2011-2015

Xét xử án hình sự phúc thẩm từ năm 2011 đến 2015

57

Biểu đồ 3.4

Xét xử án hình sự giám đốc thẩm

58

STT


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước đã có chính sách, pháp luật về việc bảo đảm thực thi nghiêm
chỉnh các bản án và quyết định của tòa án, tạo hành lang pháp lý để xử lý vi
phạm và tội phạm.
Hệ thống các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan tư pháp nói
chung và cơ quan có trách nhiệm thi hành án nói riêng giữ vị trí, vai trò
quan trọng đặc biệt, là công cụ đắc lực để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ công lý, giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân. Hoạt động bình thường của các cơ quan tư pháp,
cơ quan có trách nhiệm thi hành án là điều kiện cần thiết để đảm bảo thực
thi công lý, bảo đảm hoạt động bình thường của việc thi hành các bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Trong điều kiện tiến hành cải cách tư pháp toàn diện hướng tới xây dựng
nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý,
từng bước hiện đại có hiệu quả và hiệu lực cao thì việc tăng cường hiệu quả
hoạt động của các cơ quan thi hành án đối với việc thi hành bản án quyết định

cho sự thành công của mọi hoạt động là năng lực, kinh nghiệm, ý thức trách
nhiệm của cán bộ có trách nhiệm thi hành án, cán bộ trong các cơ quan tiến
hành tố tụng còn nhiều hạn chế, bất cập.
Trước yêu cầu triển khai thực thi Hiến pháp “Bản án, quyết định của
Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân
tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành”1. Yêu cầu cải cách tư pháp thì bản án, quyết định của Tòa án và các
quyết định của cơ quan tài phán khác phải được thi hành nghiêm chỉnh chính
là công lý được thực hiện trong đời sống.
1

Điều 106 Hiến pháp năm 2013

2


Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án gây hậu
quả nghiêm trọng của người có chức vụ, thẩm quyền làm cho việc thi hành án
không hiện được hoặc thực hiện không đúng với nội dung quyết định, bản án của
Tòa án phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việc quy định Tội cản trở việc
thi hành án, qua đó quy định khung hình phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm
của hành vi. Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự, các cơ quan có thẩm quyền
dựa vào điều luật để xác định tội phạm cản trở thi hành án, trên cơ sở nhận thức
đúng đắn và đầy đủ về bản chất cũng như những đặc điểm của tội này để áp
dụng Luật hình sự một cách nghiêm minh qua việc xác định đúng tội danh, đánh
giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi.
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu Tội cản trở việc thi hành án trên cơ sở
thực tiễn để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp
luật và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý Tội cản trở việc thi hành án là cần
thiết, chính vì vậy mà tác giả lựa chọn đề tài “Tội cản trở việc thi hành án

của tác giả Nguyễn Đức Nghĩa, với đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc
phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở Việt nam hiện nay”.
- Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2005
của tác giả Hoàng Thế Anh, với đề tài “Giám sát thi hành án dân sự ở Việt
Nam hiện nay”.
- Luận văn tiến sỹ luật học năm 2008 tại Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thanh Thủy với đề tài “Hoàn thiện
pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”.
- Luận văn thạc sỹ luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh của tác giả Đặng Đình Quyền với đề tài "Năng lực của Chấp
hành viên trong thi hành án dân sự ở Việt Nam”.
Ngoài chương cơ sở lý luận của đề tài, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu
một cách chi tiết, những hành vi cản trở trong quá trình tổ chức thi hành các
bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác do pháp luật quy định .
Nghiên cứu thực trạng việc áp dụng các quy định hiện hành về vấn đề cản trở
hoạt động thi hành án, trên cơ sở đó luận văn chỉ ra những nguyên nhân của
những hạn chế trong quá trình tổ chức thi hành án cũng như những hạn chế
làm cho các hành vi cản trở hoạt động này diễn ra ngày càng nhiều và phức
4


tạp, song song đó luận văn sẽ đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định
pháp luật về vấn đề cản trở thi hành án trong thi hành án tại Việt Nam góp
phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án tại Việt Nam. Trong điều kiện
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020, vấn đề cản trở hoạt động thi hành án cần được
làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận và thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoàn thiện các
quy định về hoạt động thi hành án tại Việt Nam hiện nay đáp ứng yêu cầu của
công cuộc cải cách tư pháp đến năm 2020.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn

luận văn là phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương
pháp lịch sử - cụ thể, phương pháp luật học so sánh.
5. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu sâu về vấn đề cản trở việc thi
án tại Việt Nam
- Luận văn đã đưa ra được khái niệm về cản trở việc thi hành án; chỉ ra
và phân tích các yếu tố quy định và chi phối việc thi hành án;
- Luận văn đã phân tích, làm rõ ý nghĩa cũng như sự cần thiết để hoàn
thiện quy định pháp luật về tội cản trở việc thi hành án, chỉ ra những điểm
tiến bộ so với các quy định trước đây và những điểm còn bất cập.
- Luận văn cũng đưa ra những đánh giá, nhận định khách quan về thực
trạng thực hiện các biện pháp xử lí đối với tội cản trở việc thi hành án trong
thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam từ năm 2004 đến nay, chỉ
rõ những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của chúng.
- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra được những kiến
nghị cụ thể để hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề cản trở việc thi
hành án, yêu cầu cải cách tư pháp, bao gồm các kiến nghị về hoàn thiện pháp
luật cũng như về các biện pháp bảo đảm cho các cơ quan có thẩm quyền thực
6


hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc tổ chức thi hành các bản
án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác do pháp luật quy định.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình
nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành án dân sự, góp phần
nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự ở Việt Nam. Luận văn cũng có thể được
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập các môn học
thi hành án dân sự, Luật tố tụng dân sự ..v.v… tại các cơ sở đào tạo Luật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

luật xây dựng các chương tội phạm ở Phần các tội phạm của BLHS.
Trên cơ sở khái niệm tội phạm, BLHS năm 1999 qui định các nhóm tội
phạm ở phần “Các tội phạm” trong đó có các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp. BLHS năm 1999 quy định: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là
những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các CQĐT, kiểm sát, xét
xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích
2

Khoản 1, Điều 8 BLHS 1999

8


hợp pháp của tổ chức, công dân”3. Theo qui định này, thì các tội xâm phạm
hoạt động tư pháp, trước hết là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm
phạm đến hoạt động đúng đắn trong lĩnh vực tư pháp, trong đó có sự đúng
đắn trong việc thực hiện bản án và quyết định của tòa án có hiệu lực pháp
luật. Bản án và quyết định xét xử của Tòa án không những nhân danh Nhà
nước mà còn thể hiện quyền lực tối cao của pháp quyền có hiệu lực thi hành,
chính vì vậy, Điều 106 của Hiến pháp 2013 đã nêu rõ: "Bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan nhà nước, tổ chức,
cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh
chấp hành"4. Tuy nhiên, các bản án và quyết định của Tòa án muốn trở thành
hiện thực trong cuộc sống thì phải thông qua hoạt động thi hành án.
Là tội phạm được qui định trong nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp do chủ thể là người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan tư pháp
thực hiện, Tội cản trở thi hành án có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, cản trở việc thi hành án được hiểu là tội phạm liên quan đến
hoạt động tư pháp, vì các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi
xâm phạm hoạt động tố tụng và thi hành án 5. Vậy những hành vi nào xâm

án, còn hành vi đó nhưng do người không có chức vụ quyền hạn hoặc sẽ
không CTTP hoặc sẽ CTTP khác.
Thứ ba, Tội cản trở việc thi hành án có chủ thể đặc biệt, chỉ có những
người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan tư pháp hoặc các cơ quan tổ
chức khác mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Nếu không phải là người
có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi cản trở việc thi hành án thì tuỳ trường
hợp mà người có hành vi cản trở bị truy cứu TNHS về tội không chấp hành án
hoặc tội chống người thi hành công vụ. Người có chức vụ, quyền hạn là người
do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng
lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và
có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Trong đó gồm:
- Người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án như Chánh
án Toà án hoặc phó chánh án được Chánh án uỷ quyền đã ra bản án hoặc
quyết định sơ thẩm hình sự; Chánh án Toà án được uỷ thác thi hành bản án,
quyết định hình sự; Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; những người
khác theo quy định của pháp luật có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
6

Xem: Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 1999

10


- Người có thẩm quyền có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án bao
gồm: Cán bộ, chiễn sĩ Công an có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án
đối với các bản án, quyết định hình sự đối với hình phạt trục xuất, tù có thời
hạn, tù chung thân và tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình. Cán bộ,
chiến sĩ quân đội nhân dân trong các đơn vị có nhiệm vụ thi hành án, đối với
các bản án, quyết định hình sự đối với hình phạt tù có thời hạn, tù chung
thân và tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình. Cán bộ chính quyền

quyền thi hành quyết định thi hành án, mà bằng những thủ đoạn khác tác
động đến những người này như: đe doạ, dụ dỗ những người thân của người
có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành
quyết định thi hành án, để những người này tác động đến người có thẩm
quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết
định thi hành án tạm dừng hoặc huỷ bỏ việc thi hành án.
Để CTTP này, người phạm tội phải có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền
hạn mà họ có để tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành
án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc tác động
đến người phải chấp hành án để việc thi hành án không được thực hiện.
Bằng việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, người phạm tội có thể
dùng những thủ đoạn khác nhau để tác động đến người có thẩm quyền ra
quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi
hành án hoặc tác động đến người phải chấp hành án làm cho việc thi hành án
không được thực hiện. Hành vi cản trở việc thi hành án thường gắn liền với
hành vi không thi hành án hoặc hành vi không chấp hành án.
Thứ tư, Tội cản trở việc thi hành án được thực hiện do cố ý, tức là biết
rõ hành vi của mình là hành vi trái pháp luật nhằm cản trở việc thi hành án,
mong muốn cho hậu quả hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra. Nếu người có
chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn ngăn cản việc thi hành án
nhưng họ không nhận thức được hành vi đó là hành vi trái pháp luật mà họ
ngộ nhận hành vi đó là hành vi thuộc nhiệm vụ vủa mình thì không phải là
12


cố ý cản trở việc thi hành án. Động cơ tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc
của CTTP này, dù người phạm tội với động cơ nào đi nữa thì hành vi cản trở
việc thi hành án đều đã CTTP. Tuy nhiên, đối với tội phạm này, động cơ của
người phạm tội chủ yếu là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Nếu người
phạm tội nhận hối lộ để cản trở việc thi hành án thì ngoài tội cản trở việc thi

những người tiến hành tố tụng trong các cơ quan tư pháp; công chức thi hành
án trong cơ quan thi hành án; cảnh sát bảo vệ, cảnh sát dẫn giải, các trại giam,
trại tạm giam và nhà tạm giữ để vi phạm pháp luật.
Thứ hai, quy định Tội cản trở việc thi hành án là vấn đề hết sức quan
trọng là một trong các giai đoạn cơ bản để áp dụng pháp luật hình sự, tất cả
những việc làm trước đó (từ khởi tố, điều tra, truy tố) suy cho cùng là nhằm
phục vụ cho việc định tội được chính xác. Từ đó, người áp dụng có thể áp
dụng một hình phạt đúng đắn cho tội phạm đó.
Thứ ba, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với công
cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước là tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực sự của dân, do
dân, vì dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến nội dung, bản chất dân
chủ của chính quyền, cũng như phương thức tổ chức quyền lực nhà nước,
trong đó vai trò của pháp luật trực tiếp thể hiện ý chí của Nhà nước, kết tinh
quyền lực của nhân dân; pháp luật phải được tôn trọng và bảo đảm thực
hiện. Vì vậy, yêu cầu hàng đầu là phải coi trọng pháp luật và pháp chế trong
quản lý xã hội, quản lý nhà nước, pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh.
Trong đó, các phán quyết của Tòa án và của các cơ quan tài phán đưa ra
phải được chấp hành nghiêm chỉnh. Hiến pháp năm 2013, khẳng định: Các
bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải
được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị lực
14


lượng vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan
phải nghiêm chỉnh chấp hành. Phán quyết của Tòa án được chấp hành, phần
lớn thông qua hoạt động thi hành án, đã tác động trực tiếp đến lòng tin của
nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật. Cho nên, hoạt động thi
hành án dân sự có một ý nghĩa thực sự quan trọng đó là trực tiếp góp phần

của CQĐT Công an, chức năng kiểm tra, giám sát của VKS các cấp, chất
lượng xét xử của Thẩm phán. Do quá phụ thuộc vào ý chí, hoạt động của
nhiều cơ quan khác nhau, nên hoạt động thi hành án rất dễ bị ảnh hưởng, bị
cản trở nếu các cơ quan thi hành án không công tâm, khách quan và thực
hiện một cách nghiêm minh. Một bản án không nghiêm minh, không đúng
pháp luật, chưa thấu tình đạt lý thì hậu quả giải quyết ở giai đoạn thi hành án
dân sự vô cùng khó khăn, phức tạp; ngoài ra hiệu quả hoạt động còn phụ
thuộc cả vào sự phối hợp của các cấp, các ngành hữu quan, sự đồng tâm,
hợp lực của cả hệ thống chính trị, cần thiết phải thực hiện đồng bộ các giải
pháp, thì công tác Thi hành án mới thực sự đem lại hiệu quả thiết thực, xứng
đáng với sự mong đợi của toàn xã hội.
Thứ tư, thi hành án là cơ quan có tính chất đặc thù riêng trong hệ thống
các cơ quan Tư pháp. Với vai trò là thi hành các bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án, nếu chỉ nói đến vai trò của cơ quan Thi hành
án mà không trực tiếp tham gia công tác giải quyết án thì không ít suy nghĩ
cho rằng thi hành án là việc đơn giản dễ làm, đơn giản bởi làm theo quyết
định của Toà án. Thực tế thi hành các vụ việc cho thấy công tác thi hành án
không hề đơn giản, không ít các vụ việc có tính chất phức tạp mà quá trình
thi hành án cần vận dụng nhiều quy định, cần sự chỉ đạo của cấp Ủy, chính
quyền địa phương, sự đồng thuận của các cơ quan hữu quan và sự phối kết
hợp của nhiều Ban, Ngành liên quan. Có những vụ án kéo dài rất nhiều năm
với nhiều lý do khác nhau mà các cơ quan Thi hành án không giải quyết
16


được do gặp nhiều vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành, cũng như
những khó khăn do bị cản trở bởi những cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Có thể thấy rằng, công tác thi hành án ngày càng được sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước, cho thấy vị trí, vai trò của công tác này ngày càng được
nhìn nhận đầy đủ hơn, toàn diện hơn và chính xác hơn, với mục đích nhằm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status