Nghiên cứu đặc điểm nhiễm virus hanta và một số yếu tố liên quan tại cảng hải phòng trong năm 2003 2005 - Pdf 35

1

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. VI RÚT HANTA
1.1.1. Phân loại vi rút Hanta
Vi rút Hanta thuộc họ Bunyaviridae. Họ Bunyaviridae được chia làm 5 chi (genus): vi rút Bunya,
vi rút Hanta, vi rút Nairo, vi rút Phlebo và vi rút Tospo. Ngoại trừ vi rút Hanta, còn lại tất cả các vi rút
trong họ Bunyaviridae đều thuộc nhóm vi rút Arbo [157].
1.1.2. Hình thái và cấu trúc của vi rút Hanta
Quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho thấy vi rút Hanta có dạng hình cầu hoặc hình ovan, đường
kính trung bình khoảng 100 nm, có thể dao động từ 78 nm đến 280 nm [67].
Giống như các vi rút khác trong họ Bunyaviridae, vật liệu di truyền là một sợi ARN âm, thông qua
thông tin với đầu 3’ gồm 3 đoạn ARN: đoạn dài L (long) (6530 - 6550 nucleotid), đoạn trung bình M
(3613-3707) và đoạn ngắn S (short) (1696-2083 nucleotid).
1.1.3. Sức đề kháng đối với các tác nhân sinh, lý và hoá học của vi rút Hanta
Hanta vi rút dễ dàng bị phân hủy ở nhiệt độ cao. Ở nhiệt độ 37 0C vi rút Hanta có thể sống trong tế
bào 8 ngày. Vi rút Hanta vẫn sống trong vòng 5 đến 11 ngày ở nhiệt độ phòng. Vi rút bị bất hoạt ở nhiệt độ
560C một giờ vi rút vẫn gây nhiễm bệnh.
Trong môi trường cồn ethanol khoảng 40% thì chỉ sau 2 phút vi rút Hanta sẽ bị bất hoạt.
1.1.4. Sự nhân lên của vi rút Hanta
Khi Vi rút Hanta chui vào tế bào vật chủ nhân lên, quá trình xâm nhập vào trong tế bào vật chủ mô tả
trong Hình 1.4.

Hình 1.4. Sự nhân lên của vi rút Hanta trong tế bào [156 ]
1.2. BỆNH SINH
Ở bệnh nhân sốt xuất huyết hội chứng thận (HFRS) do nhiễm vi rút Hanta thấy có sự giãn nở mao
mạch gây thoát huyết tương, cô đặc máu gây sốc do giảm thể tích máu và dẫn đến tử vong. Kháng nguyên
vi rút Hanta đã quan sát thấy trong tế bào nhu mô của não, tim, phổi, lách, thận và gan, trong mao mạch tế
bào nội mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể, trong hạch lympho và trong tế bào Kupfer của gan [69].


nghiên cứu này các nhà khoa học có hướng để nghiên cứu tìm thuốc chữa trị bệnh HFRS [74].
Việc điều trị bệnh nhân tùy thuộc vào mỗi giai đoạn của bệnh, nhưng vẫn phải tuân thủ các điểm
chung sau:
1.3.2.1. Dự phòng
Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên việc phòng chống rất cần thiết và thực hiện như sau [29],
[47]: giảm mật độ chuột và chất thải của chúng ra môi trường; Khi làm việc ở ngoài thực địa phải bắt buộc
mặc đồ BHLĐ.
Dự phòng bằng chủng vắc xin ngừa vi rút Hanta đã được một số nước áp dụng như Hàn Quốc,
Trung Quốc…
1.4. DỊCH TỄ HỌC
1.4.1. Nguồn bệnh và cách lây truyền
Vi rút Hanta không phải là vi rút mới mà đã xuất hiện nhiều năm trước đây, vi rút sống trong ổ
chứa là chuột. Ngoài ra mèo, chó, nai, dơi, hươu sừng có đốm (sinh sống ở Bắc Mỹ), bò… cũng là ổ chứa vi rút
Hanta[87].
Theo báo cáo dịch tễ học của Hàn Quốc thì nguồn bệnh vi rút Hanta là giống chuột Apodemus agrarius
corea. Tại Phần Lan và phía Tây dãy núi Uran quan sát thấy vi rút Puumala lại nằm trong chuột đồng và giống
chuột Clethrionomys glareolus. Vi rút Sin Nombre ở giống chuột Peromyscus maniculatus. Thường thì một loài
chuột chỉ mang một loài vi rút Hanta riêng biệt, tuy nhiên một vài trường hợp đặc biệt như vi rút Sin Nombre


3

gây hội chứng viêm phổi (HPS) có thể xuất hiện trên một vài loài chuột và sống cùng trong vùng sinh thái
[152].
Một số nước ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc thì giống chuột Rattus norvegicus là ổ
chứa vi rút Seoul. Kháng nguyên vi rút Hanta đã được phát hiện thấy ở 16 giống chuột khác nhau trong đó có 4 loài
ở nước Nga và Trung Quốc [154]. Chuột cống là nguồn bệnh rất nguy hiểm vì nó mang cả vi rút Hanta lẫn vi rút
Seoul. Hầu hết các trường hợp gây nên hội chứng viêm phổi tại Hoa Kỳ là do vi rút Sin Nombre, nằm trên ổ chứa
là chuột Sigmontadie [124].
Người bị nhiễm bệnh HFRS và HPS theo con đường lây truyền từ chuột sang người thông qua các

bệnh nhân nghi ngờ nhiễm vi rút Arbo của Hà Nội [170]. Theo Trương Uyên Ninh và cộng sự, trong năm
1998-1999, bằng kỹ thuật ngưng kết hạt (Hantadia) đã thấy 4,03% (5/124) mẫu huyết thanh người và
3,07% (1/27) các mẫu huyết thanh chuột có kháng thể kháng với vi rút Hanta. Năm 2000, kỹ thuật ELISA
đã phát hiện 10,24% (21/225) các mẫu huyết thanh người có kháng thể kháng vi rút Hanta [3], [4]. Tại khu
vực phía Nam, nghiên cứu của Đỗ Quang Hà và cộng sự với kỹ thuật ELISA đã phát hiện công nhân cao su
có tỷ lệ huyết thanh dương tính là 3,67%


4

Bằng kỹ thuật miễn dịch sắc ký phát hiện kháng thể IgM và IgG đã tìm thấy một bệnh nhân trong năm
2004 tại tỉnh Hải Dương [8]. Năm 2007, đã tìm thấy và xác định trình tự nucleotid, lập phả hệ được vi rút
Hanta mới tại Cao Bằng đặt tên CBNV [162].
1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ XÁC ĐỊNH NHIỄM VI RÚT HANTA
1.5.1. Phân lập vi rút Hanta
Phải thực hiện trong phòng thí nghiệm An toàn sinh học cấp 3 (BSL3).
- Thu thập mẫu xét nghiệm từ bệnh nhân và từ ổ chứa vi rút như: từ phổi và lách của
Clethrionomys glareolus, Rattus norvegicus
- Tiến hành phân lập trên động vật
+ Nhận định kết quả: Để có kết quả phân lập thì phải mất từ 20 đến 30 ngày hoặc trên 60 ngày.
Hiệu giá kháng thể thường đạt tới 512 hoặc hình ảnh huỳnh quang dương tính rất rõ ràng.
- Phân lập trên tế bào nuôi (Qua nước nổi nuôi tế bào):
+ Nhận định kết quả: Sau khi đã nuôi cấy virus trên các dòng tế bào nhạy cảm hoặc trên động vật
thí nghiệm (khoảng 12-14 ngày), quan sát các biểu hiện bệnh lý trên tế bào hoặc trên động vật để thu lượm
các mẫu virus nghi ngờ và tiếp tục định loại bằng các kỹ thuật thích hợp.
1.5.2. Phương pháp chẩn đoán nhanh việc nhiễm virus
- Phát hiện nhanh bằng kính hiển vi
- Phát hiện nhanh bằng kính hiển vi điện tử
- Phát hiện kháng nguyên bằng huyết thanh chuẩn
+Phương pháp nhuộm miễn dịch

kháng thể IgG kháng vi rút Dengue sẽ được tiếp tục xét nghiệm chẩn đoán nhiễm vi rút Hanta.
Các đối tượng này sau khi lấy máu làm xét nghiệm sẽ được phỏng vấn theo mẫu phiếu được thiết kế sẵn
với các nội dung nhằm thu thập các thông tin liên quan đến sự lây nhiễm của vi rút Hanta tại cảng Hải Phòng.
2.2. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Các vật tư hóa chất mua của hãng Sigma và Biorad, Hoa Kỳ; các chứng dương, âm chuẩn cho
huyết thanh người và chuột được cung cấp từ phòng thí nghiệm trường Y, Hokkaido, Nhật Bản.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp phân tích định lượng.
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu và cách tính mẫu
 Địa điểm nghiên cứu
- Khu vực nghiên cứu chính là cảng Hải Phòng
- Hai khu vực để đối chiếu là: khu vực tiếp giáp với cảng (Bao gồm quận Ngô Quyền, quận Hồng
Bàng) và khu vực cách xa cảng (Quận Lê Chân).
 Cách tính cỡ mẫu
Dùng công thức tính cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu mô tả [11], [103].
Số mẫu bệnh phẩm ngườicần lấy: n = 1,962 x 0,0403 x (1-0,0403) : 0,022 = 371
Số mẫu chuột cần thu thập = 1,962 x 0,037 x (1-0,037) : 0,032 = 132

2.4. PHƯƠNG PHÁP HUYẾT THANH HỌC
2.4.1. Phương pháp thu thập mẫu xét nghiệm
- Thu thập huyết thanh chuột: Lấy máu tim chuột được từ 1 ml – 2 ml, lấy huyết thanh cho vào
các tuýp vô trùng bảo quản lạnh ở - 200C tới Viện VSDTTƯ, cất giữ ở - 80 0C cho đến khi tiến hành các xét
nghiệm chẩn đoán.
- Thu thập nội tạng chuột: Các mẫu nội tạng chuột được vận chuyển và bảo quản ở - 20 0C tới Viện
VSDTTƯ, cất giữ ở - 80 0C cho đến khi tiến hành các xét nghiệm chẩn đoán.
- Thu thập và xử lý huyết thanh người


6

L08756
HTNV
Apodemus agrarius
Thái lan
DOBV
AJ009744
HTNV
Apodemus flacollis
Hylap
HTN
M12626
HTNV
Niviventer confuciasus
Trung Quốc
Seoul 80-39
S47716
SEOV
Chuột Rattus rattus
Hàn quốc
L99
AF288298
SEOV
Chuột Rattus rattus
Hàn quốc
J12
AB027082
SEOV
Chuột Rattus rattus
Trung Quốc
Guang199

AB027081
SEOV
Chuột Rattus rattus
Trung Quốc
Shanxi
AB027085
SEOV
Chuột Rattus rattus
Trung Quốc
SD10
AB027092
SEOV
Chuột Rattus rattus
Trung Quốc
SD227
AB027091
SEOV
Chuột Rattus rattus
Trung Quốc
C3
AB027088
SEOV
Chuột Rattus rattus
Trung Quốc
Heibei4
AB027089
SEOV
Chuột Rattus rattus
Trung Quốc
Heibei1

SEOV
Rattus norvegicus
Mỹ
Tchoupitoulas
U00473
SEOV
Rattus norvegicus
Mỹ
Sản phẩm PCR (300 bp) được tiếp tục tinh sạch, tiến hành chạy phân tích trình tự chuỗi nucleotide
( sequencing), đánh dấu bằng sinh phẩm Bigdye 3.1 được thực hiện theo quy trình của sinh phẩm. Sản
phẩm sequencing sau đó tiến hành phân tích thông qua máy phân tích DNA – ABI 3100 ( Mỹ). Kết quả
thu được được được tập hợp bằng phần mềm MEGA phiên bản 3.1, sau đó được sắp xếp theo chương trình
CLUSTAL-W theo mã hóa vùng nghiên cứu với độ dài 256 bp tại gen M. Cây gia hệ được cấu tạo dựa trên
thuật toán neighbor-joining với hệ số tương đồng cao ( boostrap n=1000) và so sánh với 22 trình tự virut
Seoul và 3 các trình tự virut Hantaan đã biết thu thập trên GENBANK ( bảng trên).
2.4.3. Phương pháp xác định một số yếu tố liên quan đến sự lây nhiễm của vi rút Hanta tại cảng Hải
Phòng
Công nhân làm việc tại cảng Hải Phòng đã lấy máu làm xét nghiệm, được phỏng vấn theo mẫu phiếu
đã thiết kế sẵn với các nội dụng thông tin về đặc điểm đối tượng, vệ sinh môi trường lao động, điều kiện
lao động, trang thiết bị bảo hộ lao động và nhà ở, điều kiện sinh hoạt có liên quan đến việc lây nhiễm vi rút
Hanta tại cảng Hải Phòng như: tuổi, giới, điều kiện vệ sinh môi trường nơi làm việc tại cảng và nơi ở; thời
gian làm việc (ban ngày, ban đêm), có bị chuột cắn hay không, phương tiện bảo hộ lao động (ủng, găng tay,
khẩu trang) và ý thức sử dụng trang bị bảo hộ lao động.
2.5. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU
Các số liệu nghiên cứu được xử lý trên phần mềm SPSS 13.0; dùng tets χ2 để đánh giá các tỷ lệ, đánh
giá sự khác biệt của các biến số.
Sử dụng bảng 2 x 2 để tính tỷ suất chênh OR và khoảng tin cậy 95% CI.
2.6. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
- Nội dung và mục đích nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu của Viện Y học biển
Việt Nam cho phép; có sự đồng thuận của bản thân đối tượng, hoặc người đại diện đủ tư cách.

Số
chuột
59

Đực

Cái

Số
chuột
16

Đực

Cái

Cảng
16
18
27
32
8
8
109
Ngoài
75
37
38
106
51

Kết quả nghiên cứu
chuột
WB (+)
ELISA (+)
IFA (+)
n
Tỷ lệ %
n
Tỷ lệ %
n
Tỷ lệ %
Cảng HP (1)
59
38
23,03
24
14,54
7
4,24
Khu vực tiếp giáp
80
48
29,09
22
13,33
6
3,63
cảng (2)
Khu vực xa cảng
26


Hình 3.7. Kết quả RT-PCR phát hiện virut Seoul ( gen M)
giếng 1 là thang chuẩn DNA, giếng 2 và 3 mẫu phổi của 2 cá thể chuột
Bảng
Loài chuột

Số mẫu xét nghiệm
Số mẫu RT-PCR
RT-PCR
dương tính
Rattus novergicus
14
4
Kết quả thu được như sau: Kết quả phân tích trình tự chuỗi cho thấy 4 sản phẩm PCR thu được từ mẫu
phổi của chuột novergicus tại Hải phòng được khẳng định thuộc nhóm virut Seoul (100%).
Kết quả trên cho thấy chuột Rattus novergicus có khả năng mang vi rút Hanta (nhóm Seoul).
3.1.4. Kết quả xác định trình tự chuỗi nucleotide, xây dựng cây gia hệ của virut hanta (nhóm Seoul)
lưu hành tại cảng Hải phòng.


10

Hình 3.8. Cây phả hệ vi rút Hanta tại Hải Phòng
Phân tích cây phả hệ cho thấy vi rút SEO lưu hành tại Hải phòng ( 4 vi rút) có độ tương đồng cao (94%)
và được tách ra từ nhóm vi rút SEO lưu hành tại Hà nội (Hanoi/Haibatrung # 25 và Hanoi/Haibatrung # 9). Các vi
rút SEO lưu hành tại Việt nam có độ tương đồng thấp với các nhóm vi rút SEO và dường như tập hợp thành một
nhánh riêng trong nhóm phụ (subgroup) 4 cùng với các vi rút Jakarta (Indonesia) và B1( Nhật bản), C3 ,Heibei4,
SD 10, và SD7( Trung quốc).
3.2. Kết quả phát hiện kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên quần thể người tại cảng Hải
Phòng và khu vực xung quanh

10,32

WB +
n
Tỷ lệ %
13
9,92
09
4,89


11

Quyền, Hồng Bàng) (2)
Khu vực xa cảng
Chân)
(3)
Tổng

(Lê

48

09

18,75

02

4,16

kháng IgG kháng vi rút Hanta tại các điểm nghiên cứu của Hải Phòng từ năm 2003 đến năm 2005 như sau:
Lứa tuổi mắc cao nhất là lứa tuổi từ 30 đến 39: 31 trường hợp; tiếp đến là lứa tuổi 20- 29 là 24
trường hợp; lứa tuổi mắc thấp nhất là lứa tuổi từ 10 đến 19: 5 trường hợp và lứa tuổi trên 50 tuổi: 5 trường
hợp có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta.

Hình 3.15. Sự phân người mang kháng thể IgG kháng vi rút Hanta
theo giới tính tại các địa điểm nghiên cứu của Hải Phòng
Nhận xét: Tỷ lệ giữa nam và nữ có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta ở 3 điểm nghiên cứu của Hải
Phòng trong thời gian 2003-2005 cũng có sự khác biệt rõ ràng, số nam giới luôn lớn hơn nữ giới.


12

3.3. Các yếu tố liên quan đến sự lây nhiễm
3.3.1. Điều kiện địa lý, khí hậu
 Địa lý Hải Phòng
Hải Phòng là một thành phố cảng biển và công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam.
Hải Phòng là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương và là một trong 6 đô thị loại 1 của Việt
Nam. Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất
phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Hải
Phòng lấy phát triển kinh tế biển là chính; có nhiều khu công nghiệp, thương mại lớn và trung tâm dịch vụ,
du lịch, thủy sản, giáo dục và y tế của vùng duyên hải Bắc Bộ. Hải Phòng có diện tích là 1.476, 45 km 2 ;
Dân số là 1.769.357 người.
 Điều kiện khí hậu
Hải Phòng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 23ºC – 24ºC, lượng mưa
hàng năm từ 1.600 đến 1.800mm, với khí hậu nóng, ẩm và có 4 mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, Thu, Đông) nên đây
cũng là một điều kiên tiên quyết và thuận lợi cho loài gậm nhấm sinh sôi phát triển.
3.3.2. Điều kiện lao động và vệ sinh môi trường của đối tượng nghiên cứu có liên quan đến việc lây truyền bệnh do
nhiễm vi rút Hanta
Bảng 3.16. Tình trạng nhiễm vi rút Hanta theo nhóm nghề nghiệp


Nhận xét: Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.16 cho thấy:
Trong số 34 nhân viên văn phòng được phỏng vấn có 6 nhân viên có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta
(17,64 %) và 28 người (82,36 %) không có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta.
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa thời gian lao động trong ngày với tình trạng nhiễm vi rút Hanta của công nhân
cảng Hải Phòng
CTNC

Làm ca đêm

KQNC
n (+)

Tỷ lệ (%)



20

71,42

Không

8

28,58

Tổng

28


25,00

Không

21

75,00

Tổng

< 0,01

28

9,00;
(3,02-35,96)
χ2 =18,36

Nhận xét: Từ kết quả nghiên cứu trong bảng 3.19 cho thấy:
Trong số 28 người được phỏng vấn có kết quả huyết thanh dương tính với vi rút Hanta bằng kỹ thuật
ELISA thì có 7 người mang trang bị bảo hộ lao động (25,00 %) và 21 người không mang trang bị bảo hộ
lao động (75,00 %) có ý nghĩa thống kê (P
công nhân cảng Hải Phòng
CTNC
Kết quả nghiên cứu

Nơi làm việc
có chuột


Không

n (+)

Tỷ lệ (%)

21

75,00

< 0,001

9.00; (3,05-37,90)
χ2 = 17,09

7
25,00
Tổng
28
Nhận xét: Từ kết quả nghiên cứu trong bảng 3.21 cho thấy:
Trong số 28 người được phỏng vấn có kết quả huyết thanh dương tính với vi rút Hanta thì có 21
người làm việc trong điều kiện môi trường có truột (75,00 %) và 7 người làm việc trong điều kiên môi

trong điều kiên môi trường không có chất thải của chuột (21,42 %). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
P
rất cao, tuy nhiên độ đặc hiệu lại hạn chế, giá thành tương đối rẻ, trang thiết bị và kỹ thuật không quá cầu
kỳ, do đó rất thích hợp sử dụng cho các nghiên cứu sàng lọc cộng đồng. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử
dụng thêm kỹ thuật IFA là phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu tương đối cao để sàng lọc lần hai và kết
quả đã phát hiện được 30,39% (51/165) chuột Rattus novergicus có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta,
trong đó: tại cảng Hải Phòng: 24/59 con chiếm tỷ lệ 40,67 %, khu vực tiếp giáp cảng (quận Hồng Bàng và
Ngô Quyền) 22/80 con chiếm tỷ lệ 27,50 %; còn tại khu vực xa cảng (Lê Chân): 05/26 con chiếm tỷ lệ
19,23 % (Bảng 3.4).
Tại Indonesia, các nhà khoa học cũng đã tìm thấy vi rút Hanta trên chuột Rattus novergicus với tỷ
lệ 10,8% (24/238 chuột) [70], [76]. Theo nghiên cứu của Plyusnina và cộng sự thấy kháng thể IgG kháng
vi rút Hanta cao nhất trên chuột Rattus novergicus, sau đấy mới đến chuột Rattus rattus và Rattus exulans
[146].
Với kỹ thuật IFA xét nghiệm chuột bẫy tại tỉnh Kinmen thuộc Đài Loan thấy tỷ lệ kháng thể IgG
trên chuột Rattus novergicus chiếm tới 50% (4/8), chuột Rattus flavipectus là 2% (7/348). Nghiên cứu khác
ở Đài Loan trên chuột Rattus novergicus là 8,3%, Rattus rattus là 20%, Rattus losea là 4,2%, Apodemus
agarius là 1,6%, không có kháng thể kháng vi rút Hanta trên chuột Suncus murinus [38], [80]. Chin C và
cộng sự đã phát hiện thấy tỷ lệ chuột Suncus murinus và Rattus rattus có kháng thể kháng vi rút Hanta rất
thấp [35]. Tại các điểm nghiên cứu của Hải Phòng vào giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2005 không phát
hiện thấy kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên chuột Rattus flavipectus, Suncus murinus.
Điều tra huyết thanh học trên chuột tại Campuchia cho thấy kháng thể kháng IgG trên chuột phân
bố như sau Rattus rattus chiếm 6,3%, Rattus novergicus chiếm 20,9%, không thấy có kháng thể IgG trên
chuột Rattus exulans [149]
Nitatpattana N và cộng sự nghiên cứu trong năm 2000 tại 2 tỉnh Nakhon Pathom và Nakhon
Ratchasima thấy: tại tỉnh Nakhon Pathon tỷ lệ chuột có kháng thể kháng vi rút Hanta trung bình là 2,3%,
với Rattus Novergicus là 3,8%, Bandicota Indica là 2,6%. Ở tỉnh Nakhon Ratchasima tỷ lệ trung bình là
4,0% và Bandicota indica chiếm 19,1% và Rattus exulans là 3,5% [130]. Một nghiên cứu khác ở một số
tỉnh miền Bắc Thái Lan cho thấy tỷ lệ có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta là 2,1% trong đó tỷ lệ trên
chuột Bandicota Indica là 4,3%, Rattus exulans là 2,1%, Rattus rattus là 0,9% [132]. Những nghiên cứu
đầu tiên tại Thái Lan năm 1998 cho thấy tỷ lệ kháng thể kháng IgG trên chuột là 13,3%, trong đó chuột
Bandicota savilei là 35,7% và Rattus norvegicus là 31,5% [131]. Tại Cowet với kỹ thuật IFA cũng đã tìm
thấy 3,6% có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên chuột Rattus novergicus [134].

8,47 % (14/165 mẫu) (xem bảng 3.7). Chính vì lẽ đó nếu khi mẫu xét nghiệm dương tính với ELISA, cần
phải làm thêm kỹ thuật WB để khẳng định chẩn đoán.
Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với nhận định của Arikawa Jiro [17]. Một lần nữa cả 3
kỹ thuật này bổ sung cho nhau, và giúp khẳng định vi rút Hanta lưu hành trên chuột Rattus novergicus tại
các điểm nghiên cứu của Hải Phòng từ năm 2003 đến năm 2005. Theo khuyến cáo TCYTTG nên dùng kỹ
thuật ELISA để phát hiện kháng thể IgG kháng virut Hanta trên chuột trong các điều tra dịch tễ học [106],
kỹ thuật IFA được gợi ý dùng trong xét nghiệm huyết thanh chuột và cần thiết dùng kỹ thuật WB để khẳng
định. Việc tìm thấy kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên chuột có ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu về ổ
chứa vi rút Hanta và nghiên cứu về sinh thái vi rút [106], [138]. Malaysia cũng giống như các nước ở vùng
Đông Nam Á không nhận thức được sự nguy hiểm của vi rút Hanta và xếp chúng vào danh sách bệnh
không nguy hiểm, mặc dù có những điều tra sớm từ những năm ở thập kỷ 80 của thế kỷ 20 và gần đây Lam
S.K. và cộng sự đã phát hiện thấy có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên chuột Rattus novergicus [94].
Ở Singapo năm 1989, Wong TW đã tìm thấy 32% trên tổng số 113 chuột Rattus novergicus có
kháng thể IgG kháng vi rút Hanta bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp. Một nghiên cứu gần đây
tại Singapo bằng kỹ thuật ELISA đã phát hiện ra 50% chuột Rattus novergicus có kháng thể kháng vi rút
Seoul. Tại Nhật Bản từ 2000 đến 2003, giám sát chuột tại 4 quần đảo của Nhật Bản là Hokkaido, Honsu,
Shikoku và Kyushu, các nhà khoa học đã tìm thấy kháng thể kháng vi rút Hanta trên chuột Rattus
novergicus là 1,1% bằng cả 2 phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp và kỹ thuật Western Blot. Kết
quả cho thấy chuột Rattus novergicus bẫy tại cảng và sân bay Chitose-Hokkaido, Nhật Bản có kháng thể
IgG kháng vi rút Hanta cho nên có thể đây là nguồn truyền nhiễm nguy hiểm đe dọa những người làm việc
tại môi trường cảng [113]. Năm 1989 với kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, tác giả Korch GW và
cộng sự đã tìm thấy 4% kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên chuột Rattus novergicus tại Baltimore,
Maryland [92]. Morita C và cộng sự cuối những năm 1960 với kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp đã
phát hiện ra tỷ lệ có kháng thể kháng vi rút Hanta trên chuột Rattus novergicus tại khu vực cảng là 16,8%
và khu vưc ngoại ô thành phố Tokyo là 10,2% [122].
4.1.4. Đặc điểm vi rút Hanta phát hiện được ở đàn chuột tại khu vực Hải Phòng
Thông qua kết quả xét nghiệm RT-PCR và Sequencing trên các mẫu mô phổi của chuột Rattus
nevergicus và chuột Rattus ratttus thu thập tại cảng Hải phòng cho thấy chỉ phát hiện virut Hatan nhóm
Seoul (vi rút SEO) trên chuột Rattus nevergicus là chuột được ghi nhận mang vi rút SEO trên thế giới. Cây


cảng Hải Phòng giai đoạn 2003-2005
4.2.1. Kết quả xét nghiệm huyết thanh nhóm người lành và nhóm người bệnh tại Hải Phòng, 2003 –
2005
Kết quả xét nghiệm huyết thanh người tại các khu vực nghiên cứu bằng kỹ thuật ELISA (Bảng 3.8)
cho thấy tỷ lệ các mẫu có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta ở hai nhóm người lành và bệnh nhân là khác
nhau: người lành chiếm tỷ lệ 16,83 % (41/291), trong khi người bệnh là 45,83 % (33/72), sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.
Trong vòng 3 năm, tiến hành thu thập được 291 mẫu huyết thanh người lành và 72 mẫu huyết
thanh bệnh nhân sốt cấp tính (trong thời gian 7-10 ngày), với các biểu hiện lâm sàng của nhiễm vi rút và có
xuất huyết dưới da và niêm mạc nhưng không rõ nguyên nhân tại các địa điểm: cảng Hải Phòng, khu vực
tiếp giáp cảng (là quận Hồng Bàng và Ngô Quyền) và một khu vực xa cảng là quận Lê Chân. Với kỹ thuật
ELISA xét nghiệm kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên nhóm người lành, kết quả thu được như sau: tại
Cảng phát hiện được 18/ 97 mẫu có kết quả dương tính (chiếm tỷ lệ 18,55 %); khu vực tiếp giáp cảng có:
26/158 (chiếm tỷ lệ 16,45 %); khu vực xa cảng có: 5/36 (chiếm tỷ lệ 13,88%).
Như vậy, kết quả nghiên cứu sàng lọc lần 1 bằng kỹ thuật ELISA đã phát hiện được 49 mẫu huyết
thanh có kháng thể IgG trên tổng số 291 mẫu huyết thanh người lành. Tỷ lệ dương tính trong số mẫu huyết
thanh người lành là 16,83 %.
Trong khi đó trên nhóm bệnh nhân, bằng kỹ thuật ELISA cũng đã phát hiện được các mẫu có
kháng thể IgG kháng vi rút Hanta tại các địa điểm nghiên cứu như sau: khu vực cảng là 16/34 ca dương


19

tính (chiếm tỷ lệ 47,05 %), khu vực tiếp giáp cảng là 13/26 ca dương tính (chiếm tỷ lệ 50 %), khu vực xa
cảng là 4/12 ca dương tính (chiếm tỷ lệ 33,30%). Như vậy, taonf bộ kết quả nghiên cứu thu được: 33 mẫu
huyết thanh bệnh nhân có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên tổng số 72 mẫu huyết thanh bệnh nhân
(chiếm tỷ lệ 45,83 %).
Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta ở nhóm người lành khá cao (16,83%). Tuy
nhiên, tỷ lệ huyết thanh có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên nhóm bệnh nhân còn cao hơn nhiều
(45,83 %) sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P
đau khớp trong số bệnh nhân trên. Do triệu chứng rất khó phân biệt giữa bệnh sốt xuất huyết hội chứng
thận (HFRS) với bệnh khác, Mc. Caughey cho rằng tất cả những bệnh nhân âm tính với xét nghiệm huyết
thanh Leptospira nhất thiết phải được sàng lọc với vi rút Hanta [119].
Rollin PE và cộng sự lần đầu tiên với kỹ thuật IFA đã tìm thấy 5,4 % bệnh nhân có kháng thể IgG từ
nhóm bệnh nhân nghi ngờ nhiễm vi rút nhóm Arbo tại Hà Nội năm 1979 [150]. Trong năm 1984, Richard
Yanagihara và cộng sự đã tìm thấy kháng thể kháng vi rút Hanta trên 7 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ 0,67%) tổng
số 1035 bệnh nhân sốt không rõ căn nguyên bằng kỹ thuật IFA [183].
Giám sát huyết thanh học trên 420 bệnh nhân sốt không rõ nguyên nhân tại cộng hòa Guiana, các
nhà khoa học đã tìm thấy 1,42% có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta bằng kỹ thuật ELISA [116].


20

Nghiên cứu năm 2000 tại Đài Loan ở tỉnh Kimen trên 85 bệnh nhân nghi ngờ nhiễm bệnh Scrub
typhus-sốt mò nhưng kết quả huyết thanh học âm tính, bằng kỹ thuật ELISA phát hiện thấy 7 bệnh nhân
(chiếm tỷ lệ 8,23%) có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta. Với kỹ thuật IFA đã phát hiện dương tính ở cả 7
bệnh nhân trên [38].
Nghiên cứu huyết thanh học tại Tây Ban Nha trên đối tượng bệnh nhân sốt không rõ nguyên nhân,
bằng kỹ thuật IFA đã phát hiện, tỷ lệ 1,62% trên 492 bệnh nhân có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta [110].
Pacsa và cộng sự đó phát hiện thấy 11% có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta bằng kỹ thuật IFA và
kỹ thuật ELISA tại Cowet từ nhóm bệnh nhân có triệu chứng sốt nhiễm vi rút Arbo [125].
Điều tra các bệnh nhân thận không rõ căn nguyên tại cộng hòa Israel, George J. và cộng sự thấy
3,7% có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên tổng số 88 bệnh nhân bằng kỹ thuật ELISA. Kết quả cho
thấy khi chưa phát hiện thấy bệnh nhân và cũng không tìm thấy chuột mang vi rút, nhưng cần chú ý sàng
lọc trên các bệnh nhân sốt có tổn thương thận không rõ căn nguyên [66]. Pacsa AS và nhóm nghiên cứu
điều tra trên nhóm bệnh nhân nghi ngờ nhiễm bệnh sốt vi rút Dengue, sốt vi rút do ruồi Sandyfly truyền và
vi rút Hanta bằng kỹ thuật IFA kết quả đã phát hiện thấy có tới 11,00 % bệnh nhân có kháng thể IgG kháng
vi rút Hanta trong số 46 bệnh nhân nguy cơ cao có kháng thể kháng vi rút Hanta. Như vậy, tại Cowet đã có
sự truyền bệnh do vi rút Hanta [135]. Bệnh nhân nhiễm vi rút Hanta ở giai đoạn cấp tính, chẩn đoán huyết
thanh học thường phát hiện sớm được kháng thể IgM [128], [166].

21

4,89 % (9/184), khu vực xa cảng: 0,00 % (0/48), tỷ lệ chung cho tất cả các khu vực nghiên cứu là: 6,06%.
(22/365).
Điều này có thể lý giải là do đặc điểm địa lý, khoảng cách giữa các khu vực trong thành phố Hải
Phòng khác nhau như ở cảng nơi có môi trường và điều kiện thuận lợi nhất cho sự cư trú và phát triển của
đàn chuột nên tỷ lệ người có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta là cao nhất; khu vực tiếp giáp với cảng
(quận Hồng Bàng và Ngô Quyền) có tỷ lệ cao thứ nhì có lẽ do có sự giao lưu giữa đàn chuột trong cảng với
đàn chuột ở khu vựng quanh cảng, hoặc cũng có thể là do sự di chuyển của đàn chuột trong cảng ra các
vùng xung quanh. Còn lại khu vực cách xa cảng là quận Lê Chân tỷ lệ mắc thấp nhất (với 2 kỹ thuật ELISA
và IFA) và với kỹ thuật WB thì tỷ lệ này là 0,0%. Sự khác biệt này có lẽ do đàn chuột nơi đây ít có điều
kiện tiếp xúc với đàn chuột trong cảng.
Kết quả trình bày trong bảng 3.12 và hình 3.13 về tỷ lệ huyết thanh người có kháng thể
IgG kháng vi rút Hanta bằng các kỹ thuật ELISA, IFA và WB cho thấy tỷ lệ dương tính của huyết
thanh có kháng thể IgG kháng vi rút Hanta có sự khác biệt rõ rệt, cụ thể tỷ lệ này ở công nhân
Cảng Hải Phòng là:25,95 % (ELISA)/18,32 % (IFA)/ 9,92 % (WB); khu vực tiếp giáp cảng
là:21,19 % (ELISA)/10,32 % (IFA)/4,89 % (WB) và khu vực xa cảng là: 18,75% (ELISA)/4,16%
(IFA)/0,00 %(WB).
Trong nghiên cứu của mình, nhóm Trương Thừa Thắng và CS cũng đã phát hiện thấy tỷ lệ kháng
thể IgG kháng vi rút Hanta bằng kỹ thuật ELISA trên người lành: 8,4% tại Hà Nội; 7,8% tại Hà Nam; 8,9%
tại Lào Cai; Hòa Bình là 7,2%; Thanh Hóa là 9,9%; tính tỷ lệ người lành dương tính ở các tỉnh thấy tại các
điểm nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2001 – 2004, tỷ lệ có kháng thể kháng vi rút Hanta trên
người lành là 8,6% (99/1151). Khi so sánh với một vài nước ở châu Âu thì thấy không khác biệt nhiều như
ở Phần Lan là 6,0%, 8,0% ở Thụy Điển [127]. Ngay tại Thái Lan qua giám sát huyết thanh học trên người
lành các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy tùy theo vùng địa lý khác nhau, môi trường khác nhau mà tỷ lệ
người có kháng thể kháng vi rút Hanta cũng thay đổi từ 1,2% đến 31,4% bằng kỹ thuật ELISA [56], [154].
Một nghiên cứu tại phía Bắc Ireland bằng kỹ thuật ELISA cũng phát hiện thấy: 4,0% có kháng thể kháng vi
rút Seoul trong tổng số 320 người lành [118]. Đỗ Quang Hà và cộng sự với kỹ thuật ELISA tìm thấy kháng
thể IgG kháng vi rút Hanta trên công nhân cao su Phú Riềng – Đồng Nai là 3,67% và công nhân vệ sinh ở
thành phố Biên Hòa là 7,45% [1].

thuật ELISA, kỹ thuật IFA, kỹ thuật WB các kỹ thuật này có tính chất bổ sung cho nhau, giúp khẳng định
sự lưu hành vi rút Hanta tại các điểm nghiên cứu. Kỹ thuật ELISA và kỹ thuật IFA để sàng lọc kháng thể
IgG từ huyết thanh, với kỹ thuật ELISA có thể sàng lọc nhiều mẫu bệnh phẩm cùng một lúc và làm giảm
thời gian hơn so làm bằng kỹ thuật IFA. Kỹ thuật ELISA và kỹ thuật IFA có độ nhạy cao dễ sử dụng ở các
phòng thí nghiệm hiện nay, nhưng độ đặchiệu của nó lại không cao bằng phương pháp WB [17], [106]. Kỹ
thuật WB có tính đặc hiệu cao. Theo Richard Yanagihara, Đại Học Hawaii (Tháng 7 năm 2005) và Jin Woo
Song tại Đại Học Korea (Tháng 1 năm 2006), đều đồng ý với việc dùng kỹ thuật ELISA, IFA, WB cho
chẩn đoán huyết thanh học bệnh do nhiễm vi rút Hanta, và khuyến cáo dùng kỹ thuật WB để khẳng định
các chẩn đoán huyết thanh học. Kỹ thuật ELISA nhạy hơn so kỹ thuật ngăn ngưng kết hồng cầu hay kỹ
thuật kết hợp bổ thể và phù hợp khi xét nghiệm số lượng huyết thanh lớn [175]. Kỹ thuật IFA yêu cầu bắt
buộc khi chuẩn bị kháng nguyên phải làm tại phòng an toàn sinh học BSL3, và không phù hợp khi làm với
số lượng huyết thanh lớn, đồng thời thiết bị kỹ thuật phức tạp hơn và giá thành cũng cao hơn phương pháp
ELISA [168]. Yoshimatsu đã nghiên cứu thấy kỹ thuật WB đặc hiệu hơn so với kỹ thuật IFA tới 10 lần khi
phát hiện kháng thể IgG, khi pha loãng huyết thanh xét nghiệm ở tỷ lệ 1:10 sẽ không quan sát thấy nền như
trong kỹ thuật ELISA và kỹ thuật IFA sau khi nhuộm. Khi thực hiện các kỹ thuật đều pha loãng huyết
thanh ở tỉ lệ 1:200 và nhận thấy chỉ số OD ở kỹ thuật ELISA thấp khi đọc kết quả bằng máy, qua kỹ thuật
IFA gần như không có màng nền quan sát dưói kính hiển vi huỳnh quang, đến kỹ thuật WB đọc kết quả
thấy băng đặc trưng 51 kDa không có màng nền. Kháng nguyên nucleocapsid protein (NP) tái tổ hợp bền
và khi chuyển qua màng PDVF vẫn ổn định. Chính vì vậy, khi xét nghiệm huyết thanh sàng lọc thì dùng kỹ
thuật ELISA và kỹ thuật IFA rồi sau đó kiểm tra lại bằng kỹ thuật WB là kỹ thuật rất đặc hiệu trong chẩn
đoán huyết thanh học. Kỹ thuật WB có khả năng phát hiện IgG sau 3 ngày nhiễm bệnh, trong khi kỹ thuật
IFA chỉ phát hiện sau 5 ngày nhiễm bệnh, khuyến cáo dùng kỹ thuật WB cho khẳng định nhiễm hay không
nhiễm vi rút Hanta. Giải thích cho sự khác nhau giữa ba loại phản ứng huyết thanh học như sau: kỹ thuật
ELISA dùng kháng nguyên tái tổ hợp do vậy có thể phát hiện các loại vi rút Hanta trong khi IFA và WB
dùng kháng nguyên Hanta HTN 76-118 hay kháng nguyên vi rút Seoul nên chỉ phát hiện được nhóm vi rút
Hanta cụ thể như vi rút Hanta và vi rút Seoul [17], [106]. Tuy nhiên, việc dùng mù đơn khi chẩn đoán đôi
khi bị dương tính giả, cho nên để cho chắc chắn, người ta thường dùng mù kép nhằm đảm bảo cho kết quả
chẩn đoán. Tiến tới xác định bằng kỹ thuật phát hiện gien RT-PCR khi bệnh nhân ở giai đoạn cấp tính. Tuy
nhiên, điều này thực hiện khó vì cần lấy mẫu bệnh phẩm đúng giai đoạn, như trường hợp bệnh nhân nhi ở
Chi Lê cho đến lúc tử vong vẫn chưa phát hiện được kháng thể [34], [65]. Phân lập vi rút Hanta từ người

tại tới 10 năm, thậm chí 20 năm. Mặt khác kháng thể IgG xuất hiện sau 7 - 10 ngày ở giai đoạn cấp tính rất
đặc hiệu cho việc chẩn đoán huyết thanh học [128], [176]. Meng XS. và cộng sự phát hiện thấy kháng
nguyên tái tổ hợp Nucleocapsid Protein dùng trong kỹ thuật ELISA có tính ổn định, bền vững phát hiện
nhanh và sớm kháng thể IgG, tiếp theo đó IgM và IgA. Tại miền Nam nước Pháp đã có một bệnh nhân
nhập viện, có triệu chứng điển hình hội chứng sốt xuất huyết thể thận, kết quả huyết thanh học cho thấy
kháng thể IgG rồi kháng thể IgA, nhưng không tìm thấy kháng thể IgM trong 20 ngày liền và có kết quả
dương tính với vi rút Puumla bằng kỹ thuật RT-PCR [73].
Fan S. và cộng sự nghiên cứu trên bệnh nhân tại vùng Antai Trung Quốc bằng kỹ thuật ELISA
phát hiện kháng thể IgM và IgG [58]. Tại Nhật Bản điều tra 207 người làm việc tại khu vực bốc xếp tại
cảng biển, bằng kỹ thuật ELISA, IFA, WB đã phát hiện một người có kháng thể IgG [113].
Trong nghiên cứu tại Thụy Điển với 1533 mẫu huyết thanh, sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp dùng
cho kỹ thuật ELISA phát hiện 8,9% có kháng thể IgG kháng vi rút Puumala, với kỹ thuật IFA chỉ còn có
5,4%. Cũng với số huyết thanh này, thấy có phản ứng chéo trong nhóm với vi rút Sin Nombre. Với kết quả
ELISA như vậy gợi ý có thể có nhóm vi rút Hanta khác trong số huyết thanh trên [14].
Do triệu chứng của bệnh nhiễm vi rút Hanta dễ nhầm với bệnh do căn nguyên khác như sốt mò, sốt
Leptospira bởi vậy trong số bệnh nhân xét nghiệm có thể vẫn còn lẫn những vi rút khác chưa được sàng
lọc. Tuy nhiên, với số huyết thanh bệnh nhân và người lành dương tính - có kháng thể IgG kháng vi rút
Hanta được phát hiện qua nghiên cứu đã khẳng định sự có mặt vi rút Hanta tại thành phố Hải Phòng. Theo
Ksiazek TG, Nicholt ST (CDC, Atlanta năm 2005) thì chỉ cần kết quả của ELISA cũng đã khẳng định sự có
mặt vi rút Hanta hay dấu ấn vi rút Hanta tại các địa điểm nghiên cứu. Kỹ thuật IFA dùng kháng nguyên đặc
hiệu HTN 76-118 đã xác nhận sự có mặt vi rút Hanta tại các điểm nghiên cứu ở Hải Phòng. Bằng kỹ thuật
WB chúng tôi đã phát hiện thấy băng đặc hiệu 51 kDa ở bệnh nhân và người lành tại khu vực cảng, khu
vực tiếp giáp cảng (quận Ngô Quyền, Hồng Bàng) và khu vực xa cảng (quận Lê Chân). Bên cạnh đấy kết
quả việc phát hiện kháng thể IgG kháng vi rút Hanta trên huyết thanh của người tại các điểm nghiên cứu,
chứng tỏ rằng trong quá khứ những người này đã từng nhiễm vi rút Hanta. Điều này cũng phù hợp với
nghiên cứu của Padula PJ. và cộng sự [138].
4.2.3. Mối liên quan giữa lứa tuổi và giới tính với sự đáp ứng kháng thể IgG kháng vi rút Hanta tại các
địa điểm nghiên cứu tại Hải Phòng giai đoạn 2003 – 2005



tiếp xúc với chất thải ra từ chuột nhiều. Tỷ lệ kháng thể IgG kháng vi rút Hanta ở nhóm người sống tại
nông thôn cao hơn nhóm người sống ở thành thị, sự khác biệt này là có lẽ do môi trường sống ở thành phố
sạch sẽ hơn vùng nông thôn nên những người ở phố ít phải tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với các chất thải
của chuột hơn [13]. Tại Phần Lan bệnh thường bùng nổ vào tháng 11 tới tháng 1, tỷ lệ nhiễm bệnh ở đàn
ông luôn luôn gấp đôi phụ nữ, quan sát thấy tỷ lệ nhiễm vi rút Puumala ở người sống tại nông thôn luôn
nhiều hơn người ở thành thị và lứa tuổi có tỷ lệ mắc nhiều nhất là từ 30 đến 39 tuổi. Điều tra huyết thanh
học tại Hàn Quốc trong năm 1994 và 1995 thấy đa phần bệnh nhân là đàn ông và đều ở lứa tuổi lao động
[161]. Tại Anh trong thời gian 1985 – 1989 bệnh nhân nhiễm vi rút Hanta được phát hiện cũng chiếm đa
phần là đàn ông [119].
Tại cộng hoà Lithuani các nhà khoa học đã phát hiện kháng thể kháng vi rút Hanta trên người lành
là 0,7% và trên bệnh nhân ung thư là 8,2%, ở bệnh nhân ung thư phát hiện thấy đối tượng ở lứa tuổi từ 6069 chiếm nhiều nhất. Trong khi tại Tây Ban Nha, Áo và cộng hòa Estonia lứa tuổi thường từ 45 đến 60 và
tỷ lệ nam, nữ bị nhiễm vi rút Hanta gần tương đương nhau (1/1). Nhưng một nghiên cứu tại cộng hòa
Latvia lại cho thấy tỷ lệ ngược lại (nam/nữ là 1/2,5). Các nước Tây Ban Nha, Đức, Estonia tỷ lệ nam, nữ
mắc bệnh cũng gần như tương đương trong khi ở Áo tỷ lệ nam cao hơn nữ giới [11], [153]. Tại Đức năm
2005 đã có vụ dịch xảy ra với 485 bệnh nhân, trong đó tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao so với nữ giới ứng
2,1/1, độ tuổi mắc bệnh trung bình là 42 tuổi [12]. Strady C và cộng sự đã nhấn mạnh nhóm tuổi có nguy


25

cơ cao nhiễm sốt xuất huyết với hội chứng thận từ 29 đến 50 tuổi và tập trung ở nhóm nghề nghiệp như
nông dân, công nhân lâm nghiệp, bộ đội [163].
4.3. Các yếu tố liên quan đến sự lây nhiễm vi rút Hanta tại cộng đồng
4.3.1.Điều kiện địa lý
Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển của các tỉnh phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên
vận tải biển rất phát triển, đồng thời Hải Phòng cũng là một trong những động lực tăng trưởng của vùng
kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 của Ban chấp hành Trung
ương đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020”, Hải Phòng lấy phát
triển kinh tế biển là chính. Toàn Thành phố đã phát triển nhiều khu công nghiệp, thương mại lớn và trung
tâm dịch vụ, du lịch, thủy sản, giáo dục và y tế, trong đó dịch vụ từ hệ thống cảng biển đóng vai trò hết sức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status