Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội và môi trường của dự án quy hoạch kinh tế -xã hội tại huyện thuỷ nguyên-thành phố Hải Phòng - Pdf 25

Chuyên đề tốt nghiệp

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Thuỷ Nguyên là một huyện đồng bằng ven biển thuộc thành phố Hải
Phòng nhưng ở vào vị trí chuyển tiếp của hai vùng địa lý tự nhiên lớn là
ĐBSH và vùng đồi núi Đông Bắc. Huyện có diện tích tự nhiên 24.2712 ha.
Thuỷ Nguyên có nhiều điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận
lợi, đặc biệt là vị trí đặc biệt gần cảng Hải Phòng và vùng than Quảng Ninh,
trong tam giác tăng trưởng và các cảng biển lớn cửa xuất-nhập khẩu hàng hoá
quan trọng của toàn toàn vùng Đông Bắc.
Có nhiều khả năng thuận lợi để phát triển kinh tế, nhưng tính đến năm
1996 nền kinh tế Thuỷ Nguyên còn mang nhiều tính thuần nông, tăng trưởng
kinh tế hàng năm còn thấp và đời sống nhân dân còn chưa cao, GDP/người
mới đạt 1.924.000 đ/năm.
Thực hiện nghị quyết của thành uỷ và UBND thành phố Hải Phòng về việc
triển khai xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội các huyện thị đến năm
2010 (sau khi quy hoạch tổng thế phát triển kinh tế- xã hội thành phố đã được
thủ tướng chính phủ phê duyệt), năm 1996 UBND huyện Thuỷ Nguyên phối
hợp với trung tâm nghiên cứu và phát triển vùng xây dựng “ Quy hoạch phát
triển kinh tế-xã hội huyện Thuỷ Nguyên thời kỳ 1996-2010 ”. Bản quy hoạch
được được thành phồ Hải Phòng phê duyệt và đưa vào thực hiện năm 1998 và
năm 2003 đã được rà soát, điều chỉnh lại. Tính đến năm 2003, sau 5 năm thực
hiện huyện Thuỷ Nguyên đã thu được một số thành tựu đáng kể về kinh tế-xã
hội. Nền kinh tế đã tăng trưởng cao hơn, đời sống nhân dân cũng được cải
thiện hơn, lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã có sự
phát triển mạnh hơn.
Trong quy hoạch đã đưa ra những phương án phát triển cụ thể cho từng
ngành, từng lĩnh vực và cũng có quan tâm đến vấn đề môi trường. Tuy nhiên
1
Chuyên đề tốt nghiệp

Chuyên đề tốt nghiệp

- Những hiệu quả kinh tế-xã hội do thực hiện theo quy hoạch kinh tế-xã hội
mang lại tại huyện Thuỷ Nguyên trong giai đoạn 1998-2003.
- Những tác động môi trường do thực hiện theo quy hoạch kinh tế-xã hội tại
huyện Thuỷ Nguyên trong giai đoạn 1998-2003.
- Dự báo những tác động môi trường có thể có do thực hiện theo quy
hoạch kinh tế-xã hội tại huyện
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Đề tài “ Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội và môi trường của quy hoạch
kinh tế-xã hội huyện Thuỷ Nguyên-thành phố Hải Phòng” có mục tiêu nh
sau:
- Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường và dự báo một số tác động
môi trường do thực hiện theo quy hoạch kinh tế-xã hội của huyện Thuỷ
Nguyên.
- Đề xuất hướng khắc phục nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho huyện
Thuỷ Nguyên.
- Thuỷ Nguyên trong giai đoạn 2003-2010.
4. Giới thiệu về kết cấu chuyên đề.
Chuyên đề gồm 3 chương :
Chương I: Cơ sở lý luận về quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội, môi
trường và phát triển bền vững
Chương iI: Mô hình quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội huyện thuỷ nguyên
thành phố hải phòng giai đoạn 1996-2010 và rà soát điều chỉnh năm 2003.
CHƯƠNG III: đáng giá hiệu quả kinh tế - xã hội và mội trường của quy
hoạch kinh tế xã hội của huyện thuỷ nguyên.
3
Chuyên đề tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN

Chương I
Cơ sở lý luận về quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội và quy hoạch môi
trường
I. Giới thiệu về quy hoạch kinh tế-xã hội.
1.1. Những nhận định tổng quát về quy hoạch kinh tế-xã hội.
Thời gian gần đây, trong quá trình đổi mới công tác quản lý đất nước dưới
sự lãnh đạo của Đảng ta, công tác quy hoạch kinh tế-xã hội ngày càng được
chú trọng và ngày càng giữ vị trí quan trọng.
Chóng ta đã làm công tác quy hoạch trong quá trình chuyển đổi nền kinh
tế sang cơ chế thị trường có sự điều tiết ở tầm vĩ mô theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đây là vấn đề mới trên thế giới chưa có tiền lệ, vì vấn đề này mang
màu sắc rất Việt Nam. Vì vậy, rất cần khách quan, thực sự cầu thị, học tập
kinh nghiệm của các nước đã được tích luỹ trên lĩnh vực này. Mặt khác rất
cần sáng tạo để tìm ra cách làm phù hợp với nước ta.
Cách làm quy hoạch của các nước có cơ chế thị trường phát triển đặt ra
mục tiêu chủ yếu là tạo nên môi trường quản lý, môi trường xã hội để cho thị
trường tự do phát triển trển cơ sở động lực là tự do cạnh tranh. Cách làm quy
hoạch này không đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa theo đường lối của đảng ta. Vấn đề quy hoạch kinh tế-xã hội đối
với chúng ta còn khá mới mẻ, nhiều điều đang cần được nghiên cứu bổ sung
và hoàn thiện.
Quy hoạch kinh tế-xã hội được định nghĩa là văn bản nhà nước cụ thể hoá
các mục tiêu và định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của một vùng,
một địa phương dựa trên cơ sở phân tính, đánh giá sâu sắc hiện trạng và dự
báo phát triển trong tương lai. Văn bản quy hoạch xây dựng các kịch bản tăng
trưởng, xác định các trọng điểm tập trung nỗ lực, đề ra các giải pháp chủ yếu
để thực hiện mục tiêu.
6
Chuyên đề tốt nghiệp


- Quy hoạch cần thiết để đảm bảo cân đối, hài hoà, nhịp nhàng giữa các
ngành, các địa phương.
- Quy hoạch cần thiết để đảm bảo an toàn, chủ động cho các ngành, các
cấp trong triển khai các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của mình.
- Thiên chức của các nhà lãnh đạo và quản lý nhà nước là xây dựng và
quản lý thực thi quy hoạch tổng thể.
1.3. Nội dung của quy hoạch kinh tế-xã hội.
+ Phân tích hiện trạng. Đánh giá các nguồn lực phát triển. Xác định các
tiền đề.
Các nhóm vấn đề cần được phân tích đánh giá gồm:
- Tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, khí hậu, sinh vât, sinh thái.
- Tài nguyên lao động, nhân lực: số lượng, cơ cấu, trình độ.
- Các hoạt động kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ.
- Xã hội, nhân văn: truyền thống, tay nghề, tập quán, lịch sử.
- Vị trí địa lý, các mối quan hệ liên vùng, liên địa phương.
Các tiền đề cần xác định gồm:
- Các đường lối, chiến lược phát triển chung của Đảng lãnh đạo, của nhà
nước đối với các vùng.
- Các dự báo phát triển về kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ trong
tương lai.
+ Xây dùng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội
Để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cần :
- Cân nhắc, phân tích sâu sắc trên cơ sở khoa học và thực tiễn để xây
dựng các quan điểm phát triển.
- Xác định các mục tiêu chung cần đạt đến cuối kỳ quy hoạch, đó là :
8
Chuyên đề tốt nghiệp

Mục tiêu sản xuất.
Mục tiêu đời sống.

trường .
Ở Việt Nam , luận bảo vệ môi trường năm 1993 có quy định “ Nhà nước
thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước , lập quy hoạch
bảo vệ môi trường , xây dựng tiềm lực cho hoạt động bảo vệ môi ttường ở
trung ương và địa phương . Nhà nước có chính sách đầu tư , khuyến khích và
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư
dưới nhiều hình thức , áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào bảo vệ môi
trường. Để đạt mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững , việc nhất
thể hoá quy hoạch môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là điều
cần thiết. Quy hoạch môi trường là sự cố gắng nhằm làm cân bằng và hài hoà
các hoạt động phát triển mà con người vì lợi Ých của mình đã áp đặt quá mức
lên môi trường tự nhiên. Đặc biệt là với việc công nghiệp hoá, không chỉ có
tài nguyên môi trường bị khai thác liên tục mà chính bản thân môi trường đã
trở thành một thùng đựng mọi loại chất thải công nghiệp , dẫn đến những tổn
thất nghiêm trọng mà thường là không sửa chữa được .
Sự cần thiết phải khôi phục lại mối quan hệ tôn trọng và phụ thuộc lẫn
nhau, đòi hỏi phải có các biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ môi trường .Quy
hoạch môi trường cung cấp một cơ hội để vạch ra các biện pháp này, ngay từ
giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển. Vấn đề quy hoạch môi trường tuy
ra đời muộn nhưng lại được quan tâm và phát triển rất mạnh trong đó có các
nước Châu á ( Nhật Bản, Trung Quốc ). Một số tổ chức quốc tế nh ngân hàng
Châu á ( ADB) , ngân hàng thế giới ( WB) đã ban hành nhiều tài liệu giới
thiệu về quy hoạch môi trường ở một số nước .
Quy hoạch môi trường được hiểu là quá trình sử dụng có hệ thống các kiến
thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp trong sử dụng hợp lý
tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm định hướng các hoạt động phát triển
trong khu vực đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững .
10
Chuyên đề tốt nghiệp



đựng của tự nhiên. Đồng thời thông quy tiến bộ của khoa học kỹ thuật và
quản lý nghiêm ngặt mà nâng cao giới hạn đó.
- Phát triển cần phải bền vững. Không những thoả mãn nhu cầu hiện tại
mà còn phải để lại cho thế hệ tương lai một cơ sở tài nguyên, môi trường tốt
đẹp để họ có thể dựa vào đó mà thoả mãn nhu cầu của mình.
Toàn bộ hiệu quả của hệ thống khu vực là sự kết hợp tối ưu hiệu quả của
cả 3 hệ thống kinh tế-xã hội-tự nhiên. Thực thi chiến lược phát triển bền vững
là đảm bảo thu được hiệu quả của toàn hệ thống.
Chỉ có chiến lược phát triển bền vững mới có thể đảm bảo phát triển nhịp
nhàng của 3 hệ thống con: tự nhiên, xã hội, kinh tế đảm bảo toàn hệ thống
khu vực thực hiện sự vận hành tuần hoàn lành mạnh.
Sự cần thiết phải khôi phục lại quan hệ tôn trọng và phụ thuộc lẫn nhau
giữa con người và tự nhiên đòi hỏi phải có biện pháp hợp lý có tính khả thi về
quản lý môi trường. Quy hoạch kinh tế-xã hội bên cạnh những mục tiêu về
kinh tế-xã hội mặc dù có đề cập đến các mục tiêu về môi trường, nhưng sự
bảo vệ môi trường chỉ được thực hiện sau khi đã diễn ra các hoạt động phát
triển kinh tế-xã hội và trong quá trình phát triển các mục tiêu về môi trường
thường bị hy sinh cho các hoạt động kinh tế. Chính vì vậy sự phát triển bền
vững thường không được đảm bảo nhất là đối với các nước đang phát triển
khi mà đời sống còn nhiều khó khăn, nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu
thường có tư tưởng phát triển kinh tế-xã hội trước đã rồi mới có điều kiện để
bảo vệ môi trường. Chính sự phát triển một cách không bền vững nh vậy đã
làm cho môi trường ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng và lại quay trở tác
động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế. Để đạt được sự phát triển bền vững
một cách lâu dài cần phải thực hiện một cách kết hợp giữa phát triển kinh tế-
xã hội và vấn đề bảo vệ môi trường. Quy hoạch môi trường chính là công cụ
quan trọng trong quản lý môi trường và phải thực hiện từ giai đoạn đầu của
quá trình phát triển để đảm bảo sự phát triển bền vững. Việc thống nhất quy
12

nguồn lao động .
1.1.1. Vị trí địa lý và địa hình.
Thuỷ Nguyên ở phía bắc thành phố Hải Phòng, có giới hạn địa lý từ
20
0
52' đến 21
0
01 vĩ độ bắc và 106
0
31' đến 106
0
46' kinh độ đông. Thuỷ
Nguyên là một huyện ven biển của thành phố Hải Phòng thuộc vùng châu thổ
sông Hồng, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây giáp tỉnh Hải Dương,
phía nam giáp quận Hồng Bàng, quận Ngô Quyền và huyện An Dương, phía
đông tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ.
14
Chuyên đề tốt nghiệp

Thuỷ Nguyên được bao bọc 4 mặt bởi sông và biển: phía bắc và tây bắc là
sông Kinh Thày, Phía nam và tây nam giáp sông Cấm, phía đông là vùng của
sông Bạch Đằng.
Thuỷ Nguyên nằm ở vị trí tiếp giáp giữa 2 vùng địa lý tự nhiên lớn: vùng
ĐBSH và vùng đồi núi Đông Bắc. Huyện có vị trí địa lý rất thuận lợi, là cầu
nối giữa Thành Phố Hải Phòng với vùng than Quảng Ninh. Trung tâm huyện
chỉ cách nội thành Hải Phòng khoảng 8,5 km, giao thông thuỷ, bộ phát triển
huyện lại nằm trên một số trục giao thông bộ, thuỷ quan trọng có ý nghĩa liên
vùng, trục đường số 10 nối giữa vùng đồng bằng sông Hồng và vùng mỏ than
Quảng Ninh. Từ Thuỷ Nguyên có thể toả đi các tỉnh đồng bằng sông Hồng,
các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, các tỉnh phía Nam ra Quảng Ninh đi

Vào mùa đông các sông ở đây nguồn nước thường bị nhiễm mặn, nguồn nước
ngọt chủ yếu dựa vào sông Giá, kênh Hòn Ngọc và các ao, hồ, đầm, ruộng
trũng.
1.1.3. Tài nguyên đất và nước.
Trong tổng số 24.272 ha đất tự nhiên của huyện có các loại sau:
+ 13.820 ha đất nông nghiệp, trong đó mới sử dụng 13.225 ha, còn 595
ha chưa sử dụng. Hệ số sử dụng đất trồng mới chỉ đạt khoảng 1,8 lần, có thể
nâng lên trên 2 lần. Diện tích vườn 1562 ha nhưng hiện còn trồng nhiều cây
kém giá trị kinh tế.
+ Diện tích gò đồi, núi đất còn khoảng 1.535 ha chiếm 6,3% diện tích tự
nhiên, mới trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả 615 ha, còn 920 ha chưa sử dụng.
+ Vùng núi đá vôi còn có các thung lũng bằng, giầu canxi rất thích hợp
với cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và
để thả bò, dê, hiện nay một số hộ nông dân đã tận dụng diện tích này để sản
xuất nông nghiệp đạt kết quả nhưng còn thấp.
+ Đất xây dựng cơ bản phát triển công nghiệp và đô thị mới cũng còn
khá.
16
Chuyên đề tốt nghiệp

Về tài nguyên nước , nguồn nước mặt chủ yếu dựa vào các sông Kinh
Thày, sông Hàn, sông Giá, sông Bạch Đằng và các ao, hồ, đầm, ruộng trũng.
Theo điều tra đánh giá thì Thuỷ Nguyên là một huyện có nguồn nước ngầm
khá. Tài nguyên nước của Thuỷ Nguyên đủ cung cấp cho sản xuất và đời sống
của nhân dân trong huyện, nhưng cần có quy hoạch bảo vệ nguồn nước để sử
dụng lâu dài.
1.1.4. Tài nguyên khoáng sản.
Khoáng sản kim loại tuy có, nhưng trữ lượng rất nhỏ, không có ý nghĩa
công nghiệp, khoáng sản phi kim loại có ý nghĩa công nghiệp là đá vôi sản
xuất xi măng, đá làm vật liệu xây dựng thì có trữ lượng lớn phân bố nh sau.

4 Đất sét 3 Lưu Kiến
Nguồn: niên gián thống kê Thuỷ Nguyên 1996
1.1.5. Tài nguyên du lịch và nhân văn.
Thuỷ Nguyên có tiềm năng vào loại khá để phát triển du lịch so với nhiều
huyện đồng bằng nhưng chưa được khai thác để phát triể kinh tế. Đó là cảnh
quan du lịch hồ sông Giá, một cảnh quan du lịch hấp dẫn với phong cảnh sơn
thuỷ đẹp, hộ dựa vào núi đá hướng ra biển, mặt nước hồ phẳng lặng trong
xanh, sạch sẽ. Với dãy núi đá vôi với nhiều hình thù kì dị gợi mở sự liên
tưởng về những chiến công xa xưa của ông cha ta chống giặc ngoại xâm thời
Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo trên sông Bạch Đằng là nơi du lịch về cội
nguồn hấp dẫn. Ngoài ra ở Thuỷ Nguyên loại hình du lịch nhân văn cũng rất
phong phú, nhiều chùa, đền thờ, miếu, đình, di tích lịch sử, nhiều bia, ký, trúc,
tháp với những kiểu kiến trúc độc đáo của người Việt, là tiềm năng du lịch,
nghiên cứu khoa học, nghệ thuật, khảo cổ, kiến trúc không phải nơi nào
cũng có. Trong đó tiểu biểu nhất là di tích Chùa Phù Lưu, chùa Hàm Long,
chùa Mỹ Cụ, chùa
Đảng Trung, đền thờ Trần Quốc Bảo Ngoài ra dải ven biển cũng có nhiều
điểm du lịch nghỉ mát đẹp. Thuỷ Nguyên còn có nhiều lễ hội truyền thống
được tổ chức hàng năm.
1.1.6. Hiện trạng dân số và nguồn lao động.
Hiện trạng về bức tranh phát triển dân số và nguồn lao động
tt Chỉ tiêu 1990 1996
Số
người
% so với
tổng số
dân
Số người % so với
tổng số
dân

49,08
50,92
4 Cơ cấu dân số theo cấp tuổi
0-9
10-15
16-25
26-35
36-45
45-54
55-60
>60
67.813
24.382
43.063
43.040
12.331
21.498
8.454
19.504
28,25
10,16
17,94
17,93
5,14
8,96
3,52
8,10
79.115
30.239
49.594

hiện có 50 dân số trong tuổi lao động trong đó chiếm 47% dân số là những
người có khả năng lao động cần bố trí việc làm. Đây là tiềm lực để phát triển
kinh tế, đồng thời cũng là sức Ðp về giải quyết việc làm gay gắt. Trong đó, số
người trong độ tuổi 16-25 chiếm 18,01% dân số, là lực lượng cần phải giải
quyết vấn đề việc làm cấp thiết nhất.
19
Chuyên đề tốt nghiệp

1.2. Thực trạng phát triển kinh tế – xã hội.
1.2.1. Thực trạng phát triển của các ngành kinh tế.
a. Thực trạng phát triển nông nghiệp (nông-lâm-ngư nghiệp).
+ Trồng trọt.
Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp có nhiều tiến bộ, chuyển đổi theo hướng
giảm dần diện tích lúa úng trũng, cấy cưỡng, năng suất thấp, đầu tư tốn kém
sang nuôi trồng thuỷ sản có kết hợp với cây lúa vụ đông xuân nâng hiệu quả
rõ rệt đã được hình thành ở một số xã như Phục Lễ, Lập Lễ, Phả Lễ Diện
tích cây lương thực giảm dần theo hướng giảm diện tích đất xấu, nhiễm chua
mặn, đẩy mạnh thâm canh nên năng suất cây lương thực tăng không ngừng từ
29,13 T/ha/vụ lên 41 T/ha/vụ 1996 và sản lượng lương thực từ 50.738 tấn
năm 1991 lên 74000 tấn năm 1996 trong khi diện tích giảm từ 10500 ha
xuống 10190 ha.
Bên cạnh đó diện tích vườn tạp kém giá trị kinh tế đang được thay thế dần
bằng những cây ăn quả có giá trị kinh tế để nâng cao hiệu quả. Diện tích cây
thực phẩm tập trung và phân tán tăng khá, đảm bảo khối lượng rau xanh hàng
hoá đáng kể đáp ứng nhu cầu thị trường nội huyện và thành phố, tăng lên
không ngừng ( từ 8000 tấn 1991 lên 18600 tấn 1996).
Năng suất cây trồng chủ yếu tăng đáng kể, các tiến bộ về giống, chế độ
canh tác và tưới nước không ngừng đổi mới. Đến nay nhiều giống lúa, ngô
mới, có năng suất cao được đưa vào ở hầu hết các xã năng suất lúa tăng bình
quân mỗi năm 22%.

40,1% tiềm năng hiện có để trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả, còn 920 ha còn bỏ
trồng.
b. Thực trạng phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Những xí nghiệp có quy mô lớn
tt Tên nhà máy Diện
tích
Lao
động
Công
suất
Sản phẩm chủ
yếu
21
Chuyên đề tốt nghiệp

chiếm
đất (ha)
hiện có
(người
)
1 Nhà máy xi măng Chinh
Phong(Minh Đức)
300 400 1400000
T/năm
Xi măng mác
P300-4000
2 Nhà máy sửa chữa tàu
biển Nam Triệu
10 289 120
c/năm

Nguồn : niên gián thống kê Thuỷ Nguyên 1996
Tính đến năm 1996 trên địa bàn huyện có 16 xí nghiệp nhưng quy mô rất
khác nhau. Các xí nghiệp của trung ương và thành phố thì có quy mô lớn
trong khi các xí nghiệp của huyện thì rất nhỏ bé.
Công nghiệp của trung ương, thành phố và liên doanh gồm xi măng Chinh
Phong, đât đèn Tràng Kềnh, bột nhẹ Minh Đức, sữa chữa tàu biển Phà Rừng,
tập trung ở Minh Đức. Còn xí nghiệp của huyện tập trung ở khu vực thị trấn
Núi Đèo với các ngành vật liệu xây dựng, chế biến gỗ, cơ khí sữa chữa, sản
xuất công cụ phục vụ nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải , đóng mới,
sữa chữa thuyền phục vụ nghề cá, chế biến lương thực, thực phẩm Còn có
công ty trách nhiệm hữu hạn, các HTX và tổ hợp sản xuất công nghiệp, tư
nhân với 393 hộ chuyên gồm các nghề đúc, rèn, mộc, gốm sứ
c. Thương mại, dịch vụ tổng hợp và du lịch.
22
Chuyên đề tốt nghiệp

Các ngành thương mại và dịch vụ tổng hợp đã có sự phát triển.
Thương
nghiệp quốc doanh đã đổi mới sắp xếp lại cho phù hợp với cơ chế thị trường,
bước đầu kinh doanh có hiệu quả. Chủ động nắm bắt nguồn hàng tham gia
tích cực điều tiêt quan hệ cung cầu, nên giá cả hàng hoá Ýt biến động, góp
phần thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển. Mạng lưới thương mại (mua hàng
nông sản, bán hàng công nghệ phẩm, vật liệu, nguyên liệu, chât đốt cho nhân
dân) hình thành tương đối hợp lý, thuận tiện. Hoạt động thương mại đã linh
hoạt hơn, không nhưng trong thị trường nội huyền mà đã có sự vươn ra thị
trường trong thành phố và các tỉnh trong vùng.
Dịch vụ tổng hợp phát triển khá đến tận xã, tập trung vào các lĩnh vực
buôn bán nhỏ, dịch vụ ăn uống, sữa chữa và dụng cụ gia đình, dịch vụ vận
tải… ngoài 10 tổ hợp chuyên thương mại và dịch vụ tổng hợp còn có khoảng
1.753 hộ tư nhân cá thể làm thương mại dịch vụ tổng hợp.

1.2.3. Thực trạng giáo dục-đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội.
Về giáo dục-đào tạo: toàn huyện có 26 nhà trẻ, 35 lớp mẫu giáo, 36
trường tiểu học, 36 trường phổ thông và 4 trường phổ thông trung học.
Toàn huyện có 537 người có trình độ từ trung cấp trở lên và khoảng gần
1000 công nhân kĩ thuật, chưa kể số cán bộ và công nhân của các xí nghiệp
của trung ương và thành phố đóng trên địa bàn. Tính trung bình cứ 1000 dân
thì có 225,8 người đi học và khoảng 6,0% số người được đào tạo. Tuy vậy, so
với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội thì còn rất thấp và chưa đủ đáp ứng yêu
cầu.
Về y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân: trên toàn huyện hiện có 1 bệnh
viện, 4 phòng khám đa khoa khu vực và 36 trạm y tế, trong đó có 24 trạm
được xây dựng khang trang kiên cố. Bệnh viện huyện có 200 giường bệnh có
đủ bác sĩ đa khoa và chuyên khoa, còn trạm y tế xã mới có 2 bác sĩ đa khoa.
Chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe về cơ bản đảm bảo được
24
Chuyên đề tốt nghiệp

nhu cầu, điều trị được bệnh thông thường cho nhân dân và ngăn ngừa được
dịch bệnh.
Về thông tinh, văn hoá, xã hội: huyện có đài phát thanh sóng ngắn và tiếp
hình đặt tại thị trấn Núi Đèo là trung tâm huyện và có 36 trạm truyền thanh
xã.
1.2.4. Việc làm và đời sống của nhân dân trong huyện.
Thực trạng tình hình việc làm năm 1996
1996
Nguời %so với lđ
cầnviệclàm
%sovới lđ
đang làmviệc
Nhân khẩu trong độ tuổi lao động

khoảng 10%. Cho đến năm 1996 về cơ bản huyện đã tự đảm bảo được nhu
cầu lương thực thực phẩm nh rau xanh, thịt cá các loại của nhân dân trong
25

Trích đoạn Ngành chăn nuôi 27.148 29.041 31.798 3 Dịch vụ nông nghiệp1.90204 Hiện trạng phát triển hệ thống hạ tần g. Ngành văn hoá y tế giáo dục. Môi trường đất. Môi trường nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status