1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
-----------------------------------------
THÁI THỊ NGỌC LAM
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA BỌ XÍT
XANH Nezara viridula (Linnaeus) Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG NGHỆ AN
Chuyên ngành
Mã số
: Côn trùng học
: 62 42 01 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội – 2016
2
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TRẦN NGỌC LÂN
2. PGS.TS. TRƢƠNG XUÂN LAM
xít xanh (Nezara viridula L.) hại đậu tương. Tạp chí Khoa học trường ĐH
Vinh, số 4A, tập 42, trang 66-73.
5. Thái Thị Ngọc Lam, Nguyễn Hữu Chiến, Nguyễn Tiến Chương,
Nguyễn Sỹ Tính, 2014. Tập tính sinh học và chu kỳ mùa của bọ xít xanh
Nezara viridula L. (Heteroptera: Pentatomidae) tại đồng bằng Nghệ An,
Báo cáo khoa học Hội nghị côn trùng học quốc gia lần thứ VIII, Nxb.
Nông Nghiệp, trang 435-442.
6. Thái Thị Ngọc Lam, Trần Ngọc Lân, Trương Xuân Lam, 2014.
Ảnh hưởng của thức ăn đến sự phát sinh và phát triển của bọ xít xanh
Nezara viridula L. (Heteroptera:Pentatomidae), Báo cáo khoa học Hội
nghị côn trùng học quốc gia lần thứ VIII, Nxb. Nông nghiệp, trang 443448.
7. Thai Thi Ngoc Lam, Truong Xuan Lam and Tran Ngoc Lan, 2015.
Polymorphism of the Southern Green Stink Bug Nezara viridula Linnaeus,
1758 (Hemiptera: Pentatomidae) In Vietnam. Biological Forum – An
International Journal 7(2): 276-281.
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bọ xít xanh Nezara viridula (Linnaeus) là loài đa thực, chúng gây hại trên 150 loài cây
trồng thuộc 30 họ của cây hai lá mầm và cây một lá mầm, đặc biệt trên các cây họ đậu (Oho
and Kiritani, 1960; Panizzi et al., 2000; Panizzi, 1997; Todd, 1989; Wallace et al., 1965). Ở
Nghệ An, cây lúa, ngô và vừng là các cây trồng chính ở vùng đồng bằng. Bọ xít xanh (N.
viridula) là một những loài bọ xít gây hại phổ biến trên các cây trồng này. Chúng chích hút
nhựa, chích hút quả, làm cho cây sinh trưởng kém, vàng lá, hạt lép lửng. Ngoài ra, chúng
còn chích hút hoa, quả, chồi non nhiều loại cây trồng nông nghiệp khác như cây lạc, cây
khoai tây, cây đậu tương, cây đậu đỗ,…
Bọ xít xanh có tính đa hình về màu sắc của trưởng thành, đã thu hút nhiều sự chú ý của của
Bổ sung các dẫn liệu bước đầu về thành phần thiên địch và sử dụng chế phẩm nấm
Isaria javanica, thuốc thảo mộc từ lá na và hoa cúc phòng chống bọ xít xanh.
3. Mục đích nghiên cứu
Cung cấp thêm các dẫn liệu khoa học có hệ thống về sinh học, sinh thái học và đặc biệt là
hiện tượng trú đông của bọ xít xanh trong điều kiện vùng đồng bằng Nghệ An để góp phần
trong công tác dự tính, dự báo và kiểm soát bọ xít xanh trên đồng ruộng.
4. Đóng góp mới của luận án
5
- Lần đầu tiên đưa ra dẫn liệu về tính đa hình của bọ xít xanh, đã ghi nhận ở đồng bằng
Nghệ An có 10 kiểu hình gồm G, O, F, GY, GO, R, B, C, OR và Y, trong đó G và O là hai kiểu
hình phổ biến nhất.
- Cung cấp số liệu làm sáng tỏ thêm rằng N. smaragdula, N. torquata không phải là hai loài
thuộc giống Nezara, mà chúng là các kiểu hình khác nhau của một loài N. viridula, trong đó kiểu
hình G (được mô tả như là N. viridula f. smaragdula), kiểu hình O (được mô tả như là N. viridula
f. torquata) ở Việt Nam.
- Bổ sung các dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ xít xanh N. viridula ở
Việt Nam.
- Lần đầu tiên cung cấp các dẫn liệu bước đầu về biểu hiện trú đông như sự chuyển
màu, sự thay đổi bên trong cơ quan sinh dục...và sự luân chuyển theo mùa của bọ xít xanh ở
Việt Nam.
5. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 127 trang đánh máy khổ A4 với phần mở đầu 3 trang; Chương 1. Cơ sở
khoa học và tổng quan tài liệu 28 trang; Chương 2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 11
trang; Chương 3. Kết quả nghiên cứu và Thảo luận 83 trang; Kết luận và Kiến nghị 2 trang.
Luận án tham khảo 153 tài liệu với 23 tài liệu tiếng Việt và 130 tài liệu tiếng Anh. Ngoài ra
luận án có Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án và phần phụ lục đi
kèm.
6
hoa cúc (Chrysanthemum indicum) sử dụng phòng chống bọ xít xanh là những dẫn liệu cơ
sở trong kiểm soát chúng trên đồng ruộng.
1.2. Tổng quan tài liệu
1.2.1. Tình hình nghiên cứu bọ xít xanh N. viridula trên thế giới
1.2.1.1. Nghiên cứu tính đa hình và sự thay đổi các kiểu hình của bọ xít xanh
Trên thế giới đã tìm thấy bọ xít xanh có 12 kiểu hình màu sắc (G, O, Y, B, C, F, R,
OR, OY, GY, OG và FR), nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu về tính đa hình
của loài bọ xít xanh tại Việt Nam.
1.2.1.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của bọ xít xanh
Thời gian phát triển của thiếu trùng bọ xít xanh có xu hướng rút ngắn khi tăng nhiệt độ
và kéo dài thời gian chiếu sáng (Ali et al., 1983; Ali and Ewiess, 1977; Cividanes and Parra,
1994).
Theo Fortes et al., (2006) khi nuôi bọ xít xanh ở các chế độ ăn nhân tạo gồm với mầm
lúa mì, protein đậu tương, dextrosol, tinh bột khoai tây, dầu sucrose, cellulose, đậu tương, dầu
hướng dương nuôi trong điều kiện nhiệt độ (25 ± 1° C), RH (60 ± 10%), và thời gian chiếu
sáng (14hL) cho thấy: Chế độ ăn có chứa dầu hướng dương là thích hợp nhất cho N. viridula
sinh trưởng, phát triển.
1.2.1.3. Nghiên cứu sự phát triển theo mùa, hiện tƣợng trú đông và biến động số
lƣợng của bọ xít xanh
Hiện tượng trú đông của bọ xít xanh được nghiên cứu có hệ thống với sự mô tả các đặc
điểm của bọ xít trong giai đoạn trú đông; tác động của nhiệt độ và quang chu kỳ đến hiện
tượng này; mối liên hệ giữa hiện tượng trú đông và các loài kí sinh; đặc biệt là sự phát triển
của tuyến sinh dục có liên quan đến hiện tượng trú đông. Các nghiên cứu đã xác định được
nhiệt độ và quang chu kỳ đối với bọ xít xanh bước vào trú đông tại Nhật Bản.
1.2.1.4. Nghiên cứu biện pháp phòng chống bọ xít xanh
Biện pháp phòng trừ bọ xít xanh trên thế giới đã được quan tâm nghiên cứu. Và các
nghiên cứu này chỉ tập trung sử dụng thiên địch, cây bẫy, IPM… để phòng chống.
- Đề xuất biện pháp phòng chống bọ xít xanh.
1.4. Một số đặc điểm chính về địa hình và khí hậu tỉnh Nghệ An
Nghệ An nằm ở phía Đông Bắc của dãy Trường Sơn, có độ dốc thoải dần từ Tây Bắc
đến Đông Nam, có toạ độ địa lý từ 18o35' – 19o30' vĩ độ Bắc và 103o52' – 105o42' kinh độ
Đông. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chuyển tiếp của khí hậu miền Bắc
và miền Nam.
Chƣơng 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2015
Địa điểm nghiên cứu
- Phòng thí nghiệm Sinh thái côn trùng nông nghiệp, Khoa Nông Lâm Ngư, trường Đạ
- Trại thực nghiệm Nông học, Khoa Nông Lâm Ngư, trường Đại học Vinh.
- Tiến hành thu mẫu tại các huyện Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Diễn Châu,
Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bọ xít xanh (N. viridula L.), họ Pentatomidae, bộ Heteroptera.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học
và đề xuất một số biện pháp phòng chống bọ xít xanh.
2.3. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu
- Lá na (Annona squamosa), hoa cúc (Chrysanthemum indicum)
- Chế phẩm nấm Isaria javanica (Frider. & Bally) Samsom & Hywel-Jones (Nguồn
khoa Nông Lâm Ngư, trường Đại học Vinh, với mật độ bào tử đạt 108bt/ml).
- Cây trồng nông nghiệp: Cây lương thực (lúa, ngô), cây công nghiệp ngắn ngày (lạc,
vừng, đậu tương).
Dụng cụ thí nghiệm
Vợt côn trùng (đường kính 40 cm, chiều dài 1-1,2m); Lọ nhựa nuôi bọ xít xanh (đường
kính 15-20 cm, cao 20-25cm); vải màn thông khí, bông giữ ẩm; Lưới mắt dày để làm thí
nghiệm phòng trừ; kính hiển vi soi nổi, kính lúp cầm tay; Tủ định ôn Binder điều chỉnh
Nuôi bọ xít xanh N. viridula trong điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ 23,8 – 35,6oC, ẩm độ
60-85%) theo từng cặp (1 đực, 1 cái) và theo nhóm cá thể. Bọ xít xanh được nuôi trong lọ nhựa
sạch đường kính từ 15 - 20cm, cao 15 - 25cm; có bông giữ ẩm; đậy vải màn để thông khí. Sử
dụng thức ăn là: quả đậu cove tươi. Mỗi lọ đều có ký hiệu riêng, với phiếu theo dõi tương ứng với
hai dạng bố mẹ khác nhau. Số lượng cá thể theo dõi ở các pha từ 50-100 cá thể. Theo dõi màu sắc
của thế hệ con: tỷ lệ màu thiếu trùng tuổi 4, tuổi 5 và trưởng thành.
*Thí nghiệm 1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu mối liên quan màu sắc qua các thế hệ
nuôi
Các trưởng thành thu được ở thế hệ con của các cặp bố mẹ GxG và GxO ở thí nghiệm
1.1 tiến hành cho giao phối ngẫu nhiên và tiếp tục theo dõi đến thế hệ thứ 3. Các điều kiện
nuôi tương tự thí nghiệm 1.1. Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp của Johnson
(1984) và Kiritani (1970).
2.5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học của bọ xít xanh N.
viridula
* Thí nghiệm 2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tập tính, thời gian phát dục, vòng đời và
tổng nhiệt hữu hiệu, các chỉ số sinh học
Thu bắt thiếu trùng tuổi 4 và 5 ở ngoài đồng ruộng và tiến hành nuôi để thu trưởng
thành. Các trưởng thành thu được tiến hành giao phối ngẫu nhiên. Lựa chọn 10 cặp GxG
cho mỗi điều kiện nuôi. Nuôi bọ xít xanh N. viridula trong điều kiện phòng thí nghiệm (23,8
– 35,6oC; 60-85%) và tủ định ôn (25oC; 57-60% và 30oC; 57-60%). Phương pháp nuôi tương tự
như thí nghiệm 1.1.
Theo dõi tập tính giao phối đẻ trứng, cách sắp xếp các dạng ổ trứng, tập tính quần tụ
của thiếu trùng và hành vi ăn thịt đồng loại của bọ xít xanh bằng cách ghi chép thời gian
diễn ra, mô tả hành vi và chụp ảnh.
Xác định thời gian phát dục các pha: Trứng, thiếu trùng và trưởng thành. Ở điều kiện
tủ định ôn (25oC và 30oC) xác định tổng nhiệt hữu hiệu và nhiệt độ khởi điểm phát dục theo
công thức tính của Sanderson and Pears (1917), Blunk (1923) (Dẫn theo Nguyễn Viết Tùng,
2006).
Công thức:
K = Xn (tn – t0)
* Thí nghiệm 2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu ảnh hƣởng của thức ăn đến sinh
trƣởng và phát triển của bọ xít xanh
Thu bắt thiếu trùng tuổi 4 và 5 ở ngoài đồng ruộng và tiến hành nuôi để thu trưởng
thành. Các trưởng thành thu được tiến hành giao phối ngẫu nhiên. Lựa chọn 10 cặp GxG
cho mỗi loại thức ăn. Nuôi bọ xít xanh N. viridula ở các điều kiện 30oC; 57-60% với hai loại
thức ăn khác nhau: quả đậu cove (Phaseolus vulgaris L.) và bắp ngô (Zea mays L.) tươi
theo từng cặp (1 đực, 1 cái) hoặc theo nhóm cá thể ở pha thiếu trùng. Theo dõi thời gian
phát dục, sức sinh sản và tỷ lệ sống sót của bọ xít xanh ở các loại thức ăn khác nhau.
2.5.3. Phƣơng pháp nghiên cứu sự phát triển theo mùa, hiện tƣợng trú đông và diễn
biến mật độ của bọ xít xanh N. viridula
2.5.3.1. Phuơng pháp nghiên cứu hiện tuợng trú đông của bọ xít xanh
* Thí nghiệm 3.1. Phƣơng pháp nghiên cứu sự thay đổi màu sắc và sự phát triển
của bọ xít xanh trong mùa đông
Nuôi bọ xít xanh N. viridula ở điều kiện bán tự nhiên (ô lưới) với thức ăn là cây đậu
xanh hoặc đậu tương và có bổ sung quả đậu cove tươi. Theo dõi 80 cá thể trưởng thành từ
tháng 9/2014 đến tháng 3/2015, nhiệt độ 10,4 - 35,6oC, ẩm độ 55 - 94%. Theo dõi sự thay
đổi màu sắc, hoạt động của bọ xít xanh, sự phát triển của thiếu trùng và trưởng thành; tỷ lệ
kiểu hình.
* Thí nghiệm 3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu sự thay đổi bên trong của cơ quan
sinh dục
Đặc điểm bên trong của cơ quan sinh dục cái ở các thời điểm: trước trú đông (mùa hè),
giai đoạn trung gian (những cá thể chuyển màu không ổn định) và trú đông (Màu nâu hoàn
toàn) được thực hiện theo phương pháp mổ và quan sát của Esquivel, 2009. Chụp ảnh và
mô tả đặc điểm bên trong của cơ quan sinh dục cái, so sánh sự khác nhau ở các thời điểm.
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến sự hoàn thiện bên trong cơ quan
sinh dục và sự xuất hiện trú đông của bọ xít xanh được tiến hành theo phương pháp của
Musolin et al., 2003b.
10
2.5.4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu hiệu lực phòng trừ bọ xít xanh của chế phẩm từ lá na
(Annona squamosa)
Cách tạo chế phẩm: Dùng 500g lá na tươi, loại bánh tẻ và 2 lít nước cho vào nồi đun
cho đến khi còn lại 0,5lít nước, lọc lấy nước (dung dịch gốc) sau đó tiến hành pha chế với
các nồng độ khác nhau (Jewel, 2003).
Thí nghiệm 4.3. Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm từ lá Na đến hiệu lực phòng trừ bọ
xít xanh N. viridula
Thí nghiệm 4.4. Hiệu lực phòng trừ của chế phẩm từ lá na đối với các tuổi thiếu trùng
của bọ xít xanh N. viridula
Chỉ tiêu theo dõi:
- Tỷ lệ bọ xít xanh chết do chế phẩm so với số lượng bọ xít xanh thí nghiệm (%) tính
theo công thức Abbott (1925);
- Thời gian gây chết trung bình của chế phẩm đối với bọ xít xanh (LT50) (ngày)
2.5.4.4. Phƣơng pháp nghiên cứu hiệu lực phòng trừ bọ xít xanh của chế phẩm từ hoa
cúc (Chrysanthemum indicum)
Cách tạo chế phẩm: Dùng 500g cánh hoa cúc vàng, tươi ngâm với 1,5L cồn (70%)
trong 24 giờ. Tiến hành lọc được dung dịch gốc (Theo Jewel, 2003).
Thí nghiệm 4.5. Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm từ hoa cúc đến hiệu lực phòng trừ
bọ xít xanh N. viridula
11
Thí nghiệm 4.6. Hiệu lực phòng trừ của chế phẩm từ hoa cúc đối với các tuổi thiếu
trùng của bọ xít xanh N. viridula
Chỉ tiêu theo dõi:
- Tỷ lệ bọ xít xanh chết do chế phẩm so với số lượng bọ xít xanh thí nghiệm (%) tính
theo công thức Abbott (1925);
- Thời gian gây chết trung bình của chế phẩm đối với bọ xít xanh (LT50) (ngày)
2.6. Phƣơng pháp định loại mẫu vật
- Mật độ (con/m2) =
Tổng diện tích điều tra (m2)
- Sai số theo công thức:
t
Se =
N
: độ lệch chuẩn,
=
( Xi X )
2
N 1
N: số cá thể theo dõi
t: tra bảng Student
- Hiệu lực của các biện pháp phòng trừ được hiệu chỉnh theo công thức Abbott (1925)
(Dẫn theo Trần Ngọc Lân, 2007) [12]:
Hiệu lực phòng trừ (%) =
Ca Ta
X 100
Ca
Trong đó:
Ca là số sâu sống ở công thức đối chứng sau thí nghiệm.
Ta là số sâu sống ở công thức thí nghiệm sau thí nghiệm
số 12 kiểu hình đã được ghi nhận trên thế giới. Kiểu hình OY, FR chưa được ghi nhận ở
Nghệ An.
13
Hình 3.2. Các kiểu hình của trƣởng thành bọ xít xanh N. viridula
(a): Kiểu hình G; (b): Kiểu hình Y; (c): Kiểu hình F; (d): Kiểu hình C; (e): Kiểu hình
GY; (f): Kiểu hình OG; (g): Kiểu hình O; (h): Kiểu hình R; (k): Kiểu hình B; (l): Kiểu hình
OR (Nguồn: Thái Thị Ngọc Lam và cộng sự, 2011, 2012)
3.1.3. Sự phân bố các kiểu hình của bọ xít xanh trên một số cây trồng ở Nghệ An
Bảng 3.2. Tỷ lệ các kiểu hình của bọ xít xanh trên cây lúa, ngô và vừng ở Nghệ An năm
2010-2011
Kiểu
hình
G
O
F
R
GY
OG
Y
OR
B
C
Tổng
số
Tổng số
425
72
33
33
35
10
58
1
1
2598
Cây lúa
Tỷ lệ
TLGT
(%)
(Đ:C)
74,25
16,67
2,78
1,27
1,23
1,31
0,40
2,02
0,04
0,04
100
1:1,6
1:1
5,21
1,61
0,55
0,18
0,14
0,65
100
1:1,3
1:1,1
1:1,2
1:1,4
1:1,4
1:3,0
1:2,0
1:0,8
1:1,3
Số
mẫu
(con)
587
111
95
42
48
18
2
903
thể), thứ 2 là kiểu hình O chiếm 16,51% (936 cá thể), đứng thứ 3 là kiểu hình F chiếm
4,94% (280 cá thể). Kiểu hình ít xuất hiện nhất là kiểu B và C chiếm 0,02% (chỉ thu được 1
cá thể trên cây lúa), kiểu hình Y chiếm 0,26% (15 cá thể). Còn lại các kiểu hình OR, R, GY,
OG bắt gặp trung bình chiếm 1,10-1,94% (57-110 cá thể).
3.1.4. Mối quan hệ giữa mật độ và tỷ lệ kiểu hình G, O của bọ xít xanh trên một số cây
trồng
3.1.4.1. Mối quan hệ giữa mật độ và tỷ lệ kiểu hình G và O của bọ xít xanh N. viridula
trên cây ngô, cây lúa vụ xuân 2010
* Trên cây ngô xuân năm 2010
Số liệu thu được cho thấy, tỷ lệ kiểu hình của bọ xít xanh không chỉ liên quan đến mật
độ của chúng mà còn liên quan với giai đoạn sinh trưởng của cây chủ (thông qua chất lượng
và số lượng của thức ăn cũng như điều kiện khí hậu).
Hình 3.3. Mối tương quan giữa mật độ và tỷ lệ kiểu hình G, O của bọ xít xanh theo thứ tự
tăng dần của mật độ trên cây ngô xuân năm 2010
Như vậy, trên cây ngô xuân năm 2010, tỷ lệ các kiểu hình G và O có mối tương quan
đến mật độ quần thể và giai đoạn sinh trưởng của cây trồng. Kiểu hình G xuất hiện nhiều
khi mật độ bọ xít xanh giảm và có xu hướng tăng dần theo giai đoạn sinh trưởng của cây
ngô về cuối vụ. Ngược lại, tỷ lệ kiểu hình O tăng dần khi mật độ quần thể tăng và có mối
tương quan yếu với gia đoạn sinh trưởng của cây ngô.
15
Hình 3.4. Mối tương quan giữa mật độ, tỷ lệ kiểu hình G và O theo giai đoạn sinh trưởng
trên cây ngô xuân năm 2010
* Trên cây lúa xuân năm 2011
Hình 3.5. Mối tương quan giữa mật độ và tỷ lệ kiểu hình G, O của bọ xít xanh N. viridula
trên cây lúa xuân năm 2010
Phân tích mối tương quan giữa mật độ và kiểu hình G trên cây vừng theo giai đoạn
sinh trưởng của cây cho hệ số tương quan r = 0,4882 (R2 = 0,2384), thể hiện mối tương yếu.
Như vậy, năm 2011 trên cây ngô xuân mật độ và tỷ lệ kiểu hình G có mối tương quan
nghịch với r = - 0,6208. Trên cây vừng không có mối tương quan giữa mật độ và tỷ lệ kiểu
hình G.
3.1.5. Sự thay đổi hình thái của bọ xít xanh qua một số thế hệ nuôi
3.1.5.1. Mối liên quan giữa kiểu hình của bố mẹ đối với màu sắc của thế hệ con
Theo dõi thiếu trùng của các cặp bố mẹ khác nhau cho thấy màu xanh chiếm ưu thế ở
cả tuổi 4 và 5.
Bảng 3.3. Tỷ lệ các dạng màu sắc của tuổi 5 lột xác từ tuổi 4 của các cặp bố mẹ
Lột xác từ tuổi 4 màu xanh
Lột xác từ tuổi 4 màu đen
Cặp bố mẹ
TL tuổi 5 màu
TL tuổi 5
TL tuổi 5
TL tuổi 5
xanh (%)
màu đen (%) màu xanh (%) màu đen (%)
GxG
89,6
10,4
48,1
51,9
GxO
87,8
12,2
25,9
74,1
Ghi chú: TL: Tỷ lệ
TH2
95,2
4,8
40,1
59,8
TH3
100,0
0,0
66,7
33,3
Ghi chú: TL: Tỷ lệ
Kết quả bảng 3.4 cho thấy, ở cả ba thế hệ, các thiếu trùng tuổi 4 đều lột xác cho ra
hai loại màu sắc ở tuổi 5 là màu xanh và màu đen. Các thế hệ nuôi khác nhau có ảnh hưởng
đến tỷ lệ màu sắc của tuổi 5.
Nghiên cứu ảnh hưởng của các thế hệ nuôi đến tỷ lệ kiểu hình lột xác từ màu xanh và
đen của tuổi 5 thu được bảng 3.5.
Bảng 3.5. Tỷ lệ các kiểu hình của trưởng thành ở các thế hệ nuôi
Tỷ lệ (%) của các kiểu hình
Thế hệ nuôi
G
O
F
R
LX từ tuổi 5 xanh
75,6
14,9
9,1
0,4
TH1
LX từ tuổi 5 đen
chứng tỏ kiểu hình G và O có sức sống lớn, thích nghi tốt hơn các kiểu hình khác, điều đó giải
thích vì sao chúng thường phổ biến ngoài tự nhiên. Kiểu hình F xuất hiện với tỷ lệ thấp và R
18
chỉ xuất hiện ở thế hệ TH1, và đây là các kiều hình hiếm, sức sống kém. Khi nuôi càng nhiều
thế hệ, sự biểu hiện của các kiểu hình giảm và chỉ có các kiểu hình có sức sống cao mới xuất
hiện, vì vậy TH3 thu được hoàn toàn kiểu hình G.
Hình 3.9. Mối liên quan màu sắc của tuổi 4 và tuổi 5 tới trưởng thành của thế hệ TH1, TH2
và TH3
3.2. Đặc điểm sinh học và sinh thái học của bọ xít xanh N. viridula
3.2.1. Tập tính của bọ xít xanh
* Tập tính gây hại
Bọ xít xanh bắt đầu gây hại từ tuổi 2 đến giai đoạn trưởng thành. Thức ăn của BXX
gồm nhiều cây trồng nông nghiệp khác nhau như lúa, ngô, vừng, đậu, khoai tây, cà chua,...
Sức gây hại của BXX tăng dần theo các tuổi và gây hại nặng nhất ở giai đoạn trưởng thành.
* Tập tính giao phối và đẻ trứng của bọ xít xanh
A0
11
1
12
2
13
3
Có nhiều cạnh
-Trứng xếp liền kề, liên tục.
Hình bất định
-Trứng không xếp thẳng hàng
- Số cạnh của ổ trứng không xác
định.
-Trứng có thể xếp sát nhau hoặc
không là tùy thuộc vào từng ổ của
chúng.
Hình ổ nhỏ rời nhau
- Có hai ổ nhỏ hình đa giác rời
nhau.
- Số cạnh của mỗi đa giác không
xác định.
-Trứng ở mỗi đa giác có thể xếp
lien tục, thẳng hàng hoặc không
tùy vào mỗi ổ trứng.
Hình 3.11. Các hình dạng ổ trứng được sắp xếp của bọ xít xanh
* Tập tính quần tụ của thiếu trùng bọ xít xanh và hành vi ăn thịt đồng loại
Bọ xít tuổi 1, tuổi 2 và tuổi 3 thường quần tụ với nhau theo đàn. Chúng nằm chồng lên
nhau ở tuổi 1, 2 và nằm sát nhau ở tuổi 3. Bọ xít xanh là loài chích hút thực vật tuy nhiên
chúng vẫn có hành vi ăn thịt đồng loại. Hiện tượng này xảy ra khi nguồn thức ăn thiếu và số
lượng cá thể trong lọ nuôi quá nhiều. Bọ xít tuổi 3 bắt đầu có hành vi này.
20
3.2.2. Thời gian phát dục các pha và vòng đời
30,9 ngày và 34,2 ngày.Thế hệ TH3, thời gian phát dục của thiếu trùng dài nhất đạt 42 ngày.
Như vậy, các thế hệ nuôi không ảnh hưởng đến thời gian phát dục các pha và vòng
đời ở thế hệ TH1 và TH1. Thế hệ thứ 3, thời gian phát dục các pha có xu hướng kéo dài. Kết
quả này tương tự với nhận xét của Kiritani (1970).
* Hoạt động sinh sản của bọ xít xanh của bố mẹ tạo ra các thế hệ nuôi
Số trứng/cái ở thế hệ TH1 và TH2 tương tự nhau lần lượt là 120,3 quả và 110,8 quả.
Thế hệ TH3 có số trứng/cái thấp nhất đạt 47,3 quả. Như vậy, sức sinh sản có xu hướng giảm
khi nuôi nhiều thế hệ. Sức sinh sản ở thế hệ thứ 3 thấp nhất trong các thế hệ nuôi.
Như vậy, ở TH1 và TH2, số trứng/cái có xu hướng tăng khi số lần giao phối tăng.
Ngược lại, ở thế hệ TH3, số lần giao phối tăng thì số trứng/cái có xu hướng giảm. Khả năng
sinh sản của bọ xít xanh ở thế hệ TH3 đều có xu hướng giảm và đạt thấp nhất trong các thế
hệ nghiên cứu.
* Tỷ lệ sống sót của bọ xít xanh ở các thế hệ nuôi
Tỷ lệ sống sót các tuổi ở thế hệ TH1 dao động 61,2 -78,2% và tương tự với TH2 (69,8
– 80,8%). Sức sống các tuổi của thiếu trùng ở thế hệ TH3 rất thấp, dao động từ 38,6 – 63%.
Như vây, thế hệ TH1 và TH2 sức sống tương đương nhau nhưng giảm đáng kể ở thế hệ
TH3. Thế hệ TH3 có sức sống thấp nhất trong các thế hệ nuôi.
21
3.2.7. Ảnh hƣởng của nhiệt độ, ẩm độ đến sinh trƣởng và phát triển của bọ xít xanh
Sức sinh sản của bọ xít xanh có xu hướng tăng theo nhiệt độ. Khi nuôi bọ xít xanh ở
điều kiện 30oC; 57-60% con cái có khả năng đẻ lớn nhất với 181,4 quả. Ở điều kiện 23,835,6oC; 60-85% và 25oC; 57-60% bọ xít xanh có khả năng đẻ tương đương nhau lần lượt là
120,3 quả và 100,5 quả.
*Sức sống của bọ xít xanh ở các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm khác nhau
So sánh tỷ lệ sống sót sót của bọ xít xanh đến pha trưởng thành ở các điều kiện nuôi
cho thấy: ở điều kiện 23,8-35,6oC; 60-85% và 25oC; 57-60% cho tỷ lệ sống sót của trưởng
thành đạt tương tự nhau. Tỷ lệ sống sót của trưởng thành ở điều kiện 30oC; 57-60% đạt cao
nhất với 21,4%. Như vậy, trong các điều kiện nuôi, ở 30 oC; 57-60% cho sức sống bọ xít đạt
LSD0.05
46,30a±2,2
92,27b±5,4
91,67b±6,4
84,27b±7,6
69,53ab±2,5
34,96
62,97ab±4,3
55,23b±3,7
92,9b7a±7,2
74,40ab±2,5
75,27ab±2,8
33,67
ab
68,13 ±3,1
ab
a
69,67 ±4,0
74,40 ±5,8
74,60bc±6,4
abc
55,43 ±2,8
61,33ab±1,2
a
27,88
c
29,18
b
31,53
24,02
94,03 ±5,3
99,50 ±0,8
90,00 ±1,3
nhiều trứng hơn khi ăn quả đậu với 217,3 quả và đạt 163,0 quả đối với thức ăn là bắp ngô.
* Sức sống của bọ xít xanh khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau
Kết quả cho thấy, trong điều kiện thí nghiệm tỷ lệ bọ xít vũ hóa trưởng thành thấp, đạt
14,6% (264 cá thể) đối với quả đậu và 8,8% (132 cá thể) đối với bắp ngô.
3.3. Hiện tƣợng trú đông, sự phát triển theo mùa và diễn biến mật độ của bọ xít xanh
N. viridula
3.3.1. Hiện tƣợng trú đông của bọ xít xanh
3.3.1.1. Sự thay đổi màu sắc của bọ xít xanh trong mùa đông
Màu sắc là biểu hiện bên ngoài được xem là chỉ thị cho sự trú đông của bọ xít. Sự thay đổi
từ màu xanh chuyển sang màu nâu ổn định là biểu hiện rõ nhất của sự ngừng phát triển của bọ xít
xanh trong mùa đông. Trong mùa đông, bọ xít xanh xuất hiện hiện tượng trú đông nhưng không
đồng nhất với 2 nhóm: Nhóm ngừng phát triển (trú đông) với biểu hiện thay đổi màu sắc ổn định
(màu xanh chuyển sang màu nâu); Nhóm phát triển với biểu hiện thay đổi màu sắc không ổn
định hoặc vẫn giữ nguyên màu xanh.
3.3.1.2. Sự thay đổi bên trong cơ quan sinh dục cái của bọ xít xanh trong giai đoạn trú
đông
Nếu màu sắc là biểu hiện bên ngoài của hiện tượng trú đông thì sự thay đổi bên trong
cơ quan sinh dục cái của bọ xít xanh là biểu hiện đáng quan tâm.
* Sự thay đổi bên trong cơ quan sinh dục cái ở các thời điểm trƣớc trú đông, giai
đoạn trung gian và giai đoạn trú đông của bọ xít xanh
Sự thay đổi bên trong cơ quan sinh dục cái dễ dàng quan sát đó là tế bào trứng/ trứng
trong buồng trứng hay tinh trùng nằm trong các túi chứa tinh.
Trƣớc trú đông: Cơ quan sinh dục của bọ xít xanh ở trạng thái bình thường cho thấy,
ở thời kỳ sinh sản, buồng trứng có màu vàng và chứa đầy trứng thành thục có vỏ cứng. Túi
nhận tinh phình to chứa đầy tinh dịch bên trong và có màu trắng đục.
Giai đoạn trung gian: Túi nhận tinh chứa tinh trùng màu trắng đục, buồng trứng màu
vàng. Những cá thể này tiếp tục đẻ trứng tạo ra lứa phụ vào tháng 11 và đầu tháng 12.
Sự khác biệt xảy ra ở những cá thể có màu trung gian, không ổn định có thể chuyển
màu qua lại giữa màu xanh và màu nâu. Buồng trứng trống rỗng, các ống trứng màu vàng
nhạt có chứa các noãn bào màu trắng đục, túi nhận tinh xẹp và có màu trắng trong.
50-60%.
* Tỷ lệ các kiểu hình của trƣởng thành bọ xít xanh trong mùa đông
Trong vụ đông, bọ xít xanh có ba kiểu hình chính gồm G, O và F. Trong đó thì kiểu
hình G là kiểu hình phổ biến và chiếm ưu thế đạt 83,6%. Tiếp theo là kiểu hình O đạt 10,0%
và thấp nhất là kiểu hình F đạt 6,3%.
3.3.3. Sự phát triển theo mùa của bọ xít xanh
3.3.3.1. Sự luân chuyển của bọ xít xanh trong phổ ký chủ theo mùa trên đồng ruộng tại
Nghi Lộc, Nghệ An
Hình 3.12. Sự luân chuyển của bọ xít xanh trong phổ ký chủ năm 2011 trên đồng ruộng tại
Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
24
3.3.3.2. Sự phát sinh lứa của bọ xít xanh theo tháng trong năm tại Nghệ An
Hình 3.13. Sự phát sinh lứa theo tháng trong năm trên cây trồng ở Nghệ An
3.3.4. Diễn biến mật độ của bọ xít xanh trên một số cây trồng chính ở Nghệ An
3.3.4.1. Diễn biến số lƣợng bọ xít xanh trên cây ngô và cây lúa vụ xuân năm 2010
Theo dõi mật độ bọ xít từ giai đoạn ngô 8-10 lá đến giai đoạn chín sinh lý cho thấy, mật độ
bọ xít xanh có xu hướng giảm dần theo thời gian sinh trưởng của cây về cuối vụ. Mật độ cao nhất
là 8,9 con/m2 tại giai đoạn bắt đầu khi cây ngô có 8-10 lá (phân hóa hoa). Giai đoạn nở hoa và
chín sinh lý, mật độ bọ xít xanh thấp nhất đạt 1,5 con/m2.
Trên cây lúa, mật độ bọ xít xanh có xu hướng tăng dần từ giai đoạn đẻ nhánh cho đến
chín sáp. Mật độ bọ xít xanh đạt 2 đỉnh cao trong thời gian theo dõi. Đỉnh cao thứ nhất với
mật độ 6,2 con/m2 ở thời kỳ lúa đẻ nhánh. Giai đoạn lúa chín sữa, bọ xít xanh đạt đỉnh cao
thứ 2 với mật độ 13,7 con/m2.
3.3.4.2. Diễn biến mật độ của bọ xít xanh trên cây ngô vụ xuân và cây vừng vụ hè thu
năm 2011
1g
0,00
10,00 ±0,00
37,78 ± 2,23
48,15 ± 6,06
51,48 ± 4,55b
1,2 g
0,00a
33,33 ± 3,33a
62,22 ± 2,22a
72,59 ± 2,59a
78,40 ± 5,06a
1,4 g
0,00a
20,00 ±0.00b
30,74 ± 5,15b
41,48 ± 1,48b
63,06 ± 1,95ab
Tuổi 3
31,11 ± 1,11b 53,71 ± 1,85a
63,89 ±1,39a
67,59 ± 5,09b
67,59 ± 5,09b
Tuổi 4
10,37 ± 0,37c 28,52 ± 3,29b 43,98 ±3,62b
59,72 ± 5,01b
63,89 ± 1,39b
44,11 ± 3,51c
54,81 ± 3,70c
Tuổi 5
0,00d
13,70 ± 3,7c
33,87 ± 3,96c
49,40±6,64b 64,88±7,25b 84,33±1,86a 84,33±1,86a
7%
62,32±1,41c 82,24±0,91a 86,07±1,26a 86,07±1,26a
LSD0.05
11,87
13,61
6,33
4,91
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong phạm vi cột có sự sai khác có ý nghĩa (P