Các tội xâm phạm chế độ gia đình theo luật hình sự việt nam - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

--------------

PHẠM THỊ TUẤN

CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ GIA ĐÌNH
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản

Hà Nội – 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung
thực. Các kết quả trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
TÁC GIẢ

Phạm Thị Tuấn



2.3.1. Những hạn chế trong quy định của pháp luật về các tội xâm phạm chế
độ gia đình ....................................................................................................... 68
2.3.2. Những hạn chế trong công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với các tội
xâm phạm chế độ gia đình .............................................................................. 74
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM
PHẠM CHẾ ĐỘ GIA ĐÌNH VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ
CÁC TỘI PHẠM NÀY ................................................................................. 78
3.1. Quan điểm hoàn thiện các quy định pháp luật về các tội xâm phạm chế độ
gia đình và nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm này ... 78
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
về các tội xâm phạm chế độ gia đình .............................................................. 80
3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm
phạm chế độ gia đình ...................................................................................... 88
3.3.1 Nâng cao hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra ............................. 88
3.3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động truy tố của Viện kiểm sát ...................... 90
3.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án .................................... 93
KẾT LUẬN .................................................................................................... 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 98


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

HNVGĐ

: Hôn nhân và gia đình


chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, được xét xử sơ thẩm ..... 65
Bảng 2.6. Kết quả xét xử các vụ án về các tô ̣i xâm phạm chế độ gia đình..... 67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi
trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN). Gia đình tốt, thì xã
hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.
Nhận thức được tầm quan trọng của gia đình trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã
thiết lập chế độ hôn nhân gia đình mới tiến bộ, thay thế cho chế độ hôn nhân gia
đình phong kiến, lạc hậu. Quyết tâm xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình
(HN&GĐ) mới của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện rất rõ trong các Hiến
pháp năm 1946, 1959, 1980 và Điều 64, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận:
Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.
Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng
bình đẳng. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái thành những công dân tốt.
Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ. Nhà nước và
xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử với các con.
Để đảm bảo thực hiện đúng đắn, đầy đủ chế độ HN&GĐ mới tiến bộ và
tuân thủ triệt để Hiến pháp, Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985, cũng như BLHS
năm 1999 đều đã quy định cụ thể các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, góp phần
ngăn chặn, hạn chế và từng bước xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ
phong kiến, lạc hậu.
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng,
diễn biến phức tạp; tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, kể cả
trong lĩnh vực HN&GĐ nói riêng. Đáng chú ý, các tội xâm phạm chế độ
HN&GĐ không có xu hướng gia tăng, nhưng tính chất và mức độ ngày càng

Chí Minh, số 1/2003, "Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng trong

2


Bộ luật hình sự 1999", Tạp chí Kiểm sát, số 4/2002, "Về tội ngược đãi hoặc
hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình
trong Bộ luật hình sự 1999", Tạp chí Kiểm sát, số 9/2002,); tác giả Nguyễn
Quốc Việt chủ biên cuốn sách: Bộ luật hình sự mới của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 2001, trong đó có đề cập
chương XV - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình; tác giả Nguyễn
Ngọc Điệp có công trình: "Tìm hiểu các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia
đình và các tội đối với người chưa thành niên", Nxb Phụ nữ, Hà Nội; các tác
giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa có công trình: Pháp luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam xưa và nay, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2000...
Như vậy, có thể thấy các công trình nói trên đã đề cập đến các khía
cạnh khác nhau của nhóm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ nói chung và các
tội xâm phạm chế độ gia đình nói riêng, nhưng chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện và có hệ thống về nhóm tội phạm này dưới góc độ
pháp lý hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận quy định về các tội xâm
phạm chế độ gia đình và thực tiễn áp dụng các quy định về các tội phạm này
trên thực tiễn để đề xuất những giải pháp mang tính hệ thống nhằm hoàn thiện
các quy định của BLHS về các tội xâm phạm chế độ gia đình và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm này.
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ

4


thống về các tội xâm phạm chế độ gia đình. Có thể xem những nội dung sau
đây là những đóng góp mới về khoa học của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về các tội xâm phạm chế độ
gia đình; những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của các tội phạm này
trong pháp luật hình sự hiện hành.
- Phân tích, đánh giá những quy định về các tội xâm phạm chế độ gia
đình trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới nhằm rút ra những giá
trị hợp lý trong lập pháp hình sự, bổ sung cho những luận cứ và giải pháp
được đề xuất trong luận văn.
- Đánh giá đúng thực trạng tình hình các tội xâm phạm chế độ gia đình ở
Việt Nam, phân tích, làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu
quả đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ gia đình.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan
trọng đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội xâm
phạm chế độ gia đình ở nước ta. Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến
nghị, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào kho tàng lý
luận về tội phạm học, luật hình sự, cũng như vào cuộc đấu tranh phòng, chống
nhóm tội phạm có tính nhạy cảm cao và phức tạp này.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự,
tội phạm học nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ quan
Công an, Viện kiểm sát (VKS), Tòa án.

C.Mác và Ph. Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng, HN&GĐ
là những phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và
tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp, chặt chẽ.
Hôn nhân là hiện tượng xã hội - là sự liên kết giữa người đàn ông và
người phụ nữ. Sự liên kết đó phát sinh và hình thành do việc kết hôn và được
biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ
chồng. Đây là quan hệ giữa hai người khác giới tính, bản chất và ý nghĩa của
nó thể hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn
nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày. Có thể
nói, sản xuất ra cuộc sống chính bản thân mình là nhờ lao động, còn sản xuất
ra giống nòi là nhờ sinh đẻ, nói cách khác, tồn tại hai mối quan hệ: mối quan
hệ tự nhiên và mối quan hệ xã hội. Quan hệ hôn nhân là quan hệ xã hội được
xác định bởi các quan hệ sản xuất đang thống trị, vì vậy, tính chất của nó có
thể thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ sản xuất đang thống trị đó.

7


Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị đều điều
chỉnh các quan hệ hôn nhân bằng pháp luật cho phù hợp với ý chí, nguyện
vọng của mình, phục vụ lợi ích của giai cấp mình. Xã hội chiếm hữu nô lệ, có
chế độ hôn nhân chiếm hữu nô lệ; xã hội phong kiến có chế độ hôn nhân
phong kiến; xã hội tư bản có chế độ hôn nhân tư sản, còn xã hội XHCN có
chế độ hôn nhân XHCN. Trong những xã hội bóc lột, những người thuộc giai
cấp bị bóc lột thường khó có thể có quan hệ hôn nhân với những người thuộc
giai cấp thống trị.
Dưới chế độ XHCN, hôn nhân thực sự mang tính chất bình đẳng, tự
nguyện, tiến bộ, đó không phải là hợp đồng, mà là sự liên kết bền vững giữa
người đàn ông và người phụ nữ, trên cơ sở yêu thương, quý trọng lẫn nhau,
bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của đôi bên, cũng như thỏa

phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo TSKH Lê Cảm,
phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện
khách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý:
tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan: tội phạm là
hành vi do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một
cách có lỗi [30, tr. 105].
Trong khoa học pháp lý hình sự, các nhà hình sự học đã đưa ra khái
niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ.
Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm),
Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội cho rằng:
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định thực hiện bằng lỗi cố ý gây
thiệt hại cho các quan hệ hôn nhân và gia đình mới, tiến bộ xã hội chủ nghĩa.
Sự gây thiệt hại này thể hiện đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của
các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình [31, tr. 295].
9


Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học
Luật cho rằng, "các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành
vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia
đình Việt Nam" [57, tr. 405].
Trên cơ sở các quan điểm được trình bày ở trên, chúng tôi xin đưa ra
khái niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ như sau: Các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật
hình sự, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện dưới hình
thức lỗi cố ý, xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam XHCN.
Hôn nhân và gia đình là một nhóm quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh
của rất nhiều ngành luật. Luật HN&GĐ quy định về chế độ HN&GĐ, trách

tuổi chịu TNHS thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm chế độ gia đình
Việt Nam XHCN được bảo hộ bằng các quy định của Bộ luật hình sự.
Vì mỗi tội phạm bao giờ cũng được cấu thành bởi bốn yếu tố: mặt
khách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể. Cho nên, để hiểu và nhận
thức một cách sâu sắc nội dung khái niệm các tội xâm phạm chế độ gia đình,
cần làm rõ bốn yếu tố của CTTP nói trên.
Trước hết, việc nghiên cứu khách thể của các tội xâm phạm chế độ gia
đình là một trong những vấn đề trọng tâm khi tìm hiểu khái niệm các tội xâm
phạm chế độ gia đình, bởi nó là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ,
bị các hành vi phạm tội xâm hại.
Khách thể của các tội phạm này chính là những nguyên tắc cơ bản thiết
lập chế độ gia đình mới, tiến bộ XHCN. Theo Luật HN&GĐ Việt Nam, các
nguyên tắc này là: hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng
bình đẳng; hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo,
giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài được tôn trọng và pháp luật bảo vệ; vợ chồng có
nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; cha mẹ có

11


nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ tôn
kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ chăm sóc, phụng
dưỡng ông bà, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc,
giúp đỡ nhau. Mọi hành vi xâm phạm những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở,
nền tảng cho chế độ hôn nhân gia đình XHCN - khách thể của tội phạm đều
có thể bị xử lý hình sự, sau khi đã áp dụng các chế tài hành chính nhưng
không có hiệu quả.
Nếu như khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ bị các tội phạm xâm hại gây nên những thiệt hại nhất định, thì

mà lại có vi phạm chính hành vi đó hoặc thực hiện một trong những hành vi
được liệt kê trong điều luật tương ứng đó. Cần lưu ý rằng, việc xử phạt hành
chính chỉ có hiệu lực trong thời hạn một năm, do vậy nếu hành vi vi phạm xảy
ra sau thời hạn một năm kể từ ngày bị xử phạt, thì không được coi là một
trong những dấu hiệu để truy cứu TNHS.
Tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi những con người cụ thể, bởi
vì chỉ có con người cụ thể mới có thể thực hiện được hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong luật hình sự, mới thể hiện được yếu tố lỗi, chịu
trách nhiệm cá nhân, cũng như có thể gánh chịu các biện pháp trừng trị, giáo
dục, cải tạo mà Nhà nước quy định. Chủ thể của các tội xâm phạm chế độ gia
đình phải là những con người cụ thể đã đạt đến một độ tuổi nhất định và có
năng lực TNHS.
Ngoài ra, có những tội phạm đòi hỏi chủ thể, ngoài những dấu hiệu của
chủ thể thường, phải có thêm những dấu hiệu đặc biệt khác. Điều đó có nghĩa,
nếu thiếu các dấu hiệu đặc biệt đó thì không thể trở thành chủ thể của những
tội phạm cụ thể đó. Ví dụ, chủ thể của các tội: tội loạn luân, hay tội ngược đãi
hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng
mình phải là chủ thể đặc biệt.
Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến bên trong phản ánh trạng thái
tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành
13


vi đó gây ra. Những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm bao gồm dấu
hiệu lỗi, dấu hiệu động cơ, dấu hiệu mục đích... Tất cả các tội xâm phạm chế
độ gia đình đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó có nghĩa,
những chủ thể của các tội phạm này khi thực hiện hành vi xâm phạm những
quan hệ HN&GĐ XHCN đều nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm
cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu
quả đó xảy ra.

1.2.1. Giai đoạn trước năm 1945
Hôn nhân và gia đình là một vấn đề hệ trọng đối với con người, gia
đình là nền tảng của xã hội. Vì vậy, ngay từ thời phong kiến, vấn đề gia đình
luôn luôn là lĩnh vực được Nhà nước rất quan tâm điều chỉnh bằng pháp luật.
Trong Bộ luật thành văn đầu tiên của Nhà nước ta - Bộ Hình thư, được
ban hành năm 1042 dưới thời Lý Thái Tông, vấn đề gia đình chiếm giữ một vị
trí quan trọng và được quy định trong nhiều điều luật. Nét đặc trưng chủ yếu
của các quy định này là quyền uy tập trung trong tay người chồng, mà mọi
thành viên có bổn phận phục tùng; người chồng được phép bỏ vợ trong trường
hợp người vợ phạm một trong các tội "thất xuất", còn người vợ sẽ bị trừng phạt
nghiêm khắc nếu ruồng bỏ chồng; con cái không làm tròn đạo hiếu sẽ bị trừng
phạt. Trách nhiệm giáo dục con cái tuân theo đạo lý thuộc về cha mẹ, nếu lơ là
trách nhiệm thì chính cha mẹ cũng bị trừng phạt [28, tr. 59].
Trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) - Bộ luật chính thống và
quan trọng nhất của triều đại nhà Lê, mười tội ác (thập ác) đã được quy định tại
Điều 3, trong đó có tới bốn tội liên quan đến chế độ hôn nhân và gia đình, đó là
các tội:
4. Ác nghịch, là đánh và mưu giết ông bà, cha mẹ, bác chú, thím, cô,
anh, chị em, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng...
7. Bất hiếu, là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy bảo,
nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, vui chơi ăn mặc

15


như thường; nghe thấy tang ông bà, cha mẹ mà không cử ai (tang lễ); nói dối
là ông bà, cha mẹ chết.
8. Bất mục, là giết hay đem bán những người trong họ phải để tang 3
tháng trở lên, đánh đập hoặc tố cáo chồng, cùng những họ hàng từ tiểu công
trở lên...

Người vợ hay vợ lẽ hiện đương có chồng, chưa tuyên cáo sự ly hôn, mà
đi lấy chồng khác, phải phạt giam từ một năm đến năm năm và phạt bạc từ
năm đồng đến hai trăm đồng.
Người có vợ chưa tuyên cáo sự tiêu hôn mà đi lấy vợ khác, phải phạt
giam từ ba tháng đến một năm và phạt bạc từ hai đồng đến một trăm đồng
[55, tr. 22].
Bộ luật hình canh cải áp dụng tại Nam Kỳ cũng quy định những tội
phạm và hình phạt thích ứng để bảo vệ chế độ một chồng nhiều vợ. Theo Bộ
luật này, bị coi là phạm tội thông gian khi một người đàn bà đã có chồng rồi
mà còn ân tình với một người đàn ông khác, còn đối với đàn ông có vợ thì
hành vi ngoại tình không coi là tội phạm [38, tr. 202].
1.2.2. Giai đoạn từ sau năm 1945 cho đến trước năm 1985
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non
trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất. Trong tình hình đó, nhân dân
ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn, đó là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt
giặc ngoại xâm và "Đảng ta xác định giữ vững chính quyền là nhiệm vụ hàng
đầu" [18, tr. 468]. Vì vậy, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công cho đến
năm 1954 là thời điểm ký Hiệp định Giơnevơ, Quốc hội ta là Quốc hội kháng
chiến, Chính phủ ta là Chính phủ kháng chiến, pháp luật ta cũng là pháp luật
kháng chiến. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, Nhà nước ta vẫn rất quan tâm xây
dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới tiến bộ, từng bước xóa bỏ những quy
định khắt khe của chế độ thực dân, phong kiến đối với phụ nữ (Sắc lệnh số
97/SL ngày 12-05-1950). Tuy nhiên, do phải tập trung quy định các tội phạm

17


liên quan đến sự an nguy của chính quyền nhân dân như các tội phản bội Tổ
quốc, tội gián điệp, tội hối lộ, tham ô..., cho nên, trong giai đoạn này, Nhà nước
ta chưa có quy định về các tội xâm phạm chế độ gia đình cụ thể nào.

Thứ hai, đối với hành vi thông gian, tức là hành vi quan hệ tình dục bất
chính giữa một bên đang có vợ hoặc có chồng với người khác (dù là người
này đã có hoặc chưa có vợ, có chồng), Thông tư nêu rõ:
Trong tình hình xã hội miền Bắc nước ta hiện nay, không thể coi thông
gian là một khuyết điểm về sinh hoạt cá nhân, mà khi có những tình tiết
nghiêm trọng nhất định phải coi thông gian là một tội phạm đã xâm phạm đến
quan hệ HN&GĐ được pháp luật bảo vệ, đến thuần phong mỹ tục và đến trật
tự xã hội.
Đường lối xử lý cần thiết hiện nay đối với tội thông gian là: biện pháp
ngăn chặn tệ nạn này chủ yếu vẫn giáo dục. Các cơ quan, đoàn thể cần tăng
cường công tác giáo dục quần chúng về đạo đức, xã hội mới, chống những tư
tưởng và nếp sống sa đọa, đồi bại, trụy lạc do xã hội cũ để lại.
Trong một số ít trường hợp cần thiết, có thể dùng biện pháp tư pháp để
làm chỗ dựa cho công tác giáo dục nói trên. Những trường hợp cần thiết đó là:
- Thông gian với vợ bộ đội, vợ cán bộ và vợ những người vì nhiệm vụ
công tác mà phải thoát ly gia đình, tại những địa phương xảy ra nhiều vụ
thông gian, làm ảnh hưởng đến tinh thần công tác của người chồng.
- Thông gian có tính chất nghiêm trọng như: thông gian một cách trắng
trợn hoặc kéo dài; do thông gian mà phá hoại hạnh phúc của nhiều gia đình;
bất chấp sự giáo dục của cơ quan, đoàn thể hoặc sự phản đối của gia đình
người chồng, của người vợ, của kẻ ngoại tình và bị quần chúng căm phẫn đòi
hỏi phải trừng phạt.
- Do thông gian mà dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như gây ra án
mạng, tham ô lớn, đào ngũ, đào nhiệm hoặc những hành động phạm pháp
nghiêm trọng khác [42, tr. 471].

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status