ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
CAO XUÂN CHIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ
THUẬT TĂNG NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CHÈ PH10
DÙNG CHO CHẾ BIẾN CHÈ ÔLONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2012
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
CAO XUÂN CHIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ
THUẬT TĂNG NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CHÈ PH10
DÙNG CHO CHẾ BIẾN CHÈ ÔLONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành
: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Nguyên.
Th.s. Nguyễn Thị Hồng Lam – Bộ môn canh tác - Viện Khoa học Kỹ thuật
Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc.
Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, tập thể giáo viên của trường Đại học
Nông
Lâm Thái Nguyên.
Tập thể lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi
phía Bắc.
Gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài.
Phú Thọ, tháng 9 năm 2012.
Tác giả luận văn
Cao Xuân Chiến
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LSD.05:
Giá trị sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
CV%:
Mức độ biến động số liệu
P:
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất
24
của hạt đậu tương ngâm đến chiều cao của cây chè.
2
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
25
xuất đậu tương ngâm đến chiều rộng tán chè.
3
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
28
xuất đậu tương ngâm đến mật độ búp/cây .
4
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
30
xuất đậu tương ngâm đến khối lượng búp 1 tôm 3 lá.
5
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
xuất đậu tương ngâm đến chất lượng chè thành phẩm.
10
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
39
xuất đậu tương ngâm đến năng suất và sản lượng chè.
11
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
41
xuất đậu tương ngâm đến mật độ rầy xanh.
12
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
44
xuất đậu tương ngâm đến mật độ bọ cánh tơ.
13
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
xuất đậu tương ngâm đến mật độ nhện đỏ
45
52
19
Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ búp mù xòe.
53
20
Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ bánh tẻ.
54
21
Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến thành phần sinh hóa của búp chè.
56
22
Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chất lượng chè thành phẩm.
58
23
Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến năng suất và sản lượng chè.
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
1
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất
26
của hạt đậu tương ngâm đến chiều rộng của tán chè.
2
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
28
xuất đậu tương ngâm đến mật độ búp /cây.
3
Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
29
xuất đậu tương ngâm đến khối lượng búp 1 tôm 3 lá.
4
49
9
Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến khối lượng búp chè.
51
10
Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều dài búp.
52
11
.Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ bánh tẻ.
55
12
Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ rầy xanh.
62
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……………………………………………... ........…...i
1.2.Tình hình nghiên cứu về bón phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng
giàu axitamin cho chè trên thế giới và ở Việt Nam………………………….. …….….9
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng
giàu axitamin cho chè trên thế giới………………………………………………….. ……......9
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu
axitamin cho cho chè Việt Nam………………………………………………………. ….…...10
1.3. Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thế giới và ở Việt
Nam……………………………………………………………………………... ……....11
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thế giới......................... ……....11
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè ở Việt Nam............................ …....…13
CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU...................................................................................................................... ….…...15
2.1. Vật liệu nghiên cứu.............................................................. ....................... ....……15
2.2. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................... ……....15
2.3. Nội dung nghiên cứu.................................................................................... …....…15
2.3.1. Nội dung nghiên cứu................................................................................. ………15
2.3.1.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón trung lượng (MgSO4 ) và hữu
cơ (đậu tương ngâm thối) đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của chè
PH10..........................................................................................................................……15
2.3.1.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến đến sinh trưởng, năng
suất và chất lượng của chè PH10......................................................................... ....……15
2.3.2. Công thức thí nghiệm................................................................................ ………15
2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu............................... ...….…18
2.4.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng........................................................................ ....……18
2.4.2. Các chỉ tiêu về năng suất chè................................................................ ……....19
2.4.3. Các chỉ tiêu phẩm cấp nguyên liệu........................................................ ….…...20
2.4.4. Các chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu...................................................... …....…21
........…35
3.1.3.2. Phân tích chất lượng chè thành phẩm.......................................... ............37
3.1.4. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất
đậu tương ngâm đến năng suất và sản lượng chè.............................................. ………39
3.1.5. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết xuất
đậu tương ngâm đến sâu bệnh hại chè............................................................... ....……40
3.1.5.1. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
xuất đậu tương ngâm đến mật độ rầy xanh........................................................... ....……41
3.1.5.2. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
xuất đậu tương ngâm đến mật độ bọ cánh tơ........................................................ ….…...43
3.1.5.3. Ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và chiết
xuất đậu tương ngâm đến mật độ nhện đỏ............................................................ ……....44
3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật hái tới năng suất, chất
lượng của chè PH 10........................................................................................... …...….45
3.2.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến sinh trưởng của cây chè......................
…...….45
3.2.1.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều cao của cây chè............... ….....45
3.2.1.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến chiều rộng của tán chè............. …………..46
3.2.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến các yếu tố cấu thành năng suất chè....…..…..47
3.2.2.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến mật độ búp trên cây...................…...….49
3.2.2.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến khối lượng búp chè....................….…...51
3.2.2.3. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón MgSO4 và đậu tương ngâm đến
chiều dài búp chè...................................................................................................…..…..51
3.2.2.4. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ mù xòe.............................. ….…...53
3.2.2.5. Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến tỷ lệ bánh tẻ............................... …....…54
……....69
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Sử dụng phân bón là biện pháp quan trọng làm tăng sản lượng và chất lượng
búp chè. Tác dụng của phân bón được nâng cao khi bón kết hợp nguyên tố đa lượng,
trung lượng và vi lượng. Ví dụ đối với chè, bón đơn độc nitơ mà thiếu kali và
phospho sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè. Đặc biệt trên nền phân đa lượng
tương đổi đầy đủ muốn tăng năng suất và chất lượng chè hơn nữa thì cần bổ sung
phân trung lượng và vi lượng. Tác dụng của những loại phân này là ảnh hưởng đến
hoạt tính của men. Mg là nguyên tố trung lượng được dùng trong sản xuất chè vì
ngoài ảnh hưởng đến hoạt động của men nó còn tham gia vào quá trình hình thành
diệp lục tố có vai trò quan trọng trong quang hợp, là hoạt chất của hệ enzyme gắn
liền với sự chuyển hoá hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic.
Magiê có vai trò thúc đẩy hấp thu và vận chuyển lân của cây, giúp đường
vận chuyển dễ dàng trong cây. [19]
Trong cây, Mg thường chiếm từ 0,10 – 0,30% MgO so với chất khô. Trong tro
thực vật thường chứa ít nhất là 10% MgO, và có thể lên đến 30 – 40%. Đối với
nhiều quá trình sinh hoá do men điều khiển, Mg đóng một vai trò quan trọng.
Việc hình thành ra Protein trong trường hợp thiếu Mg sẽ bị hạn chế. Sự hình
thành các sắc tố của lá trong trường hợp thiếu Mg cũng bị ảnh hưởng. Ngoài ra
Mg còn ảnh hưởng đến màu sắc chè thành phẩm.
Chất hữu cơ giàu Protein có khả năng cung cấp lượng lớn axitamin cũng là
nguồn dinh dưỡng có khả năng tăng năng xuất và chất lượng chè. Các chất dinh
dưỡng đa lượng N, P, K và các vi lượng khoáng chất không tạo ra được axít amin,
do vậy trên nền đa lượng này việc bón bổ sung axitamin cho chè là rất cần thiết.
thiếu hụt Mg do quá trình Feralit và môi trường chua. Đất ở đây đã được sử dụng để
trồng chè qua nhiều năm (trên 20 năm). Đất có độ dốc, xảy ra hiện tượng rửa trôi,
làm cho hàm lượng Mg trong đất càng giảm vì vậy để nâng cao năng suất, chất
lượng chè nguyên liệu cần bón bổ sung Mg cho đất trồng chè. Từ thực tế trên
chúng tôi tiến hành đề tài bón bổ sung Mg cho đất trồng chè vùng thấp Phú Hộ dưới
dạng MgSO4.
3
Với mục đích bổ sung phân Mg làm thay đổi diệp lục tố, làm tăng phẩm chất
chè nguyên liệu góp phần nâng cao được chất lượng chè Ôlong thành phẩm. Từ đó
sẽ tăng được hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè Ôlong hiện nay tại vùng chè Phú
Thọ.
Xuất phát từ mục đích trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số
biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng chè PH10 dùng cho chế biến chè
Ôlong”.
2. Mục đích và yêu cầu
2.1. Mục đích.
- Xác định ảnh hưởng của bón bổ sung phân trung lượng MgSO4 và axitamin
có trong của hạt đậu tương ngâm đến năng suất, chất lượng của giống chè PH10
làm nguyên liệu chế biến chè Ôlong.
- Xác định kỹ thuật hái cho chất lượng chè ôlong tốt nhất .
2.2. Yêu cầu.
Đánh giá ảnh hưởng của MgSO4; tổ hợp phân bón MgSO4, đậu tương ngâm
và kỹ thuật hái chè tới:
- Khả năng sinh trưởng, phát triển của cây chè.
- Năng suất, chất lượng chè nguyên liệu.
- Khả năng chống chịu sâu bệnh hại chè.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
tro thực vật thường chứa ít nhất là 10% MgO, và có thể lên đến 30 – 40%. Vì vậy ở
những vùng chè có tập quán sử dụng nhiều tàn dư hữu cơ, đặc biệt là bón kết hợp
các phụ phẩm nông nghiệp thường không bị thiếu Mg. Trong diệp lục tố có 4%
MgO, giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và sự hình thành gluxit.
Triệu chứng thiếu hụt magiê thường có biểu hiện sau:
- Úa vàng ở phần thịt giữa các gân lá, chủ yếu ở lá già do diệp lục tố hình
thành không đầy đủ, gây nên vết sọc hoặc vết không liên tục.
- Lá nhỏ, giòn ở thời kỳ cuối và mép lá cong lên.
- Nhánh yếu và dễ bị nấm bệnh tấn công và thường bị rụng lá sớm.
Với cây chè, có nhiệm kỳ kinh tế dài, Mg cũng có vai trò hết sức quan trọng.
Mg ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng chè. Đối với nhiều quá trình
sinh hoá do men điều khiển, Mg cũng đóng một vai trò quan trọng. Việc hình thành
ra Protein trong trường hợp thiếu Mg sẽ bị hạn chế và ngược lại, những hợp chất
đạm không protit tăng lên. Sự hình thành các sắc tố của lá trong trường hợp thiếu
Mg cũng bị ảnh hưởng [16].
Chè là cây trồng ưa đất chua mà trong đất chua sự thiếu hụt Mg càng lớn. Để
bổ sung sự thiếu hụt Mg vào đất, người ta thường bón MgO dưới dạng đôlômit chứa
từ 20 - 35% MgO, hoặc bón phối hợp MgO với các lần bón phân khoáng trong năm.
6
Trong một số trường hợp có thể kết hợp bón phân đa lượng qua lá để bón bổ sung
Mg.
Ở Việt Nam giống PH10 là giống có tiềm năng năng suất cao, được trồng
nhiều ở vùng trung du miền núi phía Bắc. Nguyên liệu búp chè giống PH10 có chất
lượng tốt, chế biến chè xanh có ngoại hình đẹp xoăn, xanh non, thoáng tuyết. Có
hương thơm đặc trưng của giống, vị đậm dịu, có hậu. So với giống Kim Tuyên
giống PH10 có hương thơm mạnh và vị đậm dịu hơn, các chỉ tiêu chất lượng ổn
định qua các thời vụ, điểm thử nếm chè xanh đạt từ 17,36 - 17,72 điểm. Có khả
Protein được phân huỷ thành axít amin bằng các phương pháp thuỷ phân
khác nhau ví dụ như thuỷ phân bằng hoá học, bằng enzyme.. Theo tác giả Trịnh
Văn Loan (1996), ngâm đậu tương là một cách thủy phân đơn giản nhằm cung cấp
nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho cây chè.
1.1.3. Cơ sở khoa học của kỹ thuật hái chè
Hái chè là khâu đặc biệt quan trọng trong công nghệ chè, vì đó là mục tiêu
của khâu trồng trọt và khởi điểm của khâu chế biến. Hái chè có ảnh hưởng quyết
định đến sinh trưởng, phát dục, sản lượng cây chè, phẩm cấp nguyên liệu búp chè,
chất lượng chè thành phẩm và hiệu suất lao động hái chè, cho nên hái chè đúng kỹ
thuật sẽ thu được nhiều búp tốt, để chế biến ra chè khô chất lượng cao với giá thành
hợp lý, dễ được khách hàng ưa thích.
Năm 1936. J.J.B. Deuss (Hà Lan) viết trong tài liệu “hái chè” (Tạp chí thực
vật học ứng dụng và nông nghiệp nhiệt đới):
Đốn và hái chè rất giống nhau vì cùng lấy đi những phần non nhất của cây
chè (chặt đốn cây chè). Phản ứng của cây chè là tái sinh bằng các hiện tượng sinh
trưởng.
Muốn nắm được vấn đề này phải nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng của một
cành bình thường không đốn, không hái, sau đó là một cành có đốn hái và cuối cùng
là những thí nghiệm hái chè để xác định được các tỷ lệ lá có chất lượng khác nhau
đã thu hái được. Từ đó định ra phương pháp hái chè có lợi nhất cho nhà sản xuất
Tiến trình mọc lá của ngọn chè không hái đốn (Theo kết quả nghiên cứu của
Cohen Stuart) như sau: Cây chè sau khi đốn mọc lên những lá cá. Lá các không phải
lá thông thường, có kích thước nhỏ hơn và không có răng cưa dìa lá. Tiếp theo là
những lá chè bình thường rồi búp (tôm) chè. Búp chè không phát triển tiếp trở thành
8
búp mù xòe. Những búp này ngủ nghỉ một thời gian rồi lại mọc lên lá cả, lá bình
thường. Búp mù xòe ngủ nghỉ trong 1-2 tuần. Và cứ thế tiếp tục quanh năm, dưới
Theo Eden (1949), hái đau (chỉ để lại lá cá) so với hái nhẹ (để lại 1 lá cá và 1
lá thật) trong 4 năm liền đã làm giảm 2/3 trọng lượng các lá thật, 1/2 trọng lượng gỗ
9
của cây chè và 1/3 sinh khối của cây chè (Gỗ và lá trưởng thành). Wight (1948) còn
quan trắc thấy đường kính cành chè giảm, mà số cành chè tăng lên.
Nếu chừa lại 2 lá (LC +2) cây chè ít bị các tác động như nói ở trên, nhưng
tán chóng cao, nhất là đối với giống chè có lóng dài, nên phải đốn sớm, đốn nhiều,
vì thế nên hạn chế áp dụng.
Nếu số lá chừa như nhau thì hái non (Tôm + 2) làm kiệt sức cây chè hơn lá
già (Tôm + 3 hay 4 tôm) vì lá chừa để lại non hơn, khả năng quang hợp kém hơn.
Lá chè già có hàm lượng Tanin thấp, khó làm héo, khó vò, vị chè nhạt, nước
kém và nhiều vụn nát. Hái già làm lá non và già trộn lẫn, phải phân loại riêng để chế
biến nên tốn công, giá thành cao.
Thành phần cơ giới búp chè biến động theo chu kỳ đốn. Càng xa ngày đốn,
búp chè càng nhỏ đi và sản lượng bị giảm (Tubbs, 1949).
1.2.Tình hình nghiên cứu về bón phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng
giàu axitamin cho chè trên thế giới và ở Việt Nam.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu
axitamin cho chè trên thế giới.
Godishvili G.C và Beridze A.F (1962) đã nghiên cứu việc sử dụng phân
khoáng thường xuyên bón vào đất chè dẫn đến sự biến đổi hoá học của đất. Các
chất dinh dưỡng được hoà tan mạnh hơn khi đất ẩm có mưa, nhất là những vùng á
nhiệt đới và đới ẩm các chất khoáng của đất thường bị rửa trôi. Sử dụng phân chua
sinh lý ở điều kiện thâm canh cao làm thúc đẩy mạnh cường độ rửa trôi các Ion
Bazơ trong đất, trong đó có Mg. Khi bón NPK với mức cao, độ chua của đất tăng
cao, ngược lại hàm lượng bazơ lại giảm thấp: CaO 14,4 mg/100g đất, đặc biệt MgO
chỉ còn 1,8 mg/100g đất. Trong khi đó đối chứng tương tự là CaO: 28,8. MgO: 5,8
Còn trên cây chè có ít tác giả đề cập tới. Tác giả Lê Văn Đức đã nghiên cứu
về ảnh hưởng của Mg đến chất lượng giống chè PH1. Kết quả nghiên cứu ảnh
hưởng của phân bón và Mg đến năng suất, chất lượng giống chè PH1 trồng tại Phú
Hộ - Phú Thọ. Bón Mg ở các liều lượng 50kg và 70kg MgSO4/ha làm tăng mật độ
búp chè 10,5% và 18,9%. Tỷ lệ mù xoè giảm, trọng lượng và chiều dài búp không
tăng có tác dụng tích cực đến năng suất và chất lượng giống chè PH1. Bón Mg với
các công thức 50kg MgSO4/ ha và 75kg MgSO4/ha làm tăng dung lượng đốn của
11
chè 25% và 32,8% so với đối chứng. Bón Mg làm tăng hàm lượng đường khử, đặc
biệt là axit amin, do đó ảnh hưởng tốt đến chất lượng chè. [26]
Việc bón magiê (khoảng 10-20kg MgO/ha) cho chè cũng đảm bảo tăng năng
suất và chất lượng búp. Ở Việt Nam có thể dùng một tỷ lệ nhất định phân lân nung
chảy như một nguồn phân magiê cho chè. Ngoài các nguyên tố đa và trung lượng,
kẽm cũng có hiệu lực khá với chè, do vậy phun dung dịch sunphat kẽm cũng có tác
dụng tăng năng suất và phẩm chất đáng kể. Theo một số tác giả, nếu năng suất cao
hơn 3 tấn búp khô thì cần bón thêm cả Bo và Molipđen.
1.3. Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thế giới và ở Việt Nam.
Quy cách hái khác nhau cho chất lượng nguyên liệu khác nhau. Lý do là:
các thành phần cơ giới búp (tôm, lá 1, lá 2, lá 3...) khác nhau có thành phần và hàm
lượng tích lũy các chất khác nhau; tuổi của búp chè hái khác nhau( Thời gian tính từ
khi bắt đầu búp sinh trưởng đến khi hái búp) có chất lượng, thành phần sinh hóa
khác nhau. Mỗi loại sản phẩm chè chỉ có chất lượng tốt khi chế biến từ nguyên liệu
có chất lượng phù hợp. Nguyên liệu để chế biến chè Ôlong đòi hỏi độ chín sinh lý
cao hơn (tỷ lệ bánh tẻ cao hơn) so với các sản phẩm chè khác. Do vậy kỹ thuật hái
là chỉ tiêu quan trọng cần nghiên cứu để nâng cao chất lượng chè Ôlong.
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật hái chè trên thế giới.
Kỹ thuật hái búp chè non của các đồn điền chè châu Âu, dựa vào kỹ thuật đã
nghiên cứu áp dụng hình thức hái chừa một lá và hái chừa lá cá cho thấy hái sát
cá tốn công lao động hơn và nó ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây. Do đó ở
người ta đã cải tiến hình thức hái và thay thế bằng kỹ thuật đốn hái tạo hình chè
con, khi cây chè 1 tuổi có 75% số cây cao trên 30 cm thì đốn lần 1 cách mặt đất 10
-15 cm, lần 2 cách 15- 20 cm.
Ở Liên Xô (cũ) (dẫn theo Lê Triệu Hoàng Trung, 2002), các nghiên
cứu đã được tiến hành với 2 phương thức hái khác nhau liên tục 11 năm với
các công thức là:
- Công thức 1: Hái 1 tôm 2-3 lá với số lá chừa (tháng 5 chừa 2 lá, tháng 6
chừa 1 lá, sau đó chỉ chừa lá cá).
- Công thức 2: Chỉ hái 1 tôm 2 lá (tháng 5 chừa 2 lá, tháng 6 chừa 1 lá, sau
đó chỉ chừa lá cá).
- Công thức 3: Hái 1 tôm 2-3 lá cuối mùa chỉ chừa lá cá.
13
Kết quả cho thấy, năng suất ở công thức 2 = 83% so với công thức 1.
Như vậy, muốn sản xuất chè hảo hạng chỉ hái 1 tôm 2 lá.
Tuy nhiên, hình thức hái này tốn rất nhiều công lao động, do đó người ta
đã phát triển hình thức đốn hái và sau đó nó được áp dụng khá phổ biến. Khi
cây chè 2- 3 tuổi, chiều cao trên 50 cm thì đốn lần 1 cách mặt ñất 10 -12 cm, lần 2
cách mặt ñất 30 cm. Song song việc đốn thì áp dụng biện pháp hái tạo hình như
sau:
Chè 2 tuổi để lá nuôi cây là chính. Sau khi trồng được 18 tháng cây
sinh trưởng mạnh, thu hái nhẹ vào 6 tháng cuối năm, hái những búp cao trên 50
cm.
Chè 3 tuổi hái những búp cao trên 60 cm, hái ñúng tiêu chuẩn 1 tôm 2 lá,
không hái búp chưa đủ tiêu chuẩn.
Chè 4 tuổi: Hái nuôi tán và sửa tán đúng kỹ thuật.