HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ THỦY
ViÖc lµm cho n«ng d©n
Khi thu håi ®Êt ë hµ néi
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ THỦY
ViÖc lµm cho n«ng d©n
Khi thu håi ®Êt ë hµ néi
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN HẬU
HÀ NỘI-2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay
Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO
27
NÔNG DÂN KHI THU HỒI ĐẤT
2.1.
Lý luận chung về việc làm cho nông dân khi thu hồi đất
27
2.2.
Giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất
43
2.3.
Kinh nghiệm của một số địa phương trong việc giải quyết việc làm
62
cho nông dân khi thu hồi đất
Chương 3. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN KHI THU
69
Giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội
126
KẾT LUẬN
153
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
158
PHỤ LỤC
167
DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH
:
Công nghiệp hóa
TP
:
Thành phố
TTDVVL
:
Trung tâm dịch vụ việc làm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1:
Mức độ hiểu biết và mức độ thành thạo của người nông
34
dân với các hoạt động sản xuất nông nghiệp (%)
Bảng 3.1:
Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của TP Hà Nội
72
Bảng 3.2:
Tình hình xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của Hà Nội
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng, tỷ lệ hộ nghèo và
79
chênh lệch giàu nghèo năm 2008
Bảng 3.8:
Tình hình thu hồi, bàn giao đất cho các chủ dự án tại Hà
81
Nội năm 2008- 2011
Bảng 3.9:
Số giờ làm việc bình quân/ tuần của lao động từ 15 tuổi
83
trở lên, năm 2011
Bảng 3.10:
Tỷ trọng lao động chia theo nhóm giờ làm việc trong tuần/
84
năm của Hà Nội năm 2011
Bảng 3.11:
Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trong
việc trong tuổi lao động năm 2011 ở Hà Nội.
Bảng 3.17: Cơ cấu lao động trong độ tuổi lao động ở Hà Nội năm 110
2011 chia theo vị thế làm việc.
Bảng 3.18: Mục đích sử dụng tiền đền bù của nông dân khi thu hồi đất 117
nông nghiệp
Bảng 3.19: Thực trạng hỗ trợ tìm việc làm
118
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn lực con người có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển bền
vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Vấn đề nguồn lực con người được Đảng ta
hết sức coi trọng, là tư tưởng cơ bản xuyên suốt trong thời kỳ đổi mới, đặc
biệt từ Đại hội VII đến nay "... Con người Việt Nam có truyền thống yêu
nước, cần cù sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt
nhanh khoa học và công nghệ... đó là nguồn lực quan trọng nhất" [25]. Con
người Việt Nam trong thời kỳ mới đã có những bước chuyển biến đáng kể,
thực sự say mê, sáng tạo trong lao động, học tập, nghiên cứu... góp phần quan
trọng trong việc tạo ra bộ mặt mới của đất nước.
Tuy nhiên để phát huy được những tiềm năng đó thì phải được thể hiện
qua quá trình lao động sản xuất mà một trong những biểu hiện cụ thể của nó
đó chính là việc làm và hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội mà nó tạo ra. Vì vậy,
trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh:
"GQVL là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát
triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu
cầu bức xúc của nhân dân" [26].
Xu hướng chung của quá trình CNH các nước đang phát triển gắn với
mất việc làm; vấn đề chuyển đổi ngành nghề, đào tạo, phục hồi thu nhập
cho số lao động trong diện thu hồi đất đề phục vụ yêu cầu của quá trình
đô thị hoá còn nhiều khó khăn… càng làm cho vấn đề GQVL ngày càng là
vấn đề bức xúc.
Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề "Việc làm cho nông dân khi thu hồi
đất ở Hà Nội" được tác giả chọn làm đề tài luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho nông
3
dân khi thu hồi đất ở TP.Hà Nội, chỉ ra những kết quả đạt được và những mặt
còn hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, từ đó đề xuất các quan điểm, phương
hướng và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, bảo đảm ổn định đời
sống lâu dài cho nông dân khi thu hồi đất ở TP. Hà Nội.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về việc làm và giải quyết
việc làm cho nông dân khi thu hồi đất.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về giải
quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất và rút ra bài học kinh nghiệm đối
với Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho
nông dân khi thu hồi đất ở TP.Hà Nội, chỉ ra những kết quả đạt được và
những mặt còn hạn chế, yếu kém trong GQVL cho nông dân khi thu hồi đất ở
Thành Phố Hà Nội trong thời gian qua.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp GQVL nhằm bảo đảm ổn định đời
sống lâu dài cho nông dân khi thu hồi đất ở TP. Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
và thực tiễn về việc làm cho nông dân khi thu hồi đất;
- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, lô gíc kết hợp với lịch
sử, tổng kết, đánh giá quá trình giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi
đất ở Hà Nội;
- Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra và phỏng vấn
chuyên sâu ở một số hộ nông dân tại một số điểm mang tính đại diện có đất
nông nghiệp bị thu hồi thuộc các huyện/quận: Hà Đông (Phường Hà Cầu),
Ba Vì (Xã Tòng Bạt), Quốc Oai (Xã Đồng Quang), Từ Liêm (Xã Mỹ
Đình), Gia Lâm (Xã Yên Thường), Đan Phượng (Xã Tân Hội) để làm kết
quả nghiên cứu của mình. Về đối tượng, mục đích, nội dung điều tra đã
5
được tác giả trình bày trong phụ lục 2 của luận án. Tại mỗi xã, tác giả điều
tra 100 hộ nông dân, tuy nhiên, trong quá trình sử lý số liệu, có nhiều phiếu
không được sử dụng do các hộ nông dân không đưa ra phương án trả lời
đầy đủ. Do các phiếu điều tra không được "làm sạch" trước khi thu hồi nên
tác giả không sử dụng mô hình SPSS để xử lý số liệu mà tác giả chỉ sử
dụng phương pháp thống kê, phân tích số liệu. Khi tác giả sử lý số liệu
bằng phương pháp thống kê, tuỳ từng câu hỏi khác nhau sẽ có số mẫu trả
lời khác nhau. Tuy vậy, tác giả cho rằng với phạm vi và đối tượng nghiên
cứu của mình, các số liệu mẫu điều tra của tác giả mang tính đại diện và độ
tin cậy cho kết quả nghiên cứu.
- Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu
trước đây và cập nhật những thông tin mới về chủ đề nghiên cứu.
5. Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm cho
nông dân khi thu hồi đất.
Thứ hai, trên cơ sở phân tích, đánh giá quá trình GQVL cho nông
dân khi thu hồi đất ở Hà Nội qua các số liệu báo cáo của các cơ quan có
CHO NÔNG DÂN KHI THU HỒI ĐẤT Ở HÀ NỘI
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN KHI
THU HỒI ĐẤT
1.1.1. Khái quát một số nghiên cứu ở nước ngoài về việc làm
1.1.1.1. Các nhà kinh điển Mác - Lênin
- Khi nghiên cứu về quá trình sản xuất Tư bản chủ nghĩa, Các Mác phát
hiện ra các điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá; các thuộc tính đặc
biệt của hàng hoá sức lao động làm căn cứ luận giải nguồn gốc giá trị thặng
dư. Sự biểu hiện sản xuất giá trị thặng dư qua các giai đoạn phát triển của
CNTB. Trong đó hệ thống giản đơn được khái quát là cách mạng về tổ chức
lao động, hệ thống công trường thủ công là cuộc cách mạng về sức lao động.
Trên cơ sở đó luận giải bản chất của tiền công là giá cả hay giá trị sức lao
động được biểu hiện ra bên ngoài là giá cả hay giá trị của lao động.
Theo Các Mác thì khi ứng dụng các thành tựu KH - CN hiện đại
thường dẫn đến tăng kết cấu hữu cơ tư bản và tăng năng suất lao động, mà:
Sự tăng năng suất lao động thể hiện ra ở việc giảm bớt khối lượng lao
động sống so với khối lượng tư liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt
động, hay là thể hiện ra ở sự giảm bớt đại lượng của nhân tố chủ quan của quá
trình lao động so với nhân tố khách quan của quá trình đó [12, tr.877].
Vì vậy, phần bất biến của tư bản vận động cùng chiều với sự tăng lên
của tích luỹ tư bản, còn bộ phận tư bản khả biến thì nói chung sẽ vận động
ngược chiều với sự tăng lên của tích luỹ.
Có thể nói các quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin về lao động,
việc làm là cơ sở lý luận cốt lõi để xem xét, vận dụng trong điều kiện phát triển
nền kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
8
- Theo V.I. Lênin, thì sự phát triển kinh tế hàng hoá khiến một bộ
- Mô hình tạo việc làm theo kiểu cổ điển: tự do cạnh tranh trên thị
trường - mức lương linh hoạt và sự toàn dụng lao động
Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, sự thoả dụng của của cá nhân
người lao động và tối đa hoá lợi nhuận của người sản xuất khi tham gia vào
thị trường lao động phải tuân thủ theo quy luật của thị trường. Mức lương và
việc làm do luật cung cầu lao động quyết định. Với mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận, cá nhà sản xuất sẽ thuê nhiều lao động hơn chừng nào mà giá trị sản
phẩm cận biên một người lao động sản xuất ra cao hơn chi phí mà anh ta bỏ ra
thuê lao động (hay là mức tiền lương). Về mặt cung lao động, các cá nhân lao
động tìm cách có chế độ thoả dụng tối đa. Họ sẽ phân chia thời gian cho nghỉ
ngơi và làm việc theo chế độ thoả dụng cận biên.Việc tăng lương cũng đồng
nghĩa với tăng giá cho sự nghỉ ngơi. Do đó, mức lương càng cao bao nhiêu thì
mức cung lao động càng cao bấy nhiêu. Trong trường hợp cung lao động bằng
cầu lao động có nghĩa là mức lương cân bằng, không có thất nghiệp - tức toàn
dụng lao động, lúc này bất kỳ người lao động nào có nhu cầu việc làm đều
tìm được việc làm. Nhưng thị trường lao động lại luôn biến động không
ngừng do đó nó làm cho cung cầu lao động luôn luôn biến đổi theo. Nếu cung
lao động lớn hơn cầu lao động, khi đó người lao động sẽ phải cạnh tranh với
nhau để bán sức lao động và có việc làm. Điều này sẽ làm giảm giá trị sức lao
động, do đó làm cho mức lương giảm xuống. Ngược lại, khi cầu lớn hơn cung
về lao động lúc này các chủ sử dụng lao động sẽ phải cạnh tranh với nhau để
thuê lao động, do vậy nó lại làm cho giá trị sức lao động tăng lên và kéo theo
là làm cho mức lương cung tăng theo. Do đó, tự do cạnh tranh mua bán sức
lao động trên thị trường, các mức lương linh hoạt được hình thành như có một
sức mạnh của bàn tay vô hình, thất nghiệp không xảy ra, mọi người có khả
năng lao động và có nhu cầu làm việc thì đều được đáp ứng về việc làm.
- Lý luận của J.M. Keynes đã tập trung xem xét mối quan hệ chặt chẽ
10
11
+ Do tác động của quá trình đô thị hoá đang kéo theo lực lượng lao
động rất lớn từ khu vực nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm, vì nơi
này có điều kiện làm việc và đời sống cao hơn. Như vậy, việc tạo công ăn
việc làm cho khu vực hiện đại ở thành thị bằng cách tăng mức tổng cầu có thể
sẽ thu hút thêm nhiều người di cư từ nông thôn ra thành thị để kiếm việc làm.
Điều này sẽ làm cho tình trạng thất nghiệp ở khu vực thành thị gia tăng, như
vậy theo lý thuyết của Keynes thì với những chính sách đưa ra để nhằm tăng
sản lượng và tạo thêm công ăn việc làm thực ra lại có thể làm giảm toàn bộ
mức công ăn việc làm và sản lượng quốc dân.
+ Trong một số trường hợp nếu tăng trưởng việc làm có thể lại dẫn đến
tình trạng làm chậm tăng trưởng sản lượng, thậm chí lại làm giảm sản lượng.
- Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu
vực của nền kinh tế [46].
Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là chuyển số lao động dư thừa từ
khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản
nước ngoài đầu tư vào các nước lạc hậu. Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho
nền kinh tế phát triển. Bởi vì trong khu vực nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao
động lại quá dư thừa. Ngoài số lao động cần đủ cho sản xuất nông nghiệp, còn
có lao động thừa làm các ngành nghề lặt vặt, buôn bán nhỏ, phục vụ trong gia
đình và lao động phụ nữ. Số lao động dôi dư này không có công ăn việc làm.
Nói cách khác, họ không có tiền lương và thu nhập. Vì vậy, việc di chuyển
lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp có hai tác dụng.
Một là, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp, chỉ để lại lượng lao
động đủ để tạo ra sản lượng cố định. Từ đó nâng cao sản lượng theo đầu
người đồng thời tạo việc làm cho số lao động dôi dư trong nông nghiệp. Mặt
khác, việc di chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp,
tạo điều kiện nâng cao sức tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung.
- Lý thuyết của Harry Toshima [46]
13
của các nhân tố sản xuất, tăng việc làm ở nông thôn, áp dụng công nghệ và có
chính sách phù hợp sẽ là biện pháp tạo thêm việc làm.
Khi áp dụng mô hình này vào các nước đang phát triển cho thấy bên
cạnh khu vực kinh tế hiện đại ở thành thị (khu vực chính quy) còn có một khu
vực kinh tế thu hút một số ngành nghề như: thợ thủ công, dịch vụ sửa chữa
nhỏ, buôn bán nhỏ tự tạo việc làm hoặc kinh doanh có thuê nhân công và thoả
thuận ngoài hệ thống luật pháp chính thức với giá nhân công rẻ. Đây chính là
khu vực hiện nay đang thu hút một lực lượng lao động rất lớn của những nước
này vào làm việc - khu vực phi chính thức. Thực tế cho thấy, việc phát triển
khu vực kinh tế phi chính thức đã, đang và sẽ có những tác dụng rất to lớn
trong việc GQVL, tăng thu nhập, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị. Đồng
thời phải không ngừng đầu tư phát triển cho khu vực nông thôn để nâng cao
mức sống của họ, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, giảm bớt khoảng cách
về thu nhập giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn cũng như phát triển
nhiều mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với khu vực nông thôn để tạo
thêm nhiều việc làm ở khu vực này.
- Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp, khuyến khích giá, tạo việc
làm [46]:
Mô hình này chỉ ra rằng để sản xuất ra một sản lượng mong muốn, các
nhà sản xuất sẽ phải đứng trước những lựa chọn lớn: một là để mua các yếu tố
của quá trình sản xuất như lao động, nguyên vật liệu… thì có nhiều mức giá
khác nhau, do đó phải lựa chọn mức giá nào cho phù hợp để có chi phí sản
xuất là thấp nhất. Hai là để đạt được lợi nhuận cao nhất các nhà sản xuất sẽ
phải lựa chọn loại công nghệ phù hợp, đó có thể là công nghệ hiện đại thì sẽ
phải chi nhiều vốn hay công nghệ ở một mức độ để sử dụng nhiều lao động.
Nếu công nghệ hiện đại, tốn nhiều vốn so với giá lao động thì nhà sản xuất sẽ
lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều lao động. Ngược lại, nếu giá lao động
tương đối cao thì các hãng sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều vốn.
15
hiện các mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Những phân tích
cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy tính tất yếu của quá trình thu hồi đất đai
để thực hiện mục tiêu CNH-HĐH đất nước cùng những phát sinh trong quá
trình này. Trên cơ sở những phân tích này cần xây dựng các giải pháp
then chốt để hạn chế các vấn đề phát sinh bảo đảm quyền lợi của người
dân cũng như phục vụ tốt cho lợi ích quốc gia. Nhìn chung, tác giả đã
cung cấp được nhiều tư liệu cần thiết cả về lý luận và thực tiễn để luận
giải cho các vấn đề liên quan đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng
đất ở Việt Nam hiện nay [45].
- "Đào tạo nguồn nhân lực ở các huyện ngoại thành Hà Nội trong
quá trình đô thị hoá" (2005) - PGS, TS. Nguyễn Tiệp, trong cuốn sách này
tác giả đã đi vào phân tích về thực trạng nguồn nhân lực ở các huyện ngoại
thành Hà Nội, phân tích vai trò của đào tạo nguồn nhân lực; thực trạng đào
tạo nguồn nhân lực ở các huyện ngoại thành Hà Nội; từ đó tác giả đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực ở các huyện
ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá, phát triển kinh tế của TP Hà
Nội: quy hoạch hệ thống giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng giáo viên,
sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho
lao động nông thôn... [62].
- "Vấn đề hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội – Thực trạng và giải
pháp" (2009) do tác giả Nguyễn Chí Mỳ và Hoàng Xuân Nghĩa đồng chủ
biên. Đây là cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều tác giả khác nhau cùng
đề cập đến vấn đề bảo đảm lợi ích cho Nhà nước, doanh nghiệp, người nông
dân sau khi thu hồi đất và các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh hậu
giải phóng mặt bằng ở Hà Nội và một số địa phương khác trong cả nước [38].
- "Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị
hoá " (2010) - cuốn sách do tác giả Nguyễn Thị Thơm và Phí Thị Hằng làm
17
hậu giải phóng mặt bằng đặc biệt là vấn đề GQVL. Sau khi phân tích thực
trạng và các vấn đề nảy sinh trong công tác hậu giải phóng mặt bằng, nhóm
tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải phóng
mặt bằng và xử lý tốt các vấn đề phát sinh sau khi giải phóng mặt bằng [39].
- "Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn vùng đồng
bằng Bắc bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp (Qua
khảo sát các tinh Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình)" (2010) - cuốn sách do
tác giả Đỗ Đức Quân làm chủ biên. Qua khảo sát một số vùng nông thôn đồng
bằng Bắc Bộ, các tác giả đã chi ra thực trạng nông thôn đồng bằng trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, chỉ ra tình trạng
chung trong nông thôn hiện nay đó là hiện tượng thu hẹp diện tích đất sản
xuất nông nghiệp, từ đó là cho một bộ phận dân cư nông thôn mất việc làm,
chất lượng môi trường bị suy giảm, mất cân đối và thiếu hụt các nguồn lực
dành cho phát triển nông thôn... Vì vậy, nhóm tác giả đã đề xuất một số giải
pháp nhóm giải pháp về kinh tế, nhóm giải pháp về xã hội và các giải pháp
khác nhằm khắc phục các hạn chế trên [47].
1.1.2.2. Đề tài nghiên cứu khoa học
- "Báo cáo nghiên cứu về việc làm nông thôn tại Việt Nam”, do Văn
Phòng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định Xã hội (OSEC) trực thuộc Liên
hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) thực hiện dưới sự hỗ
trợ về tài chính và kỹ thuật của Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt
Nam (ILO) thông qua Cục Việc làm thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội (MOLISA). Báo cáo gồm 2 phần chính: Phần I được xây dựng dựa trên
việc phân tích kết quả điều tra lao động việc làm Việt Nam năm 2009 (LFS
2009) của Tổng cục Thống kê (GSO). Ngoài ra, báo cáo cũng dành một phần
nội dung đáng kể để đánh giá tổng quan về hệ thống chính sách có liên quan.
Phần II của báo cáo là kết quả khảo sát tại 9 tỉnh gồm: Yên Bái, Hà Nam,