ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP. HCM
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC
Môn: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Đề tài: Tính kỳ ảo phương Đông và tính duy lý phương Tây
trong truyện “Vàng và máu” của Thế Lữ
Giảng viên hướng dẫn: Lê Thụy Tường Vy
Sinh viên thực hiện: Đinh Thảo Nguyên
Mã số sinh viên: 1456020097
Lớp: Ngôn ngữ học
[Type text]
Page 1
I)
Tổng thuật truyện “Vàng và Máu” của Thế Lữ
Truyện kể về quả núi Văn Dú, được người dân tin rằng là hang Thần linh
thiêng vì bao nhiêu người đến đó đều mất tích hoặc chết. Có hai người đàn ông
Thổ, được quan châu Kao Lâm giao cho trách nhiệm đến Văn Dú tìm vàng. Trước
khi đi, quan Châu Kao Lâm có đưa cho mảnh giấy có chứa câu thần chú hộ mệnh
để thoát chết khi vào hang Thần. Bản địa đồ ấy nguyên là của ông già ở Bản Đong
tên là Hoàng An Lài, lúc gần chết trao lại người lý trưởng ở đấy, nói rằng đó là bản
sao lại bức địa đồ của một người Tàu đời nhà Minh sang làm quan bên này, viên
[Type text]
Page 2
của kẻ nào có vàng bạc giấu ở trong hang. Tại đây, tên người Thổ đã kể hết sự tình
cho quan Châu Nga nghe và giao cả mảnh giấy cho ngài.
Suốt cả đêm đó, Ông châu Nga Lộc vò đầu bứt tay, đọc xuôi, đọc ngược tờ
giấy nhưng vẫn không tìm ra lời giải từ những con chữ khó hiểu. Quá mệt mỏi ông
Châu tính bỏ cuộc. Ông ta lại bên án để tắt bớt đèn đi, chợt thấy chén nước thừa đổ
ướt cả tờ giấy. Ông vội cầm lên và thấm vào tập đơn từ cho ráo rồi nhân ngọn đèn
đấy hơ lên cho khô, vô tình phát hiện ra hàng chữ Hán và hai hình vẽ hai bên càng
nổi rõ ở trên ngọn lửa tạt đi tạt lại. Rồi ông ta giáp cả hai ngọn đèn lại mà hơ hờ
giấy lên. Quan Châu cầm giấy giơ ra trước mắt mà đọc, bó đuốc lửa cháy ở ngay
sau tờ giấy. Ông Châu bóc chẻ tờ giấy làm đôi. Một miếng giấy vuông sắc trắng
hơn, dán áp vào nửa tờ giấy thứ hai, cầm soi lên ngọn lửa thì thấy chi chít những
nét chữ nhỏ nằm hỗn độn. “Hang Văn Dú trông như cái mồm có hai răng. Ba thước
nói là chân, bốn thước nói là tay. Mày đo từ cửa hàng vào một trăm chân, rồi mày
đo trở lên một tay, thì sẽ thấy chữ tên của mày là Thạch. Đào từ chữ Thạch xuống
sẽ thấy một cái hang nữa mang những hòn đá nhẵn như trứng. Đá này giữ kho của
đó. Nhưng không được lấy sức mà mang vì mày tìm thấy vàng nhưng mày chết.”
Dưới tờ giấy, có một dòng viết nhỏ hơn: “phải dán giấy này như cũ, mang theo
trong mình đến khi vận hết của trong Văn Dú. Nếu trong hang không có dấu vết
tìm đào thì về sau tìm đến nhà con cháu họ Hoàng mà thưởng cho họ năm nghìn
vàng. Nếu thấy có người chết và có chỗ đá lở thì phải cẩn thân mà hết sức tránh sự
báo thù của họ Hoàng”.
Sáng hôm sau, ông Châu Nga Lộc cùng 5 thuộc hạ thân cận lên đường, đến
hang Văn Dú. Tại đây ông Châu quan sát thi thể của người Khách, lẫn người Thổ
Nùng Khai. Phát hiện ra người Khách chết do chém nhiều nhát trước khi bị treo lên
cây. Nùng Khai chỉ bị những vết thương nhỏ ở ngón tay, đúng như tên người Thổ
Năm 1934, năm mà “Vàng và máu” xuất hiện cũng chính là năm “Tự lực văn
đoàn” chính thức được thành lập, có tuyên bố một cách công khai. Cùng năm 1934
này, “Tự lực văn đoàn” bắt đầu có những tác phẩm về sau sẽ chứng tỏ khả năng tồn
tại lâu dài và ý nghĩa khai phá vô cùng to lớn. Dấu ấn sớm nhất của “Tự lực văn
đoàn” là tác phẩm “Hồn bướm mơ tiên” của Khái Hưng (1933). Sau này, người ta
ít nhớ rằng “Vàng và máu” được xuất bản cùng năm với “Nửa chừng xuân” của
Khái Hưng và “Anh phải sống” của Nhất Linh và Khái Hưng. Rất ít người chịu
nhìn nhận một cách thấu đáo vị trí của “Vàng và máu”, một vị trí cần được xem xét
ở hai khía cạnh.
1.
“Vàng và máu” đối với bản thân Thế Lữ. Thế Lữ, tên thật là Nguyễn
Thứ Lễ cùng thế hệ với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Long,… tức là cái
thế hệ muộn hơn Khái Hưng, vốn dĩ sinh trước chục năm, vào khoảng kết thúc của
thế kỷ 19. Khái Hưng trước khi làm nên tờ “Phong hóa” đã nổi tiếng trên văn đàn.
Ban đầu, Khái Hưng nghĩ mình sẽ trở thành một cây bút chính luận nhưng “Tự lực
văn đoàn”, nhất là Nhất Linh đã khuyến khích ông trở thành nhà văn. Vậy là, lịch
sử văn chương Việt Nam có một nhà văn lớn. Ở phương diện biến chuyển này, Thế
Lữ rất giống Khái Hưng. Khái Hưng thì trở thành tiểu thuyết gia thay vì một nhà tư
tưởng, còn Thế Lữ lẽ ra đã là nhà thơ thì lại thành nhà văn viết văn xuôi. Thật ra,
việc Thế Lữ ngừng làm thơ để chuyên viết văn xuôi mang một ý nghĩa rất lớn, cho
bản thân Thế Lữ và cho “Tự lực văn đoàn”. Thế Lữ của hồi năm 1934 đã giúp Nhất
Linh và Khái Hưng tạo nên thế chân kiền vững chắc cho văn xuôi “Tự lực văn
đoàn” thuở ban đầu, mảng văn xuôi đáng nhớ mà không lâu đó sẽ có thêm sự góp
mặt xuất sắc của Hoàng Đạo. Nhìn vào cuộc đời Thế Lữ một cách tổng thể, con
người ngày nay hẳn phải rất kinh ngạc vì bước chuyển từ thơ sang văn xuôi không
phải lần “chuyển hóa” duy nhất của Thế Lữ: chỉ đến cuối thập niên 30 của thế kỷ
20, Thế Lữ đã dần chuyển sang địa hạt kịch, và ông sẽ trở thành vị chủ tịch đầu
tiên của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam vào năm 1957, cái năm hình thành các
hội đoàn quan trọng nhất của nền nghệ thuật miền Bắc Việt Nam (cũng là năm
trị văn chương, và sự vững chắc đầy tính chất bùng nổ ấy, rất nghịch lý, dựa rất
nhiều vào lựa chọn của Thế Lữ khi viết bốn câu chuyện trong “Vàng và máu”. Bởi
vì, Nhất Linh, với nổi trội tinh thần cách mạng triệt để, phải viết những tiểu thuyết
như “Đoạn tuyệt” hay “Lạnh lùng”, còn Khái Hưng, với sự dày dạn từng trải và
một tính cách ôn hòa, mềm mại, như thể nằm ở lưng chừng giữa cũ và mới, điều
mà ta thấy rõ ở “Nửa chừng xuân” và nhất là “Hồn bướm mơ tiên”. Cũng không
lâu sau năm 1934 này còn xuất hiện một tác phẩm nữa của Khái Hưng: cuốn tiểu
thuyết lịch sử “Tiêu sơn tráng sĩ”, dấu vết không thể rõ ràng hơn cho sự ngoái nhìn
và ý hướng neo đậu của Khái Hưng vào lịch sử (và do đó, truyền thống); “Tiêu sơn
tráng sĩ” sẽ không được hậu thế dành nhiều quan tâm, nhưng thật ra nó có ý nghĩa
rất lớn, nó tạo ra sự cân bằng trong cái nhìn của Khái Hưng, bên dưới những tác
phẩm văn chương vô cùng êm ả ấy. Ở riêng điểm này, Thế Lữ đặc biệt gần với
Khái Hưng.
Nhưng Thế Lữ đẩy mọi thứ đi xa hơn nhiều. Nhất Linh tiến thẳng về phía
trước, Khái Hưng ở đoạn giữa, còn Thế Lữ là một cuộc giao hảo đầy ngoạn mục
[Type text]
Page 5
giữa lứa nhà văn sinh đầu thế kỷ 20 và truyền thống nhiều thế kỷ. Viết lời tựa
cho “Vàng và máu”, Khái Hưng đã không hề nhầm lẫn: Thế Lữ đã đưa cả một quá
khứ đậm hương vị Bồ Tùng Linh đến với hồi đầu thập niên 30 ở Việt Nam. Nhưng
còn hơn thế nhiều: nếu trong thơ, Tản Đà là gạch nối giữa hiện tại và quá khứ (nên
ông đương nhiên có vị trí thứ nhất trong Thi nhân Việt Nam: đây là sự thấu hiểu kỳ
tài nhất của Hoài Thanh), thì ở văn xuôi, Thế Lữ nối truyền thống truyền kỳ
Việt Nam vào với văn xuôi hiện đại. Ta không thể tưởng tượng được một nền văn
chương đích thực hiện đại lại tách rời hoàn toàn khỏi quá khứ. Bởi thế vị trí của
Thế Lữ cùng “Vàng và máu” chính là cái trung điểm vô hình nhưng tuyệt đối ý
nghĩa này.
nghiền ngẫm hiện thực của nghệ sĩ. Yếu tố kì ảo hiện diện trong văn chương là một
tất yếu bởi nghệ thuật là sản phẩm của tưởng tượng, hư cấu, và cái lí cho sự ra đời,
[Type text]
Page 6
tồn tại của diễn ngôn văn chương chính là nỗ lực nói lên cái mà diễn ngôn thông
thường bất lực.
Phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, kì ảo là một phần không thể
thiếu trong vô thức cộng đồng, làm nên những đặc trưng trong vũ trụ quan, nhân
sinh quan cũng như trong tư duy nghệ thuật. Văn học có yếu tố kì ảo (sau đây gọi
là văn học kì ảo) dẫu có nhiều biến chuyển theo điều kiện lịch sử - xã hội, dường
như vẫn là một mạch chảy liên tục. Ma lực của kì ảo đã thu hút các thế hệ chủ thể
sáng tạo văn học, từ nhân dân lao động, những người thấm đẫm nguyên lí Nho gia
như Nguyễn Dữ, Phạm Đình Hổ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Thượng Hiền…, những trí
thức Tây học như Nhất Linh, Khái Hưng, Thanh Tịnh, Đỗ Huy Nhiệm, Thế Lữ,
Nam Cao… đến những người vốn không xa lạ với lí luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, lại hằng ngày tiếp xúc với nền khoa học kĩ thuật hiện đại như Đoàn Lê,
Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Phạm Ngọc Tiến, Ngô Tự Lập, Hồ Anh Thái, Tạ Duy
Anh, Nguyễn Bình Phương... Hành trình của dòng chảy kì ảo, vì thế, cũng góp
phần phản ánh sự phức tạp và không kém phần sinh động của diễn trình văn học
dân tộc.
1.
Cái siêu nhiên xuất hiện trong một hình thức truyện ở thế kỷ XV như
một xương sống chi phối toàn bộ cốt truyện được gọi là “truyền thuyết và cổ tích”
- như Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San đã nói về “Lĩnh Nam chích quái”. Tuy
nhiên, loại truyện này không thuộc thể loại kỳ ảo - như thuật ngữ đã được qui ước
ở trên, bởi ở một số truyện, cái siêu nhiên được giải thích bằng thiên nhiên (hòn
núi có dáng vọng phu) hoặc lịch sử (Đổng Thiên Vương phá giặc Ân) v.v... trong
người Thổ thì cửa hang Thần trông như mồm một con yêu hay con hổ quái gở. Cái
mồm ấy phun ra những hơi độc làm thành dịch tễ, gió bão để phá hủy các làng.
Trước của hang Thần, người thì bảo có toàn đầu lâu, người thì bảo có đủ thứ rắn
rết…”
[Type text]
Page 8
Để tăng thêm sự ly kỳ, huyền bí của ngọn núi Văn Dú, Thế Lữ nói về tập tục
tế người con gái đẹp cho Thần núi để tránh mọi tai ương. “Tiếng oán khóc của các
cha mẹ những người gái trinh bị giết quăng xuống suối nghe bi thảm đầy trời đất,
nhưng không hề cảm được lòng những dân làng độc ác vì ngu dại kia…” Thế Lữ
đã dựng lên một tiền đề vững chắc để đặt nhân vật của mình vào hành trình đi tìm
vàng trong núi Văn Dú là khác người, là cuộc phiêu lưu đầy chết chóc, làm nên
chất kinh dị cho câu chuyện.
Nói cách khác, cái kỳ ảo được Thế Lữ tạo ra nhằm mục đích che đậy cái sự
thật ông sẽ phơi bày. Cái kỳ ảo này kế thừa từ truyện dân gian và truyện truyền kỳ
giai đoạn trước. Ngay từ sơ khởi, văn học Việt Nam đã gắn liền với kì ảo. Chính cơ
tầng địa văn hoá, địa lịch sử của một xã hội nông nghiệp phương Đông là sự khích
lệ, là môi trường thuận lợi để yếu tố kỳ ảo nảy sinh. Thế Lữ đã kế thừa truyền
thống đó. Thế giới quan kì ảo của văn học dân gian qua “Vàng và máu” có thể nhận
thấy rõ nhất qua lòng tin của người Thổ về sự linh thiêng của ngọn núi Văn Dú.
Cách Thế Lữ, gần 70 năm, Nguyễn Ngọc Tư viết tản văn “Ma và người”. Đầu tiên,
Nguyễn Ngọc Tư cũng kể một vài chuyện ly kỳ từ đức tin của con người như
chuyện mỗi lần bà ngoại vấp té, đều nhìn xung quanh, giọng nửa trách móc, nửa
tôn kính, “mô phật, ai giỡn mà kỳ, đẩy bà già này làm chi?” hay kể về đức tin tàn
nhang cong queo trong đám giỗ thì ba tin ông bà về, không dám leo trèo những cây
đa, cây đề vì tin ma khoái ở đó, …
Với tư tưởng phương Đông, lòng tin con người vào ma, thánh Thần không
Trong thơ cũng vậy, hình ảnh thiên nhiên mây nước quạnh hiu, hoang dại; những
rừng thiêng, bóng cả cây già, hùng vĩ nhưng thâm u; cả nhân vật con hổ chúa tể
“oai linh của rừng thẳm”…cũng chính là thế giới luôn trở đi trở lại trong sáng tác
của ông. Đó là dấu ấn của kí ức Lạng Sơn mà mười năm thơ dại đầu đời cậu bé đã
sống với bao câu chuyện huyền bí của núi rừng. Nào là chuyên ma xứ Lạng,
chuyện thần hổ, thần rừng, ma cà rồng, chuyện Tàu để của, chuyện thần đanh đỏ
mỏ... Rồi hiện thực cuộc sống xứ Lạng với những cuộc săn bắn thú dữ trong rừng,
giết hổ, giết gấu, chuyện kể cảnh xử tử ghê rợn bên kia kia biên giới, và cả bọn Tây
râu xồm gớm ghiếc… Tất cả đọng lại trong trí óc non nớt của câu bé cô độc, giàu
tưởng tượng - và dường như chủ yếu sống bằng tưởng tượng - biết bao nhiêu là câu
chuyện hãi hùng ghê gớm về rừng núi.
Môi trường tự nhiên huyền bí ở miền núi bao giờ cũng là một vùng khuất tối
trong tâm thức mà con người không sao chiếm lĩnh hết được. Những khoảng trống
ấy đã được trí tưởng tượng lấp đầy, bằng một thứ tâm lí huyền thoại, kì ảo. Không
gian âm u ấy có cái gì thiêng liêng khiến con người vừa kính sợ vừa e dè trước sức
mạnh thần bí của nó. Vì thế, những kí ức Lạng Sơn là những chất liệu có thực của
cuộc sống mà bản thân đã trải nghiệm, được Thế Lữ huyền thoại hóa, kinh dị hóa
vào sáng tác của mình với một tư duy sáng tạo độc đáo, kết hợp với những yếu tố
phương Tây mới lạ mà ông được tiếp cận trên ghế nhà trường Pháp Việt.
V)
Tính duy lý phương Tây trong “Vàng và máu”
Tính duy lý (Rationalism) là một học thuyết trong lĩnh vực nhận thức luận.
Theo nghĩa rộng nhất, đó là quan điểm rằng lý tính là nguồn gốc của tri thức hay
sự minh giải. Theo nghĩa kỹ thuật hơn, chủ nghĩa duy lý là một phương pháp hoặc
học thuyết mà trong đó tiêu chuẩn về chân lý không có tính giác quan mà có tính
trí tuệ và suy diễn logic. “Làm sao cho văn học ta không kém gì Âu châu”. Đây là
tâm niệm của Thế Lữ. Khi học ở trường Cao đẳng Mỹ thuật, ông đã cùng bạn bè
từng tổ chức một nhóm văn học, mục đích chuyên thảo luận về sự đổi mới văn học,
tuổi, người khỏe mạnh và tinh anh. Ông là một người thổ vào hạng tri thức, đọc
qua nhiều sách chữ Hán, biết rất nhiều chuyện cũ. Những điều ly kỳ mà dân ông
mê tin, như những việc bí hiểm trong hang Thần, ông vẫn ngờ là chuyện huyền
hoặc cả. Ông cho rằng đó chỉ là một điều phao truyền vô lý của những người bày
chuyện, hoặc là những mưu kế của kẻ nào có vàng bạc giấu ở trong hang”, từ nền
là một người có tri thức, học rộng hiểu nhiều, từ lâu đã không có lòng tin mê muội
vào hang thần mới đủ khả năng khám phá bí mật mà người khác không làm được.
Những cái chết trong “Vàng và máu” ngỡ như là lạ lùng, không giải thích
được nhưng thật ra Thế Lữ đã lồng ghép những chi tiết “mở khóa” ngay trong sự
kỳ lạ. Đó là chi tiết “chỉ có một vết thương nhỏ ở tay, nhiều nhất là ở các ngón, chỉ
lấm tấm rướm máu như chỗ da kì mạnh hay bị sướt vào đâu”, chi tiết đó lặp lại ở
những xác người ở trong hang thần. Từ sự quan sát tỉ mỉ của quan Châu Nga Lâm
đã giúp ông ta giải mã được bí mật từ hang Thần. Cách “mở nút” của Thế Lữ vô
cùng thuyết phục khi giải thích về những “hòn đá giết người trong Văn Dú”: “quan
châu Nga Lộc mới lý giải cho thuộc hạ tại sao những viên đá vô tri vô giác trong
[Type text]
Page 11
hang Văn Dú có thể giết được người. Đó là cái kỳ mưu của viên qua người Tàu đời
nhà Mình, chứ không có thần thánh gì hết. Chung quanh những tảng đá đó được
trát lên một lớp cát làm bằng mảnh sứ hoặc thủy tinh đâm nhỏ, luyện cho keo lại
với nhựa cây độc tên là Mây Nôm. Nhựa cây này nếu ngâm tên thì tên hóa độc,
không cần bắn vào chỗ hiểm, chỉ cần sây da rướm máu cũng đủ cho kẻ bị thương
chết không thể cứu được. Những hòn đá chứa đầy thuốc độc đó được dùng xây lấp
cửa hang giấu của, trở thành một thứ quân canh gác chắc chắn không gì bằng. Vì
vậy, những kẻ tìm vàng như bọn con cháu họ Hoàng, bọn cướp Khách, tên Nùng
Khai, đều vì bị thứ cát sắc cạnh trên những hòn đá đâm vào da mà bỏ mạng”. Cái
duy lý phương Tây ở đây kết hợp với truyền thống, giản dị phương Đông ở chi tiết
Page 12
ở trên ngọn lửa tạt đi tạt lại. Rồi ông ta giáp cả hai ngọn đèn lại mà hơ hờ giấy
lên. Quan Châu cầm giấy giơ ra trước mắt mà đọc, bó đuốc lửa cháy ở ngay sau
tờ giấy. Ông Châu bóc chẻ tờ giấy làm đôi. Một miếng giấy vuông sắc trắng hơn,
dán áp vào nửa tờ giấy thứ hai, cầm soi lên ngọn lửa thì thấy chi chít những nét
chữ nhỏ nằm hỗn độn. “Hang Văn Dú trông như cái mồm có hai răng. Ba thước
nói là chân, bốn thước nói là tay. Mày đo từ cửa hàng vào một trăm chân, rồi mày
đo trở lên một tay, thì sẽ thấy chữ tên của mày là Thạch. Đào từ chữ Thạch xuống
sẽ thấy một cái hang nữa mang những hòn đá nhẵn như trứng. Đá này giữ kho của
đó. Nhưng không được lấy sức mà mang vì mày tìm thấy vàng nhưng mày chết.”
Dưới tờ giấy, có một dòng viết nhỏ hơn: “phải dán giấy này như cũ, mang theo
trong mình đến khi vận hết của trong Văn Dú. Nếu trong hang không có dấu vết
tìm đào thì về sau tìm đến nhà con cháu họ Hoàng mà thưởng cho họ năm nghìn
vàng. Nếu thấy có người chết và có chỗ đá lở thì phải cẩn thân mà hết sức tránh
sự báo thù của họ Hoàng”.
Thứ hai, tính duy lý phương Tây trong “Vàng và máu” là cốt truyện kinh dị
là một sản phẩm điển hình của trí tuệ. Những chi tiết nhỏ xíu trong truyện, ngỡ như
không liên quan với nhau được Thế Lữ xâu chuỗi hợp tình, hợp lý, không một chi
tiết nào thừa thãi. Tâm lý nhân vật cũng được diễn tả một cách tinh vi. Ví dụ như,
quan Châu Nga Lộc là một người thông minh (ông ta cầm tờ giấy mật mã đọc
ngược đọc xuôi vì đoán ra bên trong có bí mật, chứ không như tên người Thổ Nùng
Khai chỉ nghĩ đó là câu thần chú), ông ta nghi ngờ hòn đá chính là nguyên nhân
những cái chết trong hang Văn Dú (quan sát kỹ cái chết của từng người, rút ra nhận
xét, sau đó bảo thuộc hạ tránh xa những hòn đá đó ra => lấy được kho vàng). Ông
ta phát hiện ra người Khách bị giết do đám người có lòng tham kho vàng (khi phát
hiện ra vàng trong hang Văn Dú ông ta vẫn đề phòng những người thuộc hạ theo
cùng bằng cách cầm kỹ thanh gươm bên mình để phòng thân, …) tất cả sự chuẩn
mình nên bị đám thổ phỉ giết chết, nhà họ Hoàng vì mong muốn chiếm được kho
báu của viên quan Tàu nên bí mật sao chép mật thư gây nên nhiêu cái chết cho con
cháu đời sau, …
Truyện “Vàng và máu” ra đời trong giai đoạn này dẫu đoạn tuyệt với môi
trường trung đại, chịu sự hấp dẫn và tác động mạnh mẽ của văn học hiện đại
phương Tây, vẫn không ngừng bám chặt để hút dưỡng chất từ truyền thống. Điều
đó khiến cho thể loại truyện kinh dị hiện đại không bị xem là những “quái thai của
thời đại”, đồng thời cũng không quá nhàm chán, lỗi thời với thị hiếu, nhu cầu của
độc giả hiện đại. Những sáng tác “truyện kinh dị đời mới” ấy, một mặt giúp nhà
văn bộc lộ những phản ứng yếu ớt của mình (bằng cách tìm về quá khứ, trốn vào
thiên nhiên hoang ảo, vào thế giới của hồn ma, của đầu lâu, sọ người, hoặc những
mối tình mê đắm, huyễn hoặc với “gái Liêu trai”...), mặt khác, nó cũng là bức bình
phong để tác phẩm dễ dàng thoát được mũi kéo kiểm duyệt của chế độ Thực dân.
Có thể xem sự “lại giống” trên là một hiện tượng thú vị của vấn đề tiếp biến của
truyện kì ảo những năm đầu thế kỉ XX, tạo thành một hiện tượng trăm hoa đua nở
giữa buổi giao thoa của hai thời đại, đưa văn học Việt Nam nhanh chóng hòa vào
quỹ đạo hiện đại hoá.
Việc tìm đến kì ảo cũng là lẽ tự nhiên của một số nhà văn trụ cột trong “ Tự
lực văn đoàn” - những người ngay từ nhỏ đã từng “thích nhất chuyện Liêu trai”
(Khái Hưng). Đó là một biểu hiện của ý thức tôn trọng quyền sáng tạo cá nhân rất
mới mẻ lúc này. Sự gặp gỡ, hòa kết giữa quan niệm sáng tác, nội dung thể hiện
đậm chất phương Đông truyền thống và kĩ thuật viết tân kì, hiện đại của phương
Tây trong truyện ngắn kì ảo cũng là minh chứng cho một chủ trương lớn của
nhóm: đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam
nhằm giúp cho con người “lúc nào cũng mới mẻ, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và
tin ở sự tiến bộ”.
[Type text]
Page 14
quan hệ biện chứng với tính duy lý phương Tây trong truyện kinh dị hiện đại
“Vàng và máu”. Chính bằng sức mạnh trí tuệ mà tác giả tạo nên bí ẩn, từ cái bí ẩn
lại tạo ra độ căng của tác phẩm để từ đó cuốn hút độc giả.
•
Nhờ tính duy lý, những yếu tố kỳ ảo trong “Vàng và máu” của Thế lữ
đã được thể hiện một cách thấu tình, đạt lý dựa vào sự minh triết, logic của các sự
kiện.
•
Nhờ yếu tố kỳ ảo kế thừa truyện dân gian, truyện truyền kỳ mà truyện
kinh dị hiện đại đầu tiên của Việt Nam là “Vàng và máu” tuy hòa nhập vào dòng
chảy văn học thế giới vẫn giữ được hồn dân tộc.
[Type text]
Page 15
Thế Lữ bằng lý luận văn học, thực tiễn sáng tác của mình (tiêu biểu là “Vàng
và máu”) đã chỉ ra một điều cực kỳ quan trọng: tác phẩm kinh dị không chỉ mang
tính giải trí mà có thể phản ánh thời đại, mang tải tình cảm, thể hiện quan niệm đạo
đức của tác giả và là một sản phẩm tư duy khoa học.
[Type text]
Page 16