Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (pháp nhân)
Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 sẽ thay
cho Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 (BLDS 2005). Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (B
2015) gồm sáu phần, 27 chương, 689 điều với nhiều chế định mới, tiến bộ, được các Đại
Quốc hội tâm huyết đóng góp kỳ vọng thể hiện một cách đầy đủ nhất với tính chất là luật ch
và định hướng cho việc xây dựng các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự (QH
đặc thù, xử lý bất cập của luật hiện hành, giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn
sống. Sau đây là một số thống kê, so sánh và tổng hợp những điểm mới của BLDS 2015 so
BLDS 2005 có liên quan lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp.
Phần 1: Về Pháp nhân
1. Pháp nhân
Quy định rõ hơn điều kiện của một tổ chức được công nhận là pháp nhân (Điều 74 và Điề
BLDS 2015):
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất: được thành lập theo quy định của BLDS 2015, luật khác có liên quan.
Thứ hai: Có cơ cấu tổ chức theo quy định sau: a) Pháp nhân phải có cơ quan điều hành. Tổ c
nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ
pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân. b) Pháp nhân có cơ quan khác theo q
định của pháp nhân hoặc theo quy định pháp luật.
Thứ ba: có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản
mình.
Thứ tư: nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
2. Phân loại pháp nhân
Trước đây, BLDS 2005 không phân định rạch ròi giữa pháp nhân thương mại và pháp nhân
thương mại, nay BLDS 2015 phân định rõ 02 loại pháp nhân này (Điều 75 và Điều 76 Bộ
dân sự 2015):
6. Tài sản của pháp nhân
Đây là điểm mới của BLDS 2015: Tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu,
lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu
quy định của BLDS 2015, luật khác có liên quan (Điều 81 BLDS 2015).
7. Thành lập, đăng ký pháp nhân (Điều 82 BLDS 2015)
Thứ nhất: Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai: Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác
quy định pháp luật.
Thứ ba: Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.
Trước đây, BLDS 2005 không quy định rõ vấn đề này.
8. Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân (Điều 84 BLDS 2015)
Thứ nhất: Nhấn mạnh chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân.
nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.
Thứ hai: Bổ sung quy định việc thành lập, chấm dứt chi nhánh, văn phòng đại diện của
nhân phải được đăng ký theo quy định pháp luật và công bố công khai.
9. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân (Điều 86 BLDS 2015)
Thứ nhất, thêm quy định: NLPL dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp B
2015, luật khác có liên quan quy định khác.
Thứ hai, sửa đổi quy định về thời điểm phát sinh NLPL dân sự của pháp nhân: NLPL dân sự
pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho
thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì NLPL dân sự của pháp nhân phát sin
thời điểm ghi vào sổ đăng ký.
10. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân (Điều 87 BLDS 2015):
Quy định cụ thể việc thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể - một quy định mà trước đâ
BLDS 2005 chưa đề cập đến:
Tài sản của pháp nhân bị giải thể được thanh toán theo thứ tự sau:
Thứ nhất: Chi phí giải thể pháp nhân.
Thứ hai: Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với ngườ
động theo quy định pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao đ
tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết.
Thứ ba: Nợ thuế và các khoản nợ khác.
Sau khi đã thanh toán hết chi phí giải thể pháp nhân và các khoản nợ, phần còn lại thuộc về
sở hữu pháp nhân, các thành viên góp vốn, trừ trường hợp sau hoặc pháp luật có quy định kh
Trường hợp quỹ xã hội, quỹ từ thiện đã thanh toán hết chi phí giải thể và các khoản nợ nêu
tài sản còn lại được chuyển giao cho quỹ khác có cùng mục đích hoạt động.
Trường hợp không có quỹ khác có cùng mục đích hoạt động nhận tài sản chuyển giao hoặc
bị giải thể do hoạt động vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì tài sản của quỹ bị
thể thuộc về Nhà nước.
16. Phá sản pháp nhân
Đây là quy định mới tại BLDS 2015. Việc phá sản pháp nhân được thực hiện theo quy định
luật về phá sản. (Điều 95 BLDS 2015)
17. Chấm dứt tồn tại pháp nhân (Điều 96 BLDS 2015)
Thứ nhất: Thêm trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại:
Đó là trường hợp chuyển đổi hình thức theo quy định đã được đề cập trên.
Thứ hai: Bổ sung nội dung sau:
Khi pháp nhân chấm dứt tồn tại, tài sản của pháp nhân được giải quyết theo quy định của B
dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ
thể khác trong một thời hạn nhất định. Quyền hưởng dụng được xác lập theo
quy định của luật, theo thoả thuận hoặc di chúc. Thời hạn của quyền hưởng
dụng do các bên thỏa thuận hoặc do luật định nhưng tối đa chỉ đến hết cuộc
đời của người hưởng dụng đầu tiên, nếu người hưởng dụng là cá nhân và
đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng tối đa 30 năm, nếu người hưởng
dụng đầu tiên là pháp nhân.
- Về quyền bề mặt, Bộ luật quy định (từ Điều 267 đến Điều 273) theo
hướng, quyền bề mặt là quyền của chủ thể đối với mặt đất, mặt nước,
khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất
đó thuộc về chủ thể khác. Quyền bề mặt được xác lập theoquy định của luật,
theo thỏa thuận hoặc theo di chúc. Đối tượng của quyền bề mặt có thể là vật
cụ thể gắn với đất hoặc là phần không gian, theo đó vật gắn với đất sẽ được
tạo lập. Vật cụ thể gắn với đất có thể là vật nằm trên bề mặt đất, nằm dưới
mặt đất hoặc phần không gian trên mặt đất. Chủ thể quyền bề mặt có đầy đủ
các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với vật đó. Trong trường hợp đối
tượng của quyền là phần không gian mà trong đó các vật gắn với đất có thể
được tạo lập thì chủ sở hữu phần không gian có quyền xây dựng, trồng cây,
canh tác và có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với vật mới
được tạo ra.
20. Về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 292 đến
Điều 350)
Bộ luật ghi nhận đầy đủ, rõ ràng và hợp lý hơn về những biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ sau đây: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, cầm giữ tài
sản, bảo lưu quyền sở hữu, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp. Ví
dụ, về cầm cố, thế chấp thì Bộ luật quy định theo hướng, bên cầm cố, bên
thế chấp có quyền bán, trao đổi, tặng cho, thay thế tài sản cầm cố, thế chấp
nếu có thỏa thuận với bên nhận cầm cố, nhận thế chấp hoặc tài sản cầm cố,
đồng, hủy bỏ và hậu quả của hủy bỏ hợp đồng...
Về điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng, Bộ luật quy định
điều kiện giao dịch chung theo hướng, đó là những điều khoản ổn định do
một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng;
nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận
các điều khoản này. Điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác
lập giao dịch trong trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai
theo trình tự, thể thức do pháp luật quy định để bên xác lập giao dịch biết
hoặc phải biết về điều kiện đó.
- Về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản (lưu ý: đây là vấn
dề được thảo luận và xin ý kiến bằng phiếu của đại biểu Quốc hội),
Điều 420 Bộ luật quy định: Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản,
bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng
trong một thời hạn hợp lý. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được
về việc sửa đổi hợp đồng trong thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu
cầu tòa án: Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định; Sửa đổi hợp
đồng để cân bằng và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ
bản. Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp
việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực
hiện hợp đồng nếu được sửa đổi. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm
dứt hợp đồng, tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
23. Về một số hợp đồng thông dụng (Điều 430 đến Điều 569)
Bộ luật chỉ quy định về một số hợp đồng mang tính đặc trưng và đại diện
cho quan hệ pháp luật dân sự. So với Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân
sự năm 2015 không quy định về hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng thuê
nhà ở, hợp đồng bảo hiểm. Những hợp đồng này đã được quy định trong
Luật nhà ở, Luật kinh doanh bảo hiểm. Bên cạnh đó, Bộ luật cũng bổ sung
Lãi suất vay do các bên thỏa thuận và không được vượt quá 20%/năm
của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định
thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định
rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất
giới hạn quy định tại thời điểm trả nợ.
Như vậy, Bộ luật Dân sự 2015 quy định mức trần lãi suất cho vay cụ thể
ở mức 20%/năm và sử dụng mức lãi suất này làm lãi suất tham chiếu để xác
định các lãi suất khác có liên quan
Quy định tại Điều 468 loại trừ việc áp dụng mức trần lãi suất vay 20%
trong "trường hợp luật khác có liên quan quy định khác". Theo quy định tại
Điều 12 Luật NHNN và khoản 2, 3 Điều 91 Luật các TCTD, trong điều kiện
bình thường, lãi suất trong hoạt động ngân hàng sẽ thực hiện theo cơ chế tự
thỏa thuận, không có trần lãi suất.
- Bộ luật Dân sự 2015 không quy định về lãi suất phạt chậm trả áp dụng
trong trường hợp bên bảo hiểm chậm trả tiền bảo hiểm và bên thuê chậm trả
tiền thuê quyền sử dụng đất do không có nội dung quy định cụ thể về hợp
đồng bảo hiểm và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất như tại Bộ luật Dân sự
2005. Việc áp dụng lãi suất phạt chậm trả trong các trường hợp này được
thực hiện theo quy định tại Điều 357 về trách nhiệm dân sự do chậm thực
hiện nghĩa vụ trả tiền.
- Về lãi suất áp dụng trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ
(lãi suất nợ quá hạn), Khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ
thể, rõ ràng về lãi suất phạt quá hạn áp dụng trong trường hợp bên vay vi
phạm nghĩa vụ trả nợ: "Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay
không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với
biệt làm hệ thuộc luật áp dụng đối với hợp đồng, thừa kế, bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng và các hệ thuộc liên quan đến nhân thân theo hướng tiếp
thu có chọn lọc các tiêu chuẩn, chuẩn mực pháp lý chung đã được quốc tế
thừa nhận rộng rãi.
VỀ HIỆU LỰC THI HÀNH VÀ ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP
1. Hiệu lực thi hành
Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
2. Điều khoản chuyển tiếp (Điều 689)
2.1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có
hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
a) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác
với quy định của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo
quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật
quy định chi tiết Bộ luật dân sự năm 2005, trừ trường hợp các bên của giao
dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của
giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật
này.
Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác
với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm
2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự
năm 2005;
b) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà
có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng
các quy định của Bộ luật này;
c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu
lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và
các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự năm 2005
để giải quyết;
d) Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.