MỤC LỤC
Nội dung
Trang
1
Đặt vấn đề (Lý do chọn đề tài)
1
2
Giải quyết vấn đề
3
2.1
Cơ sở lý luận của vấn đề
3
2.1.1
Khái niệm quản lý.
3
2.1.2
2.2.2
Thực trạng đội ngũ GV mới của trường khảo sát từ năm học 2009- 2010 đến
năm học 2013- 2014
4
2.2.3
Thực trạng chất lượng giảng dạy, công tác của giáo viên mới trong nhà
trường và các biện pháp quản lí giáo viên trẻ của hiệu trưởng.
5
2.3
Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu trưởng đối với đội ngũ
giáo viên mới vào nghề ở trường THPT
6
2.3.1
Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động chuyên môn
cho GV mới vào nghề.
6
2.3.1.1
Tăng cường quản lí đổi mới phương pháp và sử dụng phương tiện dạy học
10
2.3.3.1
Mục đích, ý nghĩa của biện pháp
10
2.3.3.2
Nội dung tổ chức chỉ đạo thực hiện biện pháp
11
2.3.4
Tổ chức kèm cặp, giúp đỡ GV mới vào nghề và giao lưu chuyên môn với
đồng nghiệp ở các trường THPT trên địa bàn toàn huyện
12
2.3.4.1
Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:
12
1
của GV mới vào nghề
2.3.6.1
Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:
16
2.3.6.2
Nội dung tổ chức, chỉ đạo thực hiện biện pháp
16
2.4
Hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
17
3
Kết luận
21
Tài liệu tham khảo
những bài toán thực tế được đặt ra cho các hiệu trưởng các trường THPT là: quản
lý, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mới, nâng cao năng lực cho họ
để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của mỗi nhà trường.
Trong nhà trường THPT, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm tổ chức,
thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đào tạo của nhà trường. Một trong những mục
tiêu đó là chất lượng chuyên môn. Hoạt động chuyên môn được xem là “cái hồn”
của các hoạt động quản lý của hiệu trưởng. Thông qua hoạt động chuyên môn,
3
hiệu trưởng có thể tác động đến giáo viên về tình cảm nghề nghiệp, trách nhiệm,
lương tâm của người thầy, người dạy có thể tác động đến người học. Việc quản
lý chuyên môn của hiệu trưởng được thực hiện một cách khoa học thì hiệu quả
quản lý càng cao. Đối với mỗi đối tượng quản lý nói chung, đặc biệt là đội ngũ
giáo viên mới vào nghề nói riêng, hiệu trưởng cần có những phương pháp thích
hợp. Có như vậy mới giúp cho đội ngũ giáo viên nhà trường nói chung, giáo viên
mới nói riêng trưởng thành nhanh chóng, nâng cao được trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, yên tâm với nghề, tự tin, sáng tạo trong công tác, thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ giáo dục đào tạo của nhà trường mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân và
ngành Giáo dục giao phó.
Là Hiệu trưởng của một trường THPT vùng cao, tôi luôn băn khoăn, trăn
trở làm thế nào để nâng cao được chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tế như trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu:
“Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của hiệu trưởng đối với giáo viên
mới vào nghề ở trường THPT số 1 Bắc Hà” với mong muốn đóng góp một phần
công sức nhỏ bé của mình vào việc xác định hệ thống các biện pháp quản lý
chuyên môn của hiệu trưởng các trường THPT đối với đội ngũ giáo viên mới vào
nghề.
4
nghề từ 5 năm trở xuống).
5
2.2. Thực trạng năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên mới vào
nghề ở trường THPT số 1 Bắc Hà và những biện pháp quản lý chuyên môn
của Hiệu trưởng trường THPT số Bắc Hà với các giáo viên đó.
2.2.1. Khái quát về trường THPT số 1 Bắc Hà
Trường THPT số 1 Bắc Hà được thành lập năm 1966 là một cơ sở giáo dục
giàu truyền thống với bề dày gần 50 năm xây dựng và phát triển. Thời kì đầu
trường mới mở, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, đội ngũ cán bộ, giáo viên ít ỏi
cùng vô vàn khó khăn của điều kiện kinh tế - xã hội song những khó khăn đó
không làm giảm ý chí và lòng yêu nghề của những nhà giáo giàu tâm huyết với sự
nghiệp cao cả "trồng người". Vượt qua thử thách, từng bước khắc phục khó khăn,
các thế hệ nhà giáo đã chung tay cùng nhân dân địa phương xây dựng ngôi trường
ngày một khang trang, nền nếp dạy học ngày một ổn định và chất lượng giáo dục
được nâng lên, đặc biệt là trong những năm gần đây. Tuy nhiên, so với sự nghiệp
phát triển giáo dục đào tạo trong toàn tỉnh và yêu cầu ngày càng cao của xã hội,
nhà trường vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng giáo dục, chất lượng đội ngũ
và CSVC. Nằm ở địa bàn vùng cao của tỉnh, nhà trường còn gặp rất nhiều khó
khăn. Một trong những khó khăn đó là, đội ngũ cán bộ giáo viên đủ về số lượng,
nhưng chưa mạnh về chất lượng, còn một bộ phận giáo viên cao tuổi trình độ
chuyên môn thấp, bộ phận giáo viên mới vào nghề thiếu kinh nghiệm, chưa đáp
ứng được yêu cầu công tác, làm ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục của nhà
trường.
2.2.2. Thực trạng đội ngũ GV mới của trường khảo sát từ năm học
2009- 2010 đến năm học 2013- 2014
Bảng 1: Đội ngũ giáo viên mới ra trường ở trường THPT số 1 Bắc Hà
từ năm học 2009- 2010 đến năm học 2013- 2014
7
15
2010- 2011
39
15
11
13
2011- 2012
43
9
10
12
12
2012- 2013
43
2.2.3. Thực trạng chất lượng giảng dạy, công tác của giáo viên mới
trong nhà trường và các biện pháp quản lí giáo viên trẻ của hiệu trưởng
Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ giáo viên mới trong nhà trường từ
năm học 2009- 2010 trở về trước là đạt yêu cầu. Tuy nhiên, trong cách đánh giá
còn có sự châm chước. Số giáo viên được xếp loại giờ giỏi qua các vòng hội
giảng nhà trường tổ chức, các đợt kiểm tra của Sở Giáo dục và Đào tạo là hầu
như không có. Một số giáo viên chưa tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, tự
bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn ít, không liên tục,
hiệu quả thấp. Còn có những GV bộ môn chưa chú ý đến công tác giáo dục đạo
đức học sinh, xử lý tình huống sư phạm chưa khéo léo. Mặt khác, việc bồi dưỡng
giáo viên theo chuyên đề chưa được tiến hành thường xuyên. Chương trình bồi
dưỡng thường xuyên theo chỉ đạo của bộ GD-ĐT hàng năm được thực hiện rất
hình thức, ít hiệu quả. Một số giáo viên trẻ ý thức tự bồi dưỡng chưa cao, chưa
chịu khó học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp. Vì vậy còn hạn chế về năng lực
chuyên môn, chưa theo kịp nhu cầu đổi mới giáo dục.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả công tác chưa được tốt của
nhiều giáo viên mới vào nghề. Tuy nhiên, ở góc độ quản lí tôi cũng nhận thấy
một phần trách nhiệm của hiệu trưởng, hiệu phó nhà trường. Hiệu trưởng nhà
trường đã quan tâm đến các phương diện: Sắp xếp công việc, phân công nhiệm
vụ cho giáo viên mới; có biện pháp chỉ đạo giáo viên mới soạn bài, chuẩn bị bài
lên lớp của GV mới; biện pháp quản lý giờ dạy trên lớp và việc thực hiện chương
trình giảng dạy của GV mới vào nghề; phân công, quản lý giáo viên mới làm
7
công tác chủ nhiệm; công tác kiểm tra đánh giá giảng dạy đối với giáo viên mới
vào nghề; công tác bồi dưỡng giáo viên mới… theo đúng qui trình quản lý. Tuy
nhiên, việc quản lý nhiều khi dựa vào kinh nghiệm thực tế của bản thân những
người quản lý. Chưa thể hiện một cách xuất sắc phong cách quản lý khoa học,
hiện đại mà vẫn gần gũi kiểu “lạt mềm buộc chặt” để công tác quản lý chuyên
nhanh chóng hòa nhập cùng tập thể sư phạm nhà trường, tự tin cống hiến năng
lực của mình trong hoạt động, công tác đặc biệt là trong công việc được giao.
2.3.1.2. Nội dung tổ chức chỉ đạo thực hiện biện pháp
Ngay từ đầu năm học, hiệu trưởng nhà trường cần tổ chức học tập nhiệm
vụ năm học, quy chế chuyên môn, nghiệp vụ. Qua buổi học tập đầu năm này,
giáo viên nói chung, giáo viên mới vào nghề nói riêng nắm bắt hiểu rõ về quy chế
chuyên môn, về các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành, về
tình hình kinh tế, chính trị trong nước, quốc tế và địa phương, về chủ trương,
đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước giúp giáo viên mở rộng hiểu biết, nâng
cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, góp phần đổi mới tư duy về nghề
nghiệp.
Tiếp sau đó, hiệu trưởng tổ chức bồi dưỡng “nghiệp vụ chuyên môn” cho
đội ngũ giáo viên mới vào nghề. Nghiệp vụ chuyên môn bao gồm những công
việc liên quan đến chuyên môn của người giáo viên như việc soạn bài bài trước
khi khi lên lớp, việc sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, việc thực hiện một chuyên
đề giảng dạy, thực hiện nề nếp, chương trình dạy học, cách đánh giá xếp loại học
sinh , cách tính điểm, vào sổ điểm, ghi chép các loại hồ sơ, cách quản lí lớp học,
giải quyết các tình huống sư phạm cần thiết,… Đây chính là việc cung cấp hướng
dẫn cho giáo viên cách làm, tổ chức các hoạt động chuyên môn trong trường
THPT, giúp họ có kiến thức, kĩ năng tổ chức, quản lí các hoạt động giáo dục góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Và có tri thức căn bản
đó, đội ngũ giáo viên mới vào nghề sẽ nâng cao được các kĩ năng lao động sư
phạm, từ đó thay đổi căn bản tập quán, thói quen lao động tùy tiện, nghĩ gì làm
vậy, hình thành cách làm việc thật sự khoa học và hiệu quả.
Chỉ đạo tổ chức tốt các hoạt động, công việc chuyên môn: phong phú về
nội dung, đa dạng về hình thức để giáo viên mới vào nghề có nhiều cơ hội học
hỏi, vươn lên khẳng định mình.
Tạo ra môi trường làm việc thật thoải mái, tế nhị, lịch thiệp trong tập thể
sư phạm, nhưng hiệu quả công việc phải cao. Làm cho mọi thành viên thống nhất
về quan điểm, cách thức làm việc, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong công tác cũng
Thực hiện đầy đủ, đúng tiến độ, kiểm soát chặt chẽ và có hiệu quả chương
trình giảng dạy nhằm cụ thể hóa các chức năng, nhiệm vụ trong điều lệ nhà
trường sao cho phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của nhà trường, đảm bảo
cho GV hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao.
2.3.2.2. Nội dung tổ chức chỉ đạo thực hiện biện pháp.
10
Ngay từ đầu năm học, hiệu trưởng nhà trường cần phải xây dựng nề nếp
dạy học, nội quy, nguyên tắc thực hiện chương trình dạy học trong năm học.
Trước tiên, hiệu trưởng cần tập hợp các văn bản pháp qui của Bộ qui định,
qui chế chung về dạy học, các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học của
Sở GD&ĐT về dạy học để làm cơ sở pháp lý cho việc xây dựng kế hoạch chung
của nhà trường. Từ đó, xây dựng các qui định riêng của đơn vị với các tiêu chí cụ
thể, chi tiết để đánh giá thi đua cho chính xác, công bằng (từ việc xây dựng kế
hoạch chi tiết, giảm tải chương trình, thực hiện nề nếp ra vào lớp đúng hiệu lệnh
trống, dạy đúng thời khóa biểu, các hoạt động lên lớp, hồ sơ chuyên môn của
giáo viên, chất lượng soạn giảng, sử dụng các loại sổ sách chung, đến sinh hoạt
tổ, nhóm chuyên môn, chế độ thông tin báo cáo, đăng kí chỉ tiêu chất lượng bộ
môn, vấn đề thi đua khen thưởng…)
Tổ chức cho cán bộ, giáo viên học tập, trao đổi thảo luận và rút kinh
nghiệm cho việc thực hiện nề nếp ở năm trước. Các vấn đề tồn tại, yếu kém, chưa
thực hiện được cần phải quán triệt lại và đề ra các biện pháp khắc phục. Các vấn
đề đã thực hiện tốt phải được phát huy nhân rộng, đồng thời tuyên dương, khen
thưởng kịp thời các cá nhân giáo viên, các tổ chuyên môn thực hiện tốt.
Xây dựng được các thang điểm đánh giá thực hiện nội dung chương trình,
nề nếp dạy học. Từng tháng, từng đợt thi đua, hay từng học kỳ hiệu trưởng cần đề
ra nội dung trọng tâm và yêu cầu GV thực hiện dưới sự kiểm tra, giám sát của
TTCM, ban thi đua nhà trường nhằm chuyển hóa những yêu cầu thành nếp sống,
thành ý thức tự giác, tự chủ và tự đặt ra cho mình một chỉ tiêu cụ thể và phấn đấu
tiện dạy học
2.3.3.1. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp
Cải tiến phương pháp dạy học là dựa trên những phương pháp đã có, tìm
cách khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm nhằm nâng cao chất lượng
dạy học.
Phát huy triệt để tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học
tập, rèn cho HS phương pháp học ở lớp cũng như ở nhà, thúc đẩy quá trình nhận
thức và phát triển tư duy sáng tạo của các em.
Khai thác triệt để việc sử dụng thiết bị và đồ dùng dạy học nhằm nâng cao
chất lượng giờ học.
Tạo động lực cho đội ngũ giáo viên mới nâng cao năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ sư phạm. Từ đó có năng lực quản lý điều khiển giờ học theo yêu cầu
đổi mới phương pháp dạy học sao cho hoạt động của thày, trò phối hợp nhịp
12
nhàng, từ đó từng bước nâng cao chất lượng giờ giảng và kết quả học tập của học
sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
2.3.3.2. Nội dung tổ chức chỉ đạo thực hiện biện pháp
Công tác đổi mới phương pháp dạy học phải luôn được coi là một phần
quan trọng, là chiến lược ưu tiên trong kế hoạch năm học của nhà trường. Việc
đổi mới phương pháp dạy học được coi là một nội dung chủ yếu trong sinh hoạt
hàng tuần, hàng tháng, hàng học kỳ và cả năm học.
Xây dựng kế hoạch đổi mới phương pháp thông qua các hoạt động: Thi
GV dạy giỏi cấp Tổ, cấp trường, xây dựng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giỏi cấp
tỉnh; sinh hoạt chuyên môn- Sinh hoạt CM theo NCBH, hội thảo chuyên đề; Bồi
dưỡng giáo viên nói chung, GV mới vào nghề nói riêng (qua tự học, tự rèn luyện,
qua bồi dưỡng thường xuyên; Ứng dụng CNTT trong giảng dạy, làm và sử dụng
ĐDDH; Hoạt động giảng dạy hàng ngày…
Triển khai thực hiện, nhà trường giao cho tổ chuyên môn tổ chức học tập
ái, thiện chí hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong chuyên môn.
Tạo ra một sân chơi lành mạnh về hoạt động chuyên môn để đội ngũ GV
trẻ có cơ hội thể hiện trình độ, khả năng chuyên môn, bản lĩnh và phương pháp
sư phạm trước bạn bè đồng nghiệp. Tạo vào phong trào thi đua dạy tốt giữa các
trường THPT trong toàn huyện, trở thành truyền thống để các nhà trường nói
chung, GV mới vào nghề nói riêng có thêm nhiều dịp được gặp gỡ giao lưu, học
hỏi lẫn nhau.
Huy động và phối hợp được chuyên môn nhà trường, và các tổ chức đoàn
thể tham gia các tổ chức chuyên môn làm tăng thêm tình đoàn kết, sự cổ vũ, ủng
hộ của cơ quan nhằm thực hiện tốt chất lượng dạy học trong các nhà trường.
2.3.4.2. Nội dung và cách thức chỉ dạo thực hiện biện pháp
Lãnh đạo nhà trường căn cứ vào năng lực chuyên môn của GV hiện có,
phân công GV đồng môn, có năng lực chuyên môn vững vàng, hướng dẫn thử
việc - kèm cặp GV mới vào nghề. Mỗi cặp được phân công phải xây dựng một kế
hoạch cụ thể, thống nhất, tập trung vào các công việc chủ yếu sau:
Soạn giáo án kĩ càng, bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng, giảm tải, xác định
trọng tâm của từng tiết dạy, thống nhất phương tiện dạy học, cách thức tổ chức
từng phần, từng mảng kiến thức của tiết dạy, thể hiện rõ phần việc của thầy, của
trò, kí duyệt giáo án trước khi đến lớp.
GV chịu trách nghiệm hướng dẫn, giúp đỡ phải thường xuyên dự giờ (mỗi
tuần ít nhất 2 tiết), chỉ đạo uốn nắn, chấn chỉnh những hạn chế thiếu sót ngay sau
14
những tiết dạy của giáo viên được giúp đỡ. GV mới phải chủ động sắp xếp thời
gian, tích cực đi dự giờ GV hướng dẫn và các đồng nghiệp khác để rút kinh
nghiệm cho bản thân.
Hướng dẫn GV mới học tập nghiêm túc các quy chế chuyên môn, nghiệp
vụ: Ghi chép các loại hồ sơ, tiến độ kiểm tra cho điểm, cách ra đề, cách đánh giá
xếp loại học sinh… GV mới vào nghề phải chủ động hỏi GV hướng dẫn và có
để người dạy có thêm những kinh nghiệm bổ ích và mau tiến bộ, trưởng thành
trong chuyên môn, tạo không khí thật thoải, vui vẻ, nghiêm túc khi nhận xét.
Cuối đợt giao lưu, tổ chức tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm, phổ biến
rộng rãi đến tất cả các trường. Đồng thời cuối năm học tổng kết, đánh giá việc
kèm cặp, giúp đỡ GV mới vào nghề, khen thưởng các cặp đôi hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ được giao và tiếp tục duy trì hoạt động này trong những năm tiếp
theo.
2.3.5. Tăng cường quản lí hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên mới
2.3.5.1. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp
Biến hoạt động bồi dưỡng thành hoạt động TBD của GV mới vào nghề để
nâng cao phẩm chất chính trị, trình độ CM, NVSP, làm động lực cho hoạt động
dạy học và nâng cao kết quả học tập cho HS.
Xây dựng cơ chế quản lí hợp lý, có hiệu quả trong việc tổ chức, chỉ đạo
hoạt động tự bồi dưỡng, tạo điều kiện để GV phát huy dân chủ, tự giác chia sẻ
kinh nghiệm dạy học đạt kết quả tốt.
Thúc đẩy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của GV mới để họ có nhu cầu,
kỹ năng tự học, TBD. Đổi mới tư duy về TBD và phát huy thái độ tích cực đối
với hoạt động TBD của GV mới vào nghề để họ biết vận dụng sáng tạo kiến thức
bồi dưỡng.
2.3.5.2. Nội dung tổ chức chỉ đạo thực hiện biện pháp
Việc bồi dưỡng giáo viên mới cần tuân theo những nguyên tắc, thống nhất
giữa bồi dưỡng chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và các nhiệm vụ đặt ra từ thực tiên.
Bồi dưỡng theo kế hoạch. Việc bồi dưỡng phải thu hút được tất cả giáo viên, lãnh
đạo nhà trường. Luôn cập nhật các thành tựu mới của khoa học giáo dục và kinh
nghiệm tiên tiến. Kết hợp giữa bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Việc bồi dưỡng phải
được tiến hành liên tục, không bao giờ kết thúc. Chú ý nhu cầu đào tạo, nhu cầu
bồi dưỡng của từng cá nhân giáo viên, trên cơ sở đó mà có nội dung, phương
pháp và hình thức bồi dưỡng cho phù hợp.
16
đạo công tác Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng trong năm học mới.
17
Cần kết hợp Bồi dưỡng tại chỗ, với việc cử giáo viên đi học. Việc đi học
các lớp có hệ thống hoặc tham quan điển hình giáo dục tiên tiến giúp nhận thức
và trình độ giáo viên mới được nâng lên rõ rệt.
2.3.6. Sử dụng các biện pháp tâm lí xã hội kích thích sự tự giác, tinh
thần làm việc của GV mới vào nghề
2.3.6.1. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp:
Tạo môi trường đoàn kết trong cơ quan, mọi người cùng vui vẻ, chia sẻ,
yêu quý, giúp đỡ GV mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời tạo cho
họ động lực để tự kiểm soát công việc nghề nghiệp của bản thân… song vẫn giữ
được trật tự, kỷ cương nề nếp của nhà trường và quy chế chuyên môn theo quy
định.
2.3.6.2. Nội dung tổ chức, chỉ đạo thực hiện biện pháp
Hiệu trưởng luôn phải thể hiện rõ quan điểm làm việc với GV nói chung,
GV mới nói riêng, có thái độ dứt khoát nhưng tế nhị, cẩn trọng đối với công việc.
Hiệu trưởng là tấm gương sáng, khiêm nhường, đúng mực cho CB, GV, NV noi
theo. Cần tìm hiểu rõ hoàn cảnh, tính cách của GV, từ đó biết cách điều hòa các
mối quan hệ trong cơ quan. Xây dựng mối quan hệ dân chủ, bình đẳng trong giáo
dục, dạy học trên cơ sở tôn trọng kỷ cương nề nếp quy định chung của nhà
trường.
Gặp gỡ, trao đổi thường xuyên với GV mới, quan tâm đến việc phát triển
sự nghiệp của họ, tạo điều kiện giúp họ thành công và khẳng định chỗ đứng của
mình trong tập thể sư phạm.
Hiệu trưởng nhà trường phải biết khai thác và sử dụng các nhân tố tích cực
là những GV trẻ có nhiều tố chất thành công của các tổ nhóm chuyên môn để
kích thích các GV khác thi đua dạy tốt, công tác tốt bằng việc phân công hợp lý
thường xuyên tác động tới nhận thức của tập thể giáo viên tầm quan trọng của
hoạt động chuyên môn đối với GV nói chung và GV mới vào nghề nói riêng
trong mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thuộc lộ trình xây dựng
trường THPT đạt chuẩn quốc gia. Trong các buổi sinh hoạt Chi bộ, họp Hội
đồng, tổ chủ nhiệm hàng tháng, đoàn thể vấn đề xây dựng đội ngũ, quản lý hoạt
động chuyên môn luôn là một nội dung quan trọng được triển khai, một tiêu chí
được xem xét trước tiên để đánh giá quá trình công tác và học tập của giáo viên,
nhà trường lựa chọn cử những cán bộ giáo viên trẻ tham gia các khóa học nâng
cao trình độ, tạo điều kiện để những giáo viên chưa đạt chuẩn tiếp tục theo học
đảm bảo chuẩn hóa, các GV đã đạt chuẩn nâng chuẩn.
19
Trong quản lý hoạt động chuyên môn của GV nói chung, GV mới vào
nghề nói riêng, nhà trường đặc biệt lưu ý quản lý việc thực hiện chương trình
(quản lý giáo viên dạy đúng và dạy đủ chương trình dạy học là nắm toàn bộ
chương trình hoạt động dạy của giáo viên: Soạn bài, lên lớp, ôn tập, kiểm tra, tổ
chức các hình thức học tập ngoài lớp học); Quản lý chỉ đạo, kiểm tra việc soạn
bài và chuẩn bị giờ lên lớp; Quản lý giờ lên lớp của giáo viên, quản lý các loại hồ
sơ của giáo viên; Quản lý bồi dưỡng giáo viên. Nhà trường xây dựng kế hoạch, tổ
chức thực hiện, có kiểm tra, giám sát, điều chỉnh kế hoạch và đánh giá kết quả
thực hiện theo tháng, học kỳ và năm học. Kết quả, qua các năm, 100% GV trong
đơn vị thực hiện tốt quy chế chuyên môn, thực hiện nghiêm túc việc xây dựng kế
hoạch dạy học chi tiết, dạy học sát đối tượng (giảm tải chương trình); Đổi mới
phương pháp dạy học, có ý thức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thông qua
công tác tự bồi dưỡng, thông qua dự giờ thăm lớp, sinh hoạt chuyên môn theo
nghiên cứu bài học…
Kết quả sau 4 năm thực hiện, công tác chuyên môn của nhà trường đặc biệt
công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mới có nhiều khởi sắc:
Năm học 2009- 2010 nhà trường chưa có GV có trình độ thạc sĩ (mới có
2013- 2014, thầy đã có 03 giải HSG môn vật lý cấp Tỉnh, trong đó 01 em trong
đội tuyển chính thức HSG Quốc gia; 04 giải MTCT cấp Tỉnh; 02 dự án Nghiên
cứu khoa học cấp Tỉnh của HS lớp 10, lớp 12 do thầy hướng dẫn đã đạt giải cấp
tỉnh. Cô giáo Nguyên Thị Mỹ Hằng cũng đã xuất sắc trong việc ôn luyện đội
tuyển, kết quả có 02 giải Văn cấp tỉnh, trong đó có 01 em trong đội dự tuyển
quốc gia. Về tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, hai GV trẻ (Thầy Dũng và cô Hằng)
luôn vạch ra một kế hoạch học tập cho bản thân mình một cách hiệu quả, khoa
học. Chương trình bồi dưỡng chuyên đề của trường thầy cô đều tham gia đầy đủ,
có trách nhiệm và góp nhiều ý kiến sâu sắc. Dự giờ rút kinh nghiệm thường
xuyên từ đồng nghiệp, chăm chỉ đọc tài liệu tham khảo từ thư viện nhà trường.
Với phong trào bồi dưỡng, tự bồi dưỡng qua việc chỉ đạo, quản lý của hiệu
trưởng các thầy cô đều đạt GV dạy giỏi cấp trường 2 năm liền (Sở không tổ chức
thi GVDG cấp Tỉnh). Năm học 2013- 2014 Hội đồng thi đua khen thưởng của
nhà trường, xét và đề nghị Hội đồng thi đua khen thưởng cấp trên xét, công nhận
hai thầy cô giáo đạt Chiến sỹ thi đua cơ sở, thầy giáo Phạm Huy Dũng, được đề
nghị Chủ tịch UBND Tỉnh tặng Bằng khen.
21
Biểu 2: Kết quả xếp loại GV theo chuẩn nghề nghiệp, kết quả xếp loại
viên chức, xếp loại thi đua đối với GV mới (Năm học 2009- 2010 chưa xếp loại
GV theo chuẩn, nhà trường lấy kết quả kiểm tra chuyên môn)
Kết quả
T.số GV mới
ra trường (có
thâm niên
công tác dưới
5 năm)
0
CSTĐCS
LĐTT
GVDG cấp
trường
0
5
0
26
31
31
26
2
20
9
0
3
22
1
0
2
0
0
8
20
18
11
0
0
Xếp loại Viên chức
0
0
8
20
18
11
0
0
2
Kết quả xếp loại GV theo chuẩn, viên chức, thi đua đều tăng hơn so với
những năm học trước. Số lượng giáo viên đạt trình độ khá, giỏi, đảm nhận nhiệm
vụ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi năm học này tăng. Đặc biệt số giáo viên mới xếp
loại Trung bình giảm so với năm học 2012- 2013 là 8 GV.
Với tất cả các biện pháp trên, cùng với sự đồng lòng nhất trí của tập thể cán
bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh nhà trường, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo,
nhân dân địa phương, chất lượng đội ngũ của nhà trường đã có sự nâng lên rõ rệt.
Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng nền tảng cơ bản trong công tác giáo dục
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện hướng tới mục tiêu xây dựng
liên hệ biện chứng. Khâu trước là cơ sở của khâu sau. Đồng thời khâu sau điều
chỉnh, bổ sung, hỗ trợ khâu trước. Các khâu có thể xuyên thấm vào nhau, bổ sung
cho nhau tạo nên một tổng hòa về mặt phương pháp. Khâu đầu là nền tảng, khâu
tiếp theo là then chốt, khâu cuối cùng là quyết định.
23
Các biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của hiệu trưởng trường
THPT đối với giáo viên mới vào nghề mà đề tài đưa ra trên cơ sở thừa kế các
nghiên cứu trước đó, đồng thời xuất phát từ thực tiên quản lý hoạt động chuyên
môn của hiệu trưởng trường THPT số 1 Bắc Hà sẽ có tác dụng thiết thực đối với
việc nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường. Tuy nhiên các biện pháp
này được sử dụng có hiệu quả nhất khi được khai thác triệt để thế mạnh riêng phù
hợp với điều kiện thực tế từng trường. Dựa vào đặc điểm điều kiện của địa
phương, của từng trường mà người hiệu trưởng có thể tham khảo tìm ra những
điều phù hợp cho mình trong quá trình quản lý./.
24
Tài liệu tham khảo
1. Bộ GD & ĐT- Nhiệm vụ năm học 2009- 2010, 2010-2011, 2011-2012; 20122013; 2013- 2014; NXBGD 2009, 2010, 2011, 2012, 2013.
2. Các tài liệu của UBND tỉnh Lào Cai và Ngành GD&ĐT tỉnh Lào Cai
3. Chương trình hành động số 104-CTr/TU của Tỉnh uỷ thực hiện Kết luận 51KL/TW của BCH TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
4. Đề án số 11 của BCH Đảng bộ tỉnh khóa XIV về “Phát triển, nâng cao chất lượng
giáo dục giai đoạn 2011-2015”;
5. Đảng công sản Việt Nam,Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính
trị Quốc gia Hà Nội, 1996.
6. Đảng công sản Việt Nam,Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính
trị Quốc gia Hà Nội, 2001.