Nhu cầu giáo dục giới tính của học sinhtrường THCS tân dương, huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục con người phải đảm bảo phát triển cả về thể chất, trí tuệ và tinh
thần. Với thế hệ trẻ, người giáo viên không chỉ cung cấp những tri thức khoa
học đơn thuần mà còn giúp các em hiểu sâu hơn về chính bản thân mình. Đó là
việc trang bị cho các em những tri thức về đời sống tâm lí, về giới tính, về tình
dục để các em có ý thức hơn về những hành vi của mình. Với quan điểm này,
chúng ta có thể thấy được GDGT có vai trò hết sức quan trọng trong trường học.
Lứa tuổi HS THCS là thời kỳ đang phát triển về thể chất của con người
nên các em cần phải có sự hiểu biết về cơ thể mình, về khả năng thể lực, trí lực
và những xúc cảm để có đủ sự tự tin bước vào cuộc sống, thiết lập được mối
quan hệ xã hội lành mạnh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Hiện nay, dân số
Việt Nam đã gần 90 triệu người, trong đó, số người ở độ tuổi VTN và thanh niên
(từ 10 đến 29 tuổi) chiếm trên 40%. Đây là nguồn nhân lực chủ yếu trong tương
lai của đất nước. Nếu được quan tâm, chăm lo và chuẩn bị đầy đủ những kiến
thức cho cuộc sống tốt đẹp sau này, họ sẽ hoạt động tích cực cho sự phát phát
triển của xã hội.
Những thay đổi về kinh tế, xã hội đã kéo theo những hiện tượng yêu sớm,
quan hệ tình dục sớm, hay hiện tượng sống thử, nạo phá thai… của một bộ phận
thanh thiếu niên. Điều này đã rung lên hồi chuông báo động với những hậu quả
nặng nề mà nó gây ra không chỉ ở cá nhân, mà còn cho toàn xã hội. Chính vì
vậy, GDGT đã được quan tâm và đưa vào hệ thống trường học để trang bị cho
HS những kiến thức về giới tính, góp phần vào sự hình thành và phát triển nhân
cách HS. Tuy nhiên, HS đã tiếp nhận nó như thế nào, lựa chọn những nội dung,
hình thức và đối tượng tham gia vào công tác GDGT nào là thích hợp đối với
vấn đề nhạy cảm này vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi và đang làm các nhà
quản lý khó khăn trong việc tìm ra con đường GDGT phù hợp cho HS. Muốn
giải đáp những câu hỏi đó cần phải hiểu rõ NC GDGT của các em HS.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nhu
cầu giáo dục giới tính của học sinh Trường THCS Tân Dương, huyện Thủy
1

- Mức độ ưa thích GDGT của HS phụ thuộc vào nội dung, người dạy và
cách thức truyền đạt.
2


5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Trong khuôn khổ có hạn về thời gian và nguồn lực đề tài tập trung nghiên
cứu trong giới hạn phạm vi sau:
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng NC
GDGT của HS THCS thông qua nhận thức, hứng thú, mong muốn và sự say mê
của HS về môn GDGT.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng NC GDGT của HS trường
THCS Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
- Về thời gian: Từ tháng 11 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016
- Về số lượng khách thể: Đề tài tập trung khảo sát trên 155 HS trường
THCS Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, 15 giáo viên, cán
bộ quản lý.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1.Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Chúng tôi nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau về NC GDGT bằng
cách phân tích chúng thành từng bộ phận, từng tiêu chí để tìm hiểu sâu sắc về
đối tượng.
Đồng thời tổng hợp lại, liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được
phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng.
6.2.Phương pháp phỏng vấn sâu.
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để phỏng vấn sâu 1 số em HS, 15
giáo viên và cán bộ quản lý tại trường THCS Tân Dương. Thông qua phương
pháp này chúng tôi biết được cách nhìn chủ quan của các khách thể đối với vấn
đề xung quanh NC GDGT của HS, nhằm hiểu sâu sắc hơn và đầy đủ hơn để giải
quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.

-Phân tích, tổng hợp những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước xung quanh vấn đề NC, giới và giới tính, GDGT, NC GDGT.
-Xác định khái niệm công cụ cho đề tài và các khái niệm liên quan làm cơ
sở nghiên cứu thực tiễn.
6.5.Phương pháp thống kê toán học.
Dùng phương pháp thống kê toán học để phân tích và xử lý số liệu điều tra
nhằm thu thập thông tin phục vụ cho đề tài. Chúng tôi loại bỏ những phiếu chưa
4


đủ độ tin cậy, thống kê các kết quả nghiên cứu đạt độ tin cậy, sử dụng số liệu đã
xử lý để nhận định.
7. Cấu trúc đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng NC GDGT của HS trường THCS Tân Dương, Thủy
Nguyên, Hải Phòng.

5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu về GDGT ở nước ngoài
Từ xa xưa trong các nền văn minh nhân loại, giới tính đã được đề cập đến
thông qua hệ thống thần thoại hay qua các thảo luận về tình yêu như Kinh “Kam
sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “Bữa tiệc” của Platon.
Khi nhân loại bước vào “Đêm trường trung cổ”, việc tìm hiểu các vấn đề
tính dục cũng được quan tâm ít nhiều, nhưng chỉ để phục vụ cho sự ăn chơi của

người chú ý. Ông cho rằng, tổ chức tập thể là một phương pháp giáo dục cơ
bản và chính ông đã đề xuất nguyên tắc cơ bản về GDGT như là một mặt của
giáo dục đạo đức. Theo ông mục đích của việc GDGT là phải giáo dục con
cái chúng ta sao cho ở lứa tuổi trưởng thành chúng chỉ có được khoái lạc
trong cuộc sống tình dục bởi tình yêu, và chúng thực hiện khoái cảm của
mình, tình yêu của mình và hạnh phúc của mình ở trong gia đình. Nguyên tắc
này của Macarenko đã được tiếp thu và thể hiện trong lí luận và thực hành
giáo dục học của V.A.Xukhomlinxki trong các tác phẩm GDGT của ông, đã
coi GDGT là một bộ phận của giáo dục đạo đức, GDGT xem tình yêu như là
một phạm vi tế nhị nhất của nhân cách, sự can thiệp của người lớn vào nó
phải rất khéo léo và thận trọng, nó được hướng đến sự hình thành làm người
cha người mẹ, những cặp vợ chồng.
Ở Châu Âu, việc GDGT trong gia đình và trường học được tiến hành từ
rất sớm. Song từ những năm 60 của thế kỉ XX, GDGT mới được khẳng định và
nghiên cứu rộng rãi. Theo nghiên cứu của D.N.Ixaev, GDGT ở các nước Châu
Âu được tiến hành với các mức độ sau: 1/ Bắt buộc thực hiện GDGT trong tất cả
các trường phổ thông. 2/ Khuyến khích và hợp pháp hoá vấn đề GDGT nhưng
không bắt buộc, không mở rộng phạm vi cả nước. 3/ Đồng ý, tán thành đưa
GDGT vào nhà trường, nhưng không pháp về luật pháp. 4/ Không ngăn cấm
việc GDGT nhưng thực tế không phát triển.
Năm 1974, Hội nghị Quốc tế về tính dục ở Giơnevơ đã thảo luận đến sự
cần thiết phải đưa tình dục vào giảng dạy tại các cơ sở của ngành giáo dục và y
tế. Năm 1983, hội nghị GDGT ở Thụy Điển được thành lập. Trong những năm
1984-1986, nhiều hoạt động của UNESCO đã làm sáng tỏ yêu cầu về giáo dục
7


đời sống gia đình, đồng thời đã biên soạn nội dung chương trình và tài liệu giảng
dạy về giáo dục đời sống gia đình cho gia đình thực nghiệm (1988-1991). Tùy
theo phong tục tập quán và sự định hướng giá trị mà mỗi nước áp dụng một các

học. Tổ chức các lớp tập huấn cho một số cán bộ đoàn, cán bộ giáo viên, cán bộ
tuyên huấn các trường đại học và trung học chuyên nghiệp ở các tỉnh phía nam
tại THHCM về vấn về GDGT. Mọi người dự lớp tập huấn đều bày tỏ ý mong
muốn nhanh chóng đưa công tác GDGT vào nhà trường, để cung cấp cho thanh
niên, sinh viên những kiến thức về tình yêu, hôn nhân và gia đình, chuẩn bị cho
họ hành trang bước vào đời. Tuy nhiên GDGT vẫn chưa được xây dựng thành
một hệ thống khoa học như mọi người vẫn mong muốn.
Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục
gia đình và giới tính cho HS có kí hiệu VIE/80/P09 (do Trần Trọng Thuỷ
chủ nhiệm đề tài) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ giáo dục và đào tạo,
Viện khoa học giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài
trợ của UNFPA và UNESCO khu vực. Đề án đã tiến hành rất thận trọng và
khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm tình bạn,
tình yêu, hôn nhân và nhận thức về giới tính và GDGT của giáo viên, HS và
phụ huynh ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành GDGT cho HS
phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12.
Cuốn “GDGT ở nhà trường phổ thông cấp II” của Giáo sư Trần Trọng
Thuỷ (1993) đã chỉ ra kết quả một số vấn đề cơ bản của GDGT cho HS cấp II
và đề xuất việc đưa GDGT vào bậc tiểu học. Theo tác giả, nội dung GDGT là
được lồng ghép trong các môn cơ bản của tất cả các bậc học và trong một
chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập GDGT cho trẻ tiền học đường: “Các
em chưa đến tuổi đi học cần phải được giáo dục thái độ thiện ý tự nhiên với
bạn bè cùng giới, khác giới và có kĩ năng vui chơi thân ái với bạn”.
Tác giả Nguyễn Khắc Viện – người đã dày công nghiên cứu về trẻ em lứa
tuổi tiền học đường, cũng đã có nhiểu đóng góp đáng kể trong lĩnh vực GDGT
cho trẻ em. Theo ông: đến tuổi mẫu giáo, khi trẻ tò mò muốn biết về mọi thứ
xung quanh, chúng muốn biết về sự khác biệt của thế giới xung quanh, thù sự
khác biệt về giới tính cũng nằm trong tầm mắt của chúng. Vì vậy, GDGT có thể
bắt đầu từ khi trẻ có ý thức về bản thân mình và người khác.
9

với thời gian thực hiện 3 năm (2005-2008) trong cuốn “Tình dục – chuyện dễ
đùa khó nói” đã nêu ra những khái niệm, lí thuyết cơ bản như: tình dục là gì,
10


tình dục được kiến tạo như thế nào, trong nửa thế kỉ qua tình dục được quan
niệm ra sao…Các quan niệm về tình dục cũng được khai thác ở nhiều khía cạnh
thông qua việc thảo luận, bày tỏ ý kiến và nhiều câu chuyện sinh động có thật.
Nghiên cứu này đã cung cấp kiến thức về tình dục khá đầy đủ và rõ nét.
Một số luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về vấn đề GDGT cho HS, nhằm
tìm hiểu thực trạng về nhận thức, thái độ của HS với vấn đề GDGT từ đó đưa ra
một số biện pháp để đưa GDGT vào trong nhà trường một cách hệ thống, cũng như
nâng cao chất lượng của công tác GDGT cho HS.
Với đề tài nghiên cứu: “NC GDGT của HS trường THCS Tân Dương,
huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” chúng tôi tìm hiểu những NC của HS
THCS với môn GDGT ở nhà trường trung học cơ sở, với mong muốn đóng góp
một phần nào cho công tác GDGT nước ta hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Giới tính
Thuật ngữ “Giới tính” có nguồn gốc Latinh là Sectus (nghĩa là chia cắt)
thể hiện chính xác ý định phân chia loài ra làm hai. Khi nói đến giới tính là nói
đến những khác biệt được xác định về sinh học giữa nam và nữ.
Chúng tôi đồng ý với cách hiểu “Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ
về phương diện sinh học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu (kích thước, hình
dạng cơ thể…), đặc điểm sinh lý (hoạt động hoóc mon, chức năng của các bộ
phận…). Giới tính có các đặc trưng có bản sau đây:
- Tính bẩm sinh: về mặt sinh học, nam và nữ đã mang những đặc điểm
khác nhau (bộ phận sinh dục, hooc môn, nhiễm sắc thể) được xác định bởi tự
nhiên.
- Tính đồng nhất: nam giới hay nữ giới ở bất kỳ nơi nào, trong bất kỳ nền

nhất hoặc duy nhất. Trong nhiều bối cảnh văn hóa, một người được xếp loại là
phụ nữ hay đàn ông không chỉ dựa trên những đặc điểm về cơ thể, mà dựa trên
cơ sở của những dữ kiện văn hóa. Có thể thấy giới biến đổi nhiều, còn giới tính
hầu như không thay đổi, và một điều sai lầm là lấy sự khác biệt giới tính là
nguồn gốc duy nhất để giải thích cho sự khác biệt về giới và hợp lý hóa sự bất
bình đẳng dựa trên một căn cứ duy nhất là yếu tố sinh học.

12


1.2.2. GDGT
Mục đích giáo dục hiện nay là đào tạo con người phát triển toàn diện. Đó
chính là con người có nhân cách phát triển về mọi mặt: đạo đức, tài năng, trí tuệ,
có khả năng góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Những phẩm chất tốt đẹp của
nhân cách và sự đóng góp hiệu quả của con người đối với xã hội lại phụ thuộc
vào đời sống giới tính của họ. Vì vậy, việc con người hiểu được đời sống giới
tính của mình là vô cùng cần thiết trong sự phát triển bản thân.
Theo IU.I.Kusniruk và A.P.Serbakov: “Chính việc thiếu kiến thức về
những vấn đề này (giới tính) cũng giống như mọi tình trạng dốt nát khác, lại là
điều nguy hiểm và có phương hại đến tâm lý đạo đức con người”.
Gần đây việc nghiên cứu GDGT đã được xã hội quan tâm và ngày càng
được đánh giá đầy đủ, đúng đắn hơn.
Theo A.G.Khrivcova, D.V.Kolexev: “GDGT là một quá trình hướng vào
việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh
hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người
đối với người khác”.
Trong Bách khoa toàn thư y học phương tây (1984) A.V.Petrovxki đưa ra
định nghĩa về GDGT là: Hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo
dục cho thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên có thái độ đúng đắn với các vấn đề
giới tính.

hình thành những quan hệ giới tính phù hợp với những chuẩn mực xã hội,
chuẩn bị những kiến thức và kĩ năng cho cuộc sống tương lai.
Theo các nhà nghiên cứu, để con người phát triển toàn diện phải GDGT
càng sớm càng tốt, vì giới tính xuất hiện ở con người từ sớm. Tuy nhiên, lứa tuổi
VTN là lứa tuổi có nhiều biến động to lớn về cơ thể, đời sống tâm lý, là lứa tuổi
diễn ra quá trình chín muồi tính dục. GDGT trong thời kỳ này có tác dụng to lớn
trong cuộc sống của các em hiện tại cũng như sau này. V.G.Belinxki nhận xét
rằng: “Sự trong sạch về đạo đức hoàn toàn không phải là ở chỗ chẳng biết gì, mà
là ở chỗ giữ gìn được đức hạnh khi có sự am hiểu đầy đủ”.
1.2.3. Nhu cầu giáo dục giới tính
1.2.3.1. Nhu cầu
Bất cứ hoạt động nào cũng làm thỏa mãn một NC nhất định. NC là đối
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó các nhà tâm lý học
14


nghiên cứu khá nhiều. NC là thành phần đầu tiên trong xu hướng, song nó chi
phối mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói
riêng. Bởi vì để tồn tại và phát triển không ngừng, con người cần được thỏa
mãn những NC nhất định NC về ăn, mặc, ở, học tập, vui chơi và rất nhiều NC
khác nữa.
Từ điển tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên) định nghĩa: NC là trạng thái cá
nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và
phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân .
A.G.Kovaliop đã tiếp cận khái niệm NC với tư cách là NC của nhóm xã
hội: NC là sự đòi hỏi của các cá nhân và nhóm xã hội khác nhau, muốn có
những điều kiện để sống và tồn tại. Như vậy theo ông dù là NC của cá nhân hay
NC xã hội, nó vẫn là sự biểu lộ mối quan hệ tích cực của con người với hoàn
cảnh sống.
Có thể nói NC là nguyên nhân khởi đầu cho các hành động khác nhau của

NC cũng không bao giờ tự dập tắt mà chỉ có thể có NC này trội hơn, mang giá trị
cấp bách hơn NC kia ở thời điểm này hay khác - đó là một hệ thống được sắp xếp
theo trình tự nhất định. Trật tự này không phải cố định mà nó luôn biến đổi theo
mối quan hệ của người đó với hoàn cảnh. Đồng thời bản thân NC cũng thay đổi
theo yêu cầu của hoạt động và xã hội. Như vậy, trong NC ta thấy có sự thống nhất
giữa khách quan và chủ quan. NC hiểu biết về giới tính của con người luôn thay
đổi dựa trên bối cảnh xã hội. Trước đây, do những quan niệm xã hội còn khắt khe
với những vấn đề liên quan đến giới tính, tình dục. Bởi, đây là những vấn đề được
cho rằng là “xấu xa” và “cấm kỵ”, nên hầu như không được đề cập đến. Ngày nay,
một số giá trị và quan niệm truyền thống thay đổi, vấn đề về giới tính được cởi mở
hơn, vai trò của nó được khẳng định trong sự phát triển của cá nhân, vì vậy việc
học những tri thức về giới tính ngày càng trở nên cấp thiết.
NC bao giờ cũng có tính đối tượng, vì thế mà có thể phân biệt được các
loại NC. Khi gặp đối tượng nào đó có khả năng đáp ứng, NC trở thành động cơ
thúc đẩy con người hoạt động nhằm chiếm lĩnh đối tượng. Đối tượng của NC
càng được xác định cụ thể, ý nghĩa của NC đối với đời sống cá nhân, đời sống
xã hội càng được nhận thức sâu sắc thì NC càng được nhanh chóng nảy sinh,
củng cố và phát triển.
16


Mỗi NC đều có một nội dung cụ thể, tùy theo nó được thỏa mãn trong
những điều kiện cụ thể nào và bằng phương thức nào. Nội dung cụ thể của NC
còn phụ thuộc vào những điều kiện và phương thức thỏa mãn. Tính nội dung cụ
thể của NC thường có liên quan hoặc là một vật thể mà người ta cố gắng để có
được hoặc là với một hoạt động nào đó để làm cho người ta thỏa mãn.
NC có tính chu kỳ. Khi một NC nào đó được thỏa mãn, không có nghĩa là
NC đó chấm dứt mà nó tiếp tục tái diễn nếu người ta vẫn ở trong điều kiện và
phương thức sinh hoạt cũ. Sự tái diễn đó có tính chất chu kỳ. Tính chất chu kỳ
này là do sự thay đổi của tình trạng cơ thể và môi trường sống, điều kiện sống

phục vụ cho bản thân, và nếu không NC không được thoả mãn, các em sẽ
không có được những tri thức đó và có thể gây ra những hậu quả nặng nề.
Và như vậy, khi các em có NC GDGT thì NC này cần phải được đáp ứng để
thỏa mãn nguyện vọng của các em cũng như yêu cầu của xã hội và gia đình, để
mang lại cho các em HS cuộc sống tốt đẹp nhất.
- Đặc điểm NC GDGT của HS THCS
Đối tượng của NC GDGT của HS THCS chính là sự lĩnh hội các kiến
thức về giới tính, từ đó hình thành cho HS những thái độ và hành vi đúng đắn
trong cuộc sống. Khi đối tượng này được phát lộ ra ngoài, tức là trở thành NC
thực sự, thì lúc này nó trở thành động cơ thúc đẩy các em tích cực hoạt động để
thỏa mãn NC tìm hiểu kiến thức về giới tính của mình. Khi NC được thỏa mãn,
nó xuất hiện ở các em những cảm xúc dương tính, hình thành ở các em nhận
thức và thái độ cũng như hành vi đúng đắn về vấn đề giới tính.
Cũng như mọi NC khác, NC GDGT của HS THCS cũng có những
phương thức thoả mãn được thể hiện thông qua hoạt động học môn GDGT ở
trường và qua các kênh thông tin khác. Những hoạt động đó phải kể đến là: việc
tham gia học tập môn GDGT do nhà trường tổ chức, việc tìm kiếm những kiến
thức về giới tính qua mạng, sách báo, hỏi gia đình, hỏi bạn bè…Cho dù HS sử
dụng bất cứ phương thức nào thì cũng nhằm mục đích thoả mãn NC tìm hiểu
những kiến thức về giới tính của các em.
NC GDGT của HS khi được thoả mãn thì không có nghĩa là nó chấm dứt,
mà chính sự thoả mãn đó trở thành tiền đề để HS tiếp tục hoạt động thoả mãn
NC GDGT của mình. Tức là, ở các em HS nảy sinh NC mới thể hiện ở việc các
18


em có NC tìm hiểu sâu hơn về những tri thức trong môn GDGT, để nhằm phát
triển bản thân phù hợp với sự phát triển và thay đổi của xã hội.
NC GDGT của HS THCS là kết quả hoạt động tích cực của HS nhằm
chếm lĩnh những tri thức về giới tính và HS ý thức được vai trò của nó đối với

tượng của NC. Khi ở HS xuất hiện lòng say mê với môn GDGT thì sẽ kích
thích các em thực hiện những hoạt động để thoả mãn NC của mình. Trong đề
tài nghiờn cứu, NC GDGT của HS THCS thì lòng say mê thể hiện ở việc các em HS
thực sự yêu thích và có ham muốn được tìm hiểu tri thức về giới tính bằng các cách
thức khác nhau như: học trên lớp, thảo luận với bạn bè, hỏi cha mẹ, tìm kiếm trong
sách vở, trên internet… và HS say sưa tìm kiếm tri thức về giới tính để thoả mãn NC
của mình.
3- Lòng đam mê: Đây là NC ở mức rất cao, vượt ngưỡng làm cho con
người u mê mất đi sự sáng suốt. Sự đam mê trong môn GDGT của HS THCS
thể hiện ở việc các em đầu tư toàn bộ thời gian và tâm trí để tìm hiểu tri thức về
giới tính, hầu như các em lãng quên đi các hoạt động khác. Hoạt động tìm kiếm
kiến thức về giới tính của HS lúc này mất ý thức và có thể dẫn tới những hành vi
lệch lạc về giới tính.
Ngoài ra NC còn biểu hiện ở mức độ cao, thấp khác nhau:
- Mức độ thấp: Chủ thể đã nhận thức được đối tượng của NC, tìm thấy
được ý nghĩa của mục đích hành động của mình mang lại. Lúc này NC đã chưa
đủ mạnh để thúc đẩy con người hoạt động. Với các em HS THCS, NC GDGT ở
mức độ này thể hiện ở việc các em đã hiểu được những nội dung GDGT mà
mình cần học, thấy được lợi ích cần thiết từ việc học môn GDGT mang lại.
- Mức độ cao: Chủ thể nhận thức rõ được sự sẵn sàng hành động theo
một phương hướng xác định và kết quả do hành động của mình mang lại.
Lúc này NC đã đủ mạnh trở thành nội lực thúc đẩy con người hoạt động.
NC GDGT ở mức độ này của HS thể hiện ở việc HS đã biết được mình cần
phải thoả mãn NC GDGT bằng phương thức nào và sẵn sàng hành động
thông qua một số biểu hiện như: tích cực tham gia học môn GDGT ở
trường, tìm kiếm thêm những nguồn thông tin bên ngoài để nâng cao sự
hiểu biết của mình về giới tính.
- Mối quan hệ của NC với nhận thức, hứng thú và hoạt động
20


NC, chúng ta phải gắn nó với các hoạt động cụ thể. Mối quan hệ giữa NC và
21


hoạt động được A.N.Leonchiep thể hiện qua sơ đồ: Hoạt động – NC – Hoạt
động. Thoạt đầu, NC chỉ xuất hiện như là một điều kiện, một tiền đề cho hoạt
động. Ngay khi có hoạt động thì lập tức xảy ra quá trình biến hoá của NC. Như
vây, hoạt động thúc đẩy NC hình thành và phát triển, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ
xã hội. Đến lượt mình, NC lại phát huy tính tích cực hoạt động nhằm thoả mãn
NC. Lúc đó, NC đóng vai trò là yếu tố thúc đẩy hoạt động. Trong luận văn,
hoạt động học môn GDGT của HS biểu hiện ở hành vi tham gia học môn
GDGT ở trường và tìm hiểu kiến thức về giới tính qua phương tiện truyền
thông, mà cụ thể ở đây là internet. Qua đó, chúng tôi xem xét sự tích cực hay
không tích cực trong hoạt động học môn GDGT của các em. Chúng tôi phân
tích cụ thể ở phần thực trạng (chương 2).
Tóm lại, NC xuất phát từ những hành động thực tiễn của con người trong
cuộc sống. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành nhân cách con
người là phải giáo dục có cơ sở sư phạm các NC cho mọi người. Việc đáp ứng
NC GDGT cho các em HS là rất cần thiết, vì GDGT không chỉ liên quan đến
vấn đề sinh lý, thể chất mà liên quan đến những phẩm chất của các em, giúp các
em biết cách học làm người để cuộc sống ngày càng có ý nghĩa hơn.
1.2.4. Nội dung giáo dục giới tính
GDGT là rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển nhân cách
con người. Vì vậy, nội dung giáo dục GDGT trước hết phải phục vụ mục đích
giáo dục chung, phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển toàn diện nhân cách.
I.X.Kon khẳng định rằng: “Dù xác định mối tương quan giữa GDGT và giáo
dưỡng giới tính như thế nào đi chăng nữa thì cả hai thứ đó đều phải tuân theo
mục đích chung của giáo dục”.
Cho nên, việc lựa chọn và xác định nội dung GDGT phải rất thận trọng,
phù hợp để có thể đạt được hiệu quả cao, nhằm đem lại cho HS đầy đủ kiến thức

cuộc sống gia đình, cách xây dựng một gia đình hạnh phúc.
Như vậy, những nội dung GDGT theo tác giả là rất rộng lớn, bao gồm
nhiều vấn đề khác nhau. Những nội dung này sẽ được lựa chọn giảng dạy cho
phù hợp với từng lứa tuổi, trong đó đặc biệt thận trọng khi xác định chương
trình và nội dung giảng dạy những chủ đề có “tính nhạy cảm” như: tình dục, tình
23


yêu…Ngoài ra còn phải tính đến dư luận của phụ huynh, xã hội ở từng vùng
miền khác nhau.
Với mỗi thời kỳ lứa tuổi, có đặc điểm tâm sinh lí đặc trưng cho từng lứa tuổi
đó, việc GDGT cũng cần phải dựa trên cơ sở này để xây dựng chương trình, nội
dung cho phù hợp. Có như vậy mới góp phần thực hiện tốt hoạt động giáo dục này,
cũng như thực hiện tốt mục đích giáo dục là đào tạo con người toàn diện.
Việc xây dựng nội dung GDGT theo chương trình giáo dục phổ thông đã
được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu thống
nhất rằng cần có chương trình GDGT theo từng lứa tuổi, từng cấp học, đặc biệt
nhấn mạnh GDGT cho VTN.
Năm 1990, chương trình Quốc gia nghiên cứu về GDGT và đời sống gia
đình đã xây dựng chương trình GDGT cho HS từ lớp 6-9 với nội dung cụ thể
như sau:
- Lớp 6-7: Các em HS (đặc biệt là các em nữ) có thể bước vào giai đoạn
tuổi dậy thì. Với lứa tuổi này, các em muốn thể hiện cái tôi của mình nhiều hơn.
Do vậy các em sẽ có chính kiến riêng, hành vi, lối sống cũng sẽ thay đổi. Có em
vẫn hoàn toàn nghe theo sự chỉ dạy của cha mẹ và thầy cô nhưng cũng có em
muốn tự làm theo ý mình mặc dù những ý đó chưa chắc đã đúng. Vì vậy, môn
GDGT cần cung cấp kiến thức về giới tính để các em giải tỏa được những lo
lắng trước những biến đổi đầu tiên của cơ thể. Cụ thể:
+ Giáo dục về tuổi dậy thì.
+ Những biến đổi tâm sinh lý tuổi dậy thì.

+ Cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục nam
+ Cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục nữ
+ Sự thụ thai và phát triển thai
+ Cách bảo vệ sức khỏe sinh sản.
+ Phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
+ Gia đình
+ Các mối quan hệ gia đình
Việc thực hiện giảng dạy những nội dung trên tiến hành theo các hướng:
Lồng ghép (tích hợp) vào các môn học khác có liên quan (sinh học, giáo dục
công dân, địa lý…); Giảng dạy theo tiết học riêng; Tổ chức các buổi học ngoại
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status