Văn Hóa Gia Đình Người Tày Ở Huyện Bình Liêu Tỉnh Quảng Ninh Hiện Nay - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ TỔNG
QUAN VỀ NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH
QUẢNG NINH

10

1.1. Quan niệm về văn hóa gia đình

10

1.2. Cấu trúc văn hóa gia đình

17

1.3. Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa
- xã hội
1.4. Tổng quan về người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh

19
23

Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH NGƯỜI TÀY Ở
HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY

2.1. Khái quát về văn hóa gia đình truyền thống người Tày Bình Liêu

114
116

PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CCB

:

Cựu chiến binh

CNH

:

Công nghiệp hóa

HĐH

:

Hiện đại hóa

HĐND

:


Trung học cơ sở

THPT

:

Trung học phổ thông

THVN

:

Truyền hình Việt Nam

UBMTTQ :

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

UBND

:

Ủy ban nhân dân

UNESCO

:

Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc

Đại hội, Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh đến vai trò quan trọng đặc biệt của gia
đình trong sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước
với các nội dung: gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong


2
sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới; gia đình là
môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con
người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực
phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, dưới tác động
của mặt trái nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của văn hóa và lối sống
Phương Tây, gia đình và văn hóa gia đình Việt Nam đang đứng trước nhiều
nguy cơ thách thức. Kết cấu gia đình ngày càng trở nên lỏng lẻo, tỷ lệ gia
đình tan vỡ ngày càng cao, các tệ nạn xã hội lan tràn, bạo lực dưới mọi hình
thức diễn ra ở khắp mọi nơi… Nhiều gia đình Việt Nam không còn tế bào
lành mạnh của xã hội, không còn là môi trường trong sáng để nuôi dưỡng,
giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ, không góp phần tạo nguồn nhân lực có
chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...Có ý
kiến đã cho rằng khủng hoảng gia đình đang trở thành vấn đề nóng của xã hội
Việt Nam hiện nay, khủng hoảng gia đình bắt đầu từ sự tha hóa xuống cấp của
văn hóa gia đình. Rõ ràng vấn đề văn hóa gia đình và các vấn đề liên quan
đến văn hóa gia đình ở nước ta hiện nay đã trở thành vấn đề thời sự nóng
bỏng cấp thiết không những được đặt trên bàn nghị sự của quốc gia mà còn
được đặt trên bàn nghị sự của tất cả các địa phương trong cả nước.
Bình Liêu là một huyện nghèo miền núi, dân tộc, vùng cao biên giới,
nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, có tỷ lệ dân tộc thiểu số cao nhất
tỉnh (trên 96%), đời sống của đồng bào các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn
nhất là ở vùng sâu, vùng xa… Từ khi đổi mới đến nay, Bình Liêu cũng phải
đối mặt với tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội

Theo xu hướng này có một số công trình tiêu biểu sau:
- Một vài nét nghiên cứu về gia đình Việt Nam (1990) của nhóm tác giả
Trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ thuộc Trung tâm
Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia biên soạn. Công trình này đề cập đến
một số vấn đề lý luận nghiên cứu về vai trò, vị trí của gia đình trong xã hội,
nhưng mới chỉ đặt vấn đề và gợi ý là chủ yếu.
- Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam (1991) của tập thể
các tác giả Viện Xã hội học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
Quốc gia phối hợp với Khoa Xã hội học Trường Đại học Gothenburg (Thụy


4
Điển), Nxb Khoa học xã hội. Các tác giả Việt Nam và Thụy Điển đã tiến hành
khảo sát thực tiễn ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước về đặc điểm gia đình Việt
Nam trước những năm 1990.
- Văn minh Phương Đông và gia đình Việt Nam truyền thống (1994),
Trung tâm Khoa học Xã hội và nhân văn Quốc gia do Quỹ Toyota Foundation
tài trợ, đã có những khảo sát và nghiên cứu, đánh giá bước đầu về gia đình
truyền thống ở Việt Nam qua một số mốc lịch sử.
- Gia đình trẻ và việc hình thành nhân cách thanh niên (1999) của Phó
Tiến sĩ Dương Tự Đam, Nxb Thanh niên. Công trình đã đề cập đến một số
vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận về gia đình và gia đình trẻ; thực trạng
gia đình trẻ và chức năng giáo dục phát triển nhân cách thế hệ trẻ; gia đình trẻ
- nội dung và phương pháp giáo dục con cái.
- Gia đình Việt Nam, các trách nhiệm, các nguồn lực trong sự đổi mới
của đất nước (1995) của Giáo sư Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội. Công trình đã
giới thiệu với đông đảo bạn đọc một số hiểu biết về Năm Quốc tế về gia đình
và Chương trình hành động của Ban chỉ đạo Năm Quốc tế về gia đình Việt Nam;
giới thiệu một số ý kiến của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta trong
Ban chỉ đạo Năm Quốc tế gia đình Việt Nam; ý kiến của một số chuyên gia khoa

trong việc xây dựng văn hóa gia đình và thực hiện các chức năng của gia đình.
Theo xu hướng này có một số công trình tiêu biểu sau:
- Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
(2001) của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Như Hoa, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa
– Thông tin. Công trình đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về
văn hóa gia đình và gia đình văn hóa, sự lệch chuẩn văn hóa gia đình và suy
thoái nhân cách trẻ em, Văn hóa gia đình - yếu tố quan trọng của việc hình
thành và phát triển nhân cách trẻ em.
- Văn hóa gia đình và sự phát triển xã hội (2002) của nhiều tác giả,
Nxb Văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật. Công trình này là tập hợp bài
viết của 26 tác giả nghiên cứu về văn hóa gia đình ở nhiều khía cạnh khác nhau
(về khái niệm văn hóa gia đình, văn hóa gia đình Việt Nam và nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường ở Việt Nam, vai trò của giáo dục gia đình trong bài
trừ tệ nạn xã hội, vai trò của âm nhạc trong giáo dục văn hóa gia đình, gia đình


6
và vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên, người phụ nữ và vấn đề giáo
dục nhân cách cho trẻ em, sắc thái văn hóa gia đình người Chăm…).
- Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị (2003) của Tiến sĩ Lê Quý
Đức và Thạc sĩ Vũ Thy Huệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Công trình của hai
tác giả đã đề cập đến các vấn đề lý luận chung về văn hóa gia đình và vai trò của
văn hóa gia đình trong đời sống xã hội, văn hóa gia đình Việt Nam trong lịch sử
và vai trò của người phụ nữ, tình hình gia đình và văn hóa gia đình ở đô thị hiện
nay, vai trò của người phụ nữ trong xây dựng văn hóa gia đình ở đô thị hiện nay,
những biến đổi và lựa chọn đối với văn hóa gia đình và vai trò của người phụ nữ.
Xu hướng thứ ba, các luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ nghiên cứu về gia đình
và văn hóa gia đình theo các tiếp cận của các chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Văn hóa học… Theo hướng nghiên cứu này có các luận văn sau:
- Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay

trong gia đình và trong việc xây dựng gia đình văn hóa…đồng thời các tác giả
đã đưa ra được các nhóm giải pháp thiết thực có tính khả thi phù hợp đề tài
nghiên cứu của bản thân nhằm góp phần xây dựng gia đình Việt Nam no ấm,
tiến bộ, hạnh phúc góp phần tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.
Ngoài ra, ở nước ta còn có hàng trăm bài viết của các tác giả có tâm
huyết, có trách nhiệm nghiên cứu gia đình và văn hóa gia đình trong bối cảnh
đất nước đổi mới, mở cửa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trong cơ chế thị
trường…được tăng tải trên các báo và tạp chí.
Nhìn chung, các công trình khoa học kể trên và các bài viết về các vấn
đề có liên quan đến văn hóa gia đình đều đã đề cập đến đề tài nghiên cứu của
bản thân cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Đây là các tài liệu quan trọng
để tác giả tham khảo để thực hiện đề tài. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện
nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về văn hóa gia đình tộc người
Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, đề tài “Văn hóa gia đình
người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh hiện nay” không trùng với
bất kỳ công trình nào đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Từ việc tìm hiểu đặc điểm của văn hóa gia đình truyền thống của người
Tày ở địa phương, luận văn đi sâu phân tích thực trạng văn hóa gia đình


8
người Tày ở huyện Bình Liêu từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi cho
đến nay, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn hóa
gia đình người Tày, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương, đồng thời góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộc
người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Nhiệm vụ

gic và lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu trường hợp,
phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp liên ngành.
6. Đóng góp mới của luận văn
Tổng hợp và kế thừa những thành quả nghiên cứu lý luận về văn hóa
gia đình, trên cơ sở những tư liệu tập hợp được, luận văn là công trình đầu tiên
nghiên cứu một cách tương đối hệ thống về văn hóa gia đình người Tày ở
huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa lý luận
Thông qua việc nghiên cứu văn hóa gia đình của một tộc người thiểu số
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luận văn đã làm rõ thêm một số vấn đề lý
luận về văn hóa gia đình.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp các cơ quan chức năng
và cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa tham mưu đề xuất các chính sách
nhằm bảo tồn, phát huy và phát triển giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình
người Tày nói riêng và gia đình các tộc người khác trên địa bàn huyện nói
chung gắn với việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các trường THCS và THPT trên
địa bàn khi học sinh tìm hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số ở địa phương;
đồng thời là tài liệu tham khảo cho cán bộ miền xuôi lên công tác ở Bình Liêu
muốn gắn bó lâu dài với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương, 10 tiết.


10
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH

11
thành và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người qua các
hình thái kinh tế xã hội. Sự biến đổi của mô hình gia đình gắn liền với sự biến
đổi của các hình thái kinh tế - xã hội. Tuy nhiên quan niệm này chưa phản ánh
được vai trò của gia đình đối với xã hội qua các chức năng của nó.
Nhà nghiên cứu xã hội học Lê Thi quan niệm:
Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành
trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ quan
hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội
ngoại), đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình
nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống các thành viên gia đình gắn bó
với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ
thường có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và
bảo vệ (được ghi trong Luật hôn nhân và gia đình của nước ta). Đồng thời
trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán
quan hệ tình dục giữa các thành viên [59, tr.42].
Ở đây, tác giả đã đề cập tới nhiều nét đặc trưng, bản chất cơ bản của gia
đình nhưng nặng về trình bày phân tích chưa khái quát cô đọng.
Các tác giả trong Ban biên soạn giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
quan niệm:
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình
thành, duy trì và củng cố chủ yếu trên cơ sở hôn nhân và huyết
thống… yếu tố huyết thống và tình cảm là nét bản chất nhất của gia
đình. Nhưng xét rộng hơn và đầy đủ hơn, gia đình không chỉ là một
đơn vị tình cảm tâm lý mà còn là một tổ chức kinh tế, tiêu dùng (sở
hữu, sản xuất, thu nhập, chi tiêu); một môi trường giáo dục văn hóa
(văn hóa gia đình và cộng đồng); một cơ cấu - thiết chế xã hội (có
cơ chế và cách thức vận động riêng…) [43. tr.417].
Giáo sư Vũ Hào Quang lại coi “gia đình là tiểu hệ thống trong đại hệ
thống, hay hệ thống con trong hệ thống mẹ” [53, tr.18].

đình song chưa có quan niệm nào phản ánh đầy đủ, toàn diện về cơ sở hình
thành, đặc trưng, bản chất, vai trò, chức năng của gia đình.
Trên cơ sở tìm hiểu và kế thừa các quan niệm về gia đình nêu trên, dưới
góc độ chuyên ngành văn hóa học, có thể quan niệm về gia đình như sau: gia
đình là khái niệm được dùng để chỉ một nhóm xã hội được hình thành trên cơ


13
sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống được nảy sinh từ quan hệ hôn
nhân (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại …) có chung một không
gian sinh tồn. Gia đình là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình
thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, là nơi lưu giữ và sáng
tạo văn hóa của cộng đồng dân tộc, quốc gia và nhân loại, là nhân tố thúc đẩy
xã hội phát triển.
Cấu trúc gia đình thường được xem xét trên các tiêu chí sau:
Hình thái cấu trúc mẫu hệ hay phụ hệ, hình thái cấu trúc đa hệ hay gia
đình hạt nhân, cấu trúc gia đình đầy đủ hay gia đình không đầy đủ (gia đình
khuyết), cấu trúc hôn nhân một vợ, một chồng hay đa phu đa thê.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, hình thái gia đình phụ hệ (đàn
ông giữ vai trò chủ thể, quyết định mọi việc trong gia đình), gia đình đa thế hệ
(thường gồm 3 thế hệ trở lên cùng chung sống: cụ, ông bà, cha mẹ, con cháu,
chắt…) phổ biến. Còn trong xã hội hiện đại, hình thái gia đình hạt nhân (chỉ
có vợ, chồng, hoặc gia đình gồm có bố mẹ và những người con chưa trưởng
thành (gia đình có một hoặc hai thế hệ) chiếm đại đa số. Bên cạnh đó, trong
xã hội hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều cấu trúc gia đình không đầy đủ (gia
đình chỉ có một người hay có bố hoặc mẹ cùng với con cái do góa, ly hôn, ly
thân hoặc chỉ có phụ nữ đơn thân không lấy chồng nhưng có con). Với tư
cách là một tế bào xã hội, gia đình chịu ảnh hưởng rất nhiều của quá trình
biến đổi về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật.
Song gia đình lại không chịu sự tác động của môi trường xã hội bên ngoài

đáp ứng nhu cầu vật chất như ăn, mặc, ở, sinh hoạt, đi lại, công cụ sản xuất,
phương tiện chiến đấu…nói lên mức độ biểu hiện và trình độ phát triển trong
lĩnh vực sản xuất và đời sống vật chất của con người. Gắn với văn hóa tinh
thần là toàn bộ những thành tựu về khoa học, các giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tín
ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục, ngôn ngữ…nói lên mức độ biểu hiện và
trình độ phát triển các lực lượng bản chất người trong sản xuất tinh thần.
Thứ hai, trong văn hóa có văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng. Văn
hóa cá nhân là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà cá nhân tích lỹ
được trong quá trình hoạt động thực tiễn. Nó chi phối sự lựa chọn và quyết
định của mỗi cá nhân trong những hành vi ứng xử xã hội của họ. Văn hóa
cộng đồng (xã hội) là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần thể hiện thành


15
hệ thống các giá trị và chuẩn mực ứng xử xã hội do cộng đồng (xã hội) sáng
tạo, sàng lọc và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn. Nó có khả năng
liên kết và điều tiết mọi hành xử của các thành viên trong cộng đồng ấy.
Thứ ba, văn hóa là mô hình các thiết chế xã hội để đảm bảo cho sự trao
truyền, vận thông các giá trị, chuẩn mực văn hóa. Hệ thống thiết chế xã hội văn hóa bao gồm: gia đình, nhà trường, nhà nước, các đoàn thể chính trị xã
hội, tôn giáo. Trong các mô hình thiết chế xã hội đó, tổ chức gia đình có vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn và trao truyền hệ giá trị với các
chuẩn mực văn hóa tốt đẹp cho các thế hệ kế tiếp.
Thứ tư, văn hóa chính là phương thức ứng xử của con người. Các
phương thức, quy tắc ứng xử tạo nên hệ thống giá trị chuẩn mực, khuôn mẫu
được tích lũy trong đời sống cộng đồng tạo thành hệ giá trị văn hóa của mỗi
cộng đồng. Và gia đình chính là môi trường đặc biệt, thể hiện phương thức
ứng xử đầu tiên của con người, để ứng xử xã hội.
Thứ năm, văn hóa gắn với giáo dục, đào tạo con người. Giáo dục là
một hiện tượng văn hóa và cũng là một phương thức trao truyền văn hóa. Nếu
không có giáo dục con người sẽ trở về trạng thái mông muội, dã man như

tượng văn hóa, một thiết chế sinh học xã hội đặc biệt.
Thứ hai, gia đình là một giá trị văn hóa. Gia đình đáp ứng nhu cầu tồn
tại và các nhu cầu đặc biệt thiêng liêng không vụ lợi đó là tình thương, tình
yêu, hạnh phúc, trách nhiệm, nghĩa vụ tinh thần mang tính người của con người.
Gia đình vừa là kết quả, vừa là nơi nuôi dưỡng tình yêu và hạnh phúc lứa đôi gắn
với những điều bí ẩn của quan hệ tình dục và bản năng duy trì nòi giống [23,
tr.29]. Gia đình là bến đỗ bình yên, điểm tựa tinh thần vững chắc nhất cho con
người trong suốt cả cuộc đời. Gia đình là một giá trị văn hóa thiêng liêng thấm
sâu vào tư tưởng, tình cảm, lý tưởng sống của mỗi con người.
Thứ ba, gia đình là một thực thể văn hóa [23, tr.31]. Bởi vì, tất cả các
quan hệ và hoạt động sống của gia đình đều biểu hiện đặc trưng văn hóa của
con người. Trong gia đình hệ giá trị và chuẩn mực xã hội được các thành viên
chấp nhận, chia sẻ và thực hiện để ứng xử với nhau và ứng xử với cộng đồng.
Hệ thống giá trị văn hóa gia đình được thể chế hóa bằng gia đạo, gia huấn, gia
lễ và bằng pháp luật của Nhà nước, bằng dư luận xã hội. Hệ thống giá trị đó


17
là cơ sở tồn tại của gia đình, giữ cho đời sống gia đình bền vững, an sinh,
hạnh phúc.
Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm khác nhau về văn hóa gia đình,
chúng tôi đồng tình với quan niệm về văn hóa gia đình của nhà nghiên cứu Lê
Quý Đức và Vũ Thy Huệ như sau:
Văn hóa gia đình là dạng đặc thù của văn hóa cộng đồng, bao gồm
tổng thể sống động các hoạt động sống của gia đình mang đặc trưng
văn hóa bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếu
của một cộng đồng mà các thành viên gia đình đã chọn lựa để ứng
xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội [23, tr.33].
CẤU TRÚC VĂN HÓA GIA ĐÌNH


Thứ ba, văn hóa tinh thần và hưởng thụ các sản phẩm tinh thần
Bên cạnh những biểu hiện, kinh nghiệm, cách thức ứng xử trong văn
hóa sản sinh, nuôi dạy con người, văn hóa sản xuất và tiêu dùng vật
chất của gia đình là toàn bộ những giá trị đạo đức, tín ngưỡng tâm
linh, phong tục tập quan, thị hiếu thẩm mỹ và cả những bí quyết
nghề nghiệp truyền thống… là phương diện văn hóa tinh thần của
gia đình. Chúng được đúc kết lại thành hệ giá trị, chuẩn mực, khuôn
mẫu văn hóa của gia đình (trong gia đình cổ truyền gọi là gia
phong). Hệ giá trị văn hóa gia đình là yếu tố cốt lõi làm nên đặc
điểm riêng của mỗi loại hình gia đình và có sức mạnh chi phối đời
sống tâm lý, tâm linh, hành vi ứng xử của các thành viên trong gia
đình [23, tr.35 - 36].
Theo các hệ giá trị của gia đình, cấu trúc văn hóa gia đình cũng
được chia làm 3 loại:
Một là, các giá trị cấu trúc. Đó là các giá trị gắn với các quan hệ bên
trong và bên ngoài của gia đình như quan hệ vợ - chồng; quan hệ giữa cha mẹ
- con cái; quan hệ giữa các anh, chị, em; quan hệ giữa ông bà và các cháu
trong gia đình; quan hệ giữa gia đình với họ tộc và cộng đồng. Chúng thể hiện
thái độ, phương thức ứng xử giữa các thành viên trong gia đình và giữa gia
đình với họ tộc và cộng đồng.
Hai là, các giá trị chức năng. Đó là các giá trị thể hiện vị trí, vai trò của
gia đình đối với sự phát triển xã hội qua các chức năng: sinh sản - tái sản xuất ra


19
con người, giáo dục, kinh tế, thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm của các
thành viên trong gia đình.
Ba là, các giá trị tâm linh. Đó chính là hạt nhân bất biến của văn hóa gia
đình. Các gia đình tuân theo, tôn thờ những giá trị không vụ lợi, những giá trị bắt
nguồn từ cái thiêng liêng và cái bí ẩn trong đời sống tâm linh của con người.

tiện, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của các thành viên
trong gia đình như: lương thực, thực phẩm, nhà ở, quần áo, phương tiện đi lại,
các đồ dùng, vật dụng trong gia đình, nuôi dạy con cái, chữa bệnh, vui chơi giải
trí…thông qua đó góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển, giúp tăng
trưởng nền kinh tế quốc dân. Vai trò của văn hóa gia đình trong việc thực hiện
chức năng kinh tế hết sức quan trọng. Sản xuất kinh doanh vì mục đích gì?
Phương thức thực hiện ra sao?... Văn hóa giữ vai trò định hướng, hướng dẫn các
hoạt động của gia đình. Định hướng đúng giúp cho gia đình tổ chức thực hiện
một cách phù hợp, chính đáng, kích thích lao động sản xuất phát triển, tạo ra các
sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của người tiêu dùng. Ở đây,
văn hóa và đạo đức gia đình có vai trò quan trọng chi phối mục đích sản xuất,
kinh doanh của các gia đình theo hướng nhân văn, nhân bản “mình vì mọi
người”. Văn hóa gia đình cũng ngăn cản những hoạt động bất chính trong sản
xuất kinh doanh như hám lời, kinh doanh bất chính, chỉ vì lợi nhuận mà làm thiệt
hại đến sức khỏe và kinh tế của người tiêu dùng… qua đó văn hóa gia đình góp
phần làm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững.
Gia đình là cái nôi hình thành, nuôi dưỡng, chăm sóc con người về thể
chất, là môi trường quan trọng giáo dục con người về đạo đức, về tri thức để
con người tham gia một cách tích cực, chủ động vào các hoạt động phát triển
kinh tế của gia đình và đất nước. Rõ ràng, với chức năng sản sinh ra con
người và chức năng giáo dục, gia đình là nơi cung cấp nguồn nhân lực có chất
lượng phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, tạo động lực cho nền kinh
tế đất nước phát triển bền vững.
1.3.2. Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển văn hóa
dân tộc
Thứ nhất, văn hóa gia đình là nơi giữ gìn sống động nhất bản sắc văn
hóa dân tộc. Tất cả những giá trị tốt đẹp nhất của nền văn hóa dân tộc được
hình thành trong lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước hầu hết đều
được các gia đình trân trọng, giữ gìn, vun đắp và phát huy. Đó là lòng yêu quê


Trong văn hóa gia đình không chỉ vận hành những giá trị tốt đẹp của
nền văn hóa dân tộc mà còn vận hành cả những yếu tố mới của thời đại được


22
cộng đồng chấp nhận. Đó lối sống khoa học, thực tế phù hợp với quy luật của
tự nhiên; tinh thần bình đẳng, dân chủ; đề cao tính năng động, sáng tạo; coi
trọng khả năng độc lập, tự chủ; khuyến khích, tạo điều kiện cho tài năng phát
triển, yêu cái đẹp, thích nghi nhanh với môi trường mới, khát vọng vươn lên
làm giàu chính đáng, sự tiêu dùng có tính văn hóa…
Từ đây, có thể khẳng định rằng văn hóa gia đình thực sự là cái nôi, là
cái gốc để nền văn hóa dân tộc phát triển.
1.3.3. Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển xã hội
Gia đình là một thiết chế xã hội, nó là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát
triển của xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng hết sức quan trọng: tái sản
xuất ra con người, duy trì nòi giống, cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho xã hội,
tái sản xuất ra sức lao động qua việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho các
thành viên trong gia đình. Gia đình gánh vác trách nhiệm nặng nề trong việc tái
sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Nó cũng là đơn vị tiêu dùng
mà những nhu cầu đa dạng phong phú là yếu tố thúc đẩy nền sản xuất phát triển.
Rõ ràng văn hóa gia đình chiếm vị trí hàng đầu trong sự phát triển xã hội.
Một xã hội phát triển là một xã hội ổn định có của cải dồi dào, con
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Khi còn ấu thơ thì được ấp ủ,
yêu thương. Khi trưởng thành thì được hưởng những niềm vui của cuộc đời.
Khi gặp khó khăn, bệnh tật, rủi ro thì được an ủi, chăm sóc. Về già thì có nơi
nương tựa, không bị hiu quạnh, cô đơn. Đến khi từ giã cõi đời thì có người
khóc thương, chăm lo chu đáo phần mộ… Tất cả những điều ấy chỉ có thể tìm
thấy trong văn hóa gia đình. Như thế đủ thấy văn hóa gia đình có vị trí quan
trọng như thế nào đối với con người và xã hội.
Gia đình là cái gốc của con người đồng thời là cái gốc của xã hội. Văn

Ở vị trí xa biển, có nhiều núi cao, ít sông suối, Bình Liêu chịu ảnh
hưởng của khí hậu lục địa. Vì vậy, khí hậu ở dây có bốn mùa rõ rệt, mùa đông
lạnh và rét kéo dài 6 tháng trong một năm, có khi xuống tới 40C, thường có
sương muối ảnh hưởng xấu đến việc trồng trọt và chăn nuôi. Lượng mưa trung
bình hàng năm khoảng trên 2.400mm nên độ ẩm tương đối cao [13, tr.7].
1.4.1.2. Lịch sử xã hội
Bình Liêu ngày nay dưới thời phong kiến Việt Nam khi Pháp chưa xâm
lược gồm hai tổng Bình Liêu và Kiến Duyên của Châu Tiên Yên, thuộc phủ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status