ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ LỆ HẰNG
NHU CẦU GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HOÀ BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI- 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
6. Giả thuyết khoa học 3
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
8. Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Một số nghiên cứu về giáo dục giới tính 5
1.2. Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1. Giới tính 12
1.2.2. Giáo dục giới tính 14
1.2.3. Nhu cầu giáo dục giới tính của học sinh THPT 16
1.2.4. Nội dung giáo dục giới tính 28
1.3. Giáo dục giới tính của học sinh THPT ở Hoà Bình 35
1.3.1. Một số đặc điểm lứa tuổi học sinh THPT ở Hoà Bình 35
1.3.2. Đặc điểm giáo dục giới tính của học sinh THPT 37
Tiểu kết chương 1 39
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Tổ chức nghiên cứu 40
2.2. Phương pháp nghiên cứu 45
2.2.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu 45
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu 46
2.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 47
2.2.4. Phương pháp toạ đàm 48
2.2.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp 48
2.2.6. Phương pháp quan sát 49
2.2.7. Phương pháp thống kê toán học 49
2.3. Tiến độ nghiên cứu 49
Tiểu kết chương 2 50
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1. Nhận thức của học sinh THPT về GDGT 51
3.1.1. Nhận thức về nội dung GDGT 51
3.1.2. Nhận thức về cách tìm hiểu kiến thức về giới tính 56
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục con ngƣời phải đảm bảo phát triển cả về thể chất, trí tuệ và tinh
thần. Với thế hệ trẻ, giáo viên không chỉ cung cấp những tri thức khoa học đơn
thuần mà còn giúp các em hiểu sâu hơn về chính bản thân mình. Đó là sự trang
bị cho các em những tri thức về đời sống tâm lí, về giới tính, về tình dục để các
em có ý thức hơn về những hành vi của mình. Với quan điểm này, chúng ta có
thể thấy đƣợc giáo dục giới tính có vai trò hết sức quan trọng trong trƣờng học.
Lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ hoàn thiện sự phát triển về thể chất
của con ngƣời. Đó cũng là lứa tuổi đang đứng trƣớc sự lựa chọn hƣớng đi cho
tƣơng lai, nên các em cần phải có sự hiểu biết về cơ thể mình, về khả năng thể
lực, trí lực và những xúc cảm để có đủ sự tự tin bƣớc vào cuộc sống, thiết lập
đƣợc mối quan hệ xã hội lành mạnh và nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Giáo sƣ
I.X.Kon khẳng định: “Chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia
đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới
tính”[142,11]. Hiện nay, Việt Nam đã có trên 84 triệu ngƣời. Trong đó, số
ngƣời ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên (từ 10 đến 29 tuổi) chiếm 40,2%,
đây là nguồn nhân lực chủ yếu trong tƣơng lai của đất nƣớc. Nếu đƣợc quan
tâm, chăm lo và đƣợc chuẩn bị đầy đủ những kiến thức cho cuộc sống tốt đẹp
sau này, họ sẽ hoạt động tích cực cho sự phát phát triển của xã hội.
Những thay đổi về kinh tế, xã hội đã kéo theo những hiện tƣợng yêu
sớm, quan hệ tình dục sớm, hay hiện tƣợng sống thử, nạo phá thai… của một
bộ phận thanh thiếu niên. Điều này đã rung lên hồi chuông báo động với những
hậu quả nặng nề mà nó gây ra không chỉ ở cá nhân, mà còn cho toàn xã hội.
Chính vì vậy, giáo dục giới tính đã đƣợc quan tâm và đƣa vào hệ thống trƣờng
học để trang bị cho học sinh những kiến thức về giới tính, góp phần vào sự hình
- 255 học sinh THPT tại một số trƣờng ở TP Hòa Bình ở khối lớp 11.
- 15 giáo viên ở tại các trƣờng nói trên.
- 15 bậc cha mẹ học sinh của các trƣờng trên.
6. Giả thuyết khoa học
- Hầu hết các em học sinh đều có nhu cầu đƣợc tăng cƣờng kiến thức về
giới tính trong nhà trƣờng.
- Mức độ ƣa thích GDGT của học sinh phụ thuộc vào nội dung, ngƣời
dạy và cách thức truyền đạt.
7. Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu: thực
trạng nhu cầu GDGT cho học sinh THPT thông qua nhận thức, hứng thú, mong
muốn và sự say mê của học sinh về môn GDGT.
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập
trung nghiên cứu học sinh, giáo viên và phụ huynh của các em học sinh thuộc
03 trƣờng THPT ở thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
8.2. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi
8.3. Phƣơng pháp toạ đàm
8.4. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
8.5. Phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp
4
8.6. Phƣơng pháp quan sát
8.7.Phƣơng pháp thống kê toán học
(Các phƣơng pháp nghiên cứu này sẽ đƣợc chúng tôi trình bày cụ thể ở
chƣơng 2)
tính dục cũng đƣợc quan tâm ít nhiều, nhƣng chỉ để phục vụ cho sự ăn chơi của
các vua quan phong kiến. Việc nghiên cứu khách quan các vấn đề giới tính,
tính dục chỉ thực sự đƣợc tiến hành ở thời kỳ Phục hƣng, khi bộ môn giải phẫu
sinh lí bắt đầu phát triển. Trong thời gian này, khía cạnh của tính dục, xét về
phƣơng diện đạo đức và giáo dục đƣợc ngƣời ta nghiên cứu tới.
Cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà khoa học ở Châu Âu đã bắt đầu tiến hành
công tác nghiên cứu khách quan về tính dục của con ngƣời. Họ đã miêu tả hàng
loạt bất thƣờng trong tâm lí tính dục và tán thành việc xúc tiến công tác giáo
dục tính dục một cách khoa học, và có thể coi cuốn “Rối loạn tình dục” của
Kraphta Ebing-1886 là mốc đánh dấu đầu tiên. Trong tác phẩm này Ebing đã
tranh luận rằng hoạt động tình dục vì bất kì mục đích gì ngoài mục đích sinh
sản đều là sai lầm. Ông nghiên cứu tập trung vào những hành vi tình dục kì dị
xảy ra với bệnh nhân của mình[59].
Đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, sự phổ
biến của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng trong xã hội và nhất là sự gia
tăng dân số, vì vậy vấn đề GDGT đƣợc nhấn mạnh và đề cập nhiều.
Công trình nghiên cứu của P.P.Blonxki, B.E.Raicop đã chỉ ra sự hiện
hữu của một số biểu hiện tình dục sớm của trẻ em khoẻ mạnh hoặc trẻ em có
6
nhiều bệnh và mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục giới tính và các loại hình
hoạt động cá nhân của trẻ. Theo các tác giả, GDGT đƣợc coi là toàn bộ các tác
động sƣ phạm có tổ chức đến sự phát triển nhân cách của trẻ nhằm hình thành
các thái độ và hành vi tự giác, lành mạnh về giới tính. Các tác giả cũng đƣa ra
một số biện pháp GDGT trong nhà trƣờng, với khối lƣợng thông tin cần thiết
cho mỗi độ tuổi, ví dụ: Mẫu giáo và học sinh cấp I tìm hiểu về ngƣời mẹ, học
sinh cấp II tìm hiểu về ngƣời cha, học sinh cấp 3 tìm hiểu vệ sinh giới tính.
Các công trình nghiên cứu của S.Freud nhƣ là: “Ba bài thảo luận về lí
thuyết tình dục” đến nay vẫn còn có giá trị khoa học. Ông đã tập trung chú ý
vào mối quan hệ giữa các vấn đề tâm lí nhân cách với các dạng tình dục khác
ông, đã coi GDGT là một bộ phận của giáo dục đạo đức, GDGT xem tình
yêu nhƣ là một phạm vi tế nhị nhất của nhân cách, sự can thiệp của ngƣời
lớn vào nó phải rất khéo léo và thận trọng, nó đƣợc hƣớng đến sự hình thành
làm ngƣời cha ngƣời mẹ, những cặp vợ chồng.
Ở Châu Âu, việc GDGT trong gia đình và trƣờng học đƣợc tiến hành từ
rất sớm. Song từ những năm 60 của thế kỉ XX, GDGT mới đƣợc khẳng định và
nghiên cứu rộng rãi. Theo nghiên cứu của D.N.Ixaev, GDGT ở các nƣớc Châu
âu đƣợc tiến hành với các mức độ sau: 1/ Bắt buộc thực hiện GDGT trong tất
cả các trƣờng phổ thông. 2/ Khuyến khích và hợp pháp hoá vấn đề GDGT
nhƣng không bắt buộc, không mở rộng phạm vi cả nƣớc. 3/ Đồng ý, tán thành
đƣa GDGT vào nhà trƣờng, nhƣng không pháp về luật pháp. 4/ Không ngăn
cấm việc GDGT nhƣng thực tế không phát triển.
Năm 1974, Hội nghị Quốc tế về tính dục ở Giơnevơ đã thảo luận đến sự
cần thiết phải đƣa tình dục vào giảng dạy tại các cơ sở của ngành giáo dục và y
tế. Năm 1983, hội nghị giáo dục giới tính ở Thụy Điển đƣợc thành lập. Trong
những năm 1984-1986, nhiều hoạt động của UNESCO đã làm sáng tỏ yêu cầu
8
về giáo dục đời sống gia đình, đồng thời đã biên soạn nội dung chƣơng trình và
tài liệu giảng dạy về giáo dục đời sống gia đình cho gia đình thực nghiệm
(1988-1991). Tùy theo phong tục tập quán và sự định hƣớng giá trị mà mỗi
nƣớc áp dụng một các khác nhau nội dung chƣơng trình thực nghiệm này,
nhƣng tất cả đều thấy sự cần thiết phải giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ.
Nghiên cứu của hai tác giả Tôn Vân Hiểu – Trƣơng Dẫn Mặc (từ năm
2002 đến năm 2003) trong cuốn “Hoa hồng giấu trong cặp sách” đã tiến hành
phỏng vấn trực tiếp mƣời ba em nam nữ thanh niên. Nghiên cứu đã phát hiện
thấy một số“sự thật” nhƣ sau: trong số các em đã có quan hệ tình dục ở tuổi học
trò thì có quá nửa các em đƣợc thầy cô giáo công nhận là học sinh ngoan;
100% các em không sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ lần đầu tiên; Các
em đã trải nghiệm quan hệ tình dục mà cha mẹ và thầy cô giáo không hề biết;
Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục
gia đình và giới tính cho học sinh có kí hiệu VIE/80/P09 (do Trần Trọng
Thuỷ chủ nhiệm đề tài) đã đƣợc Hội đồng Chính phủ, Bộ giáo dục và đào
tạo, Viện khoa học giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với
sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực. Đề án đã tiến hành rất thận
trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề nhƣ: quan niệm
tình bạn, tình yêu, hôn nhân và nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính
của giáo viên, học sinh và phụ huynh ở nhiều nơi trong cả nƣớc, để chuẩn
bị tiến hành GDGT cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12.
Cuốn “GDGT ở nhà trƣờng phổ thông cấp II” của Giáo sƣ Trần
Trọng Thuỷ (1993) đã chỉ ra kết quả một số vấn đề cơ bản của GDGT cho
học sinh cấp II và đề xuất việc đƣa GDGT vào bậc tiểu học. Theo tác giả,
nội dung GDGT là đƣợc lồng ghép trong các môn cơ bản của tất cả các
10
bậc học và trong một chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập GDGT
cho trẻ tiền học đƣờng: “Các em chƣa đến tuổi đi học cần phải đƣợc giáo
dục thái độ thiện ý tự nhiên với bạn bè cùng giới, khác giới và có kĩ năng
vui chơi thân ái với bạn”.
Tác giả Nguyễn Khắc Viện – ngƣời đã dày công nghiên cứu về trẻ em
lứa tuổi tiền học đƣờng, cũng đã có nhiểu đóng góp đáng kể trong lĩnh vực
GDGT cho trẻ em. Theo ông: đến tuổi mẫu giáo, khi trẻ tò mò muốn biết về
mọi thứ xung quanh, chúng muốn biết về sự khác biệt của thế giới xung quanh,
thù sự khác biệt về giới tính cũng nằm trong tầm mắt của chúng. Vì vậy,
GDGT có thể bắt đầu từ khi trẻ có ý thức về bản thân mình và ngƣời khác.
Theo tác giả Nguyễn Thành Thống trong cuốn “GDGT cho thanh
thiếu niên” có nêu lên những khó khăn khi GDGT cho trẻ, đó là: làm thế
nào để cho trẻ có đƣợc một quan niệm, một cái nhìn tốt nhất và lành mạnh
nhất ngay từ khi chúng còn nhở.
Từ khoảng năm 1990 đến nay ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia,
gian GDGT; Đẩy mạnh hoạt động tự GDGT của học sinh; Tích cực xây dựng
và cải tạo môi trƣờng giáo dục góp phần bồi dƣỡng tri thức về giới tính và nhân
cách cho học sinh.
Một nghiên cứu mới đây của TS. Khuất Thu Hồng về lĩnh vực tình dục,
với thời gian thực hiện 3 năm (2005-2008) trong cuốn “Tình dục – chuyện dễ
đùa khó nói” đã nêu ra những khái niệm, lí thuyết cơ bản nhƣ: tình dục là gì,
tình dục đƣợc kiến tạo nhƣ thế nào, trong nửa thế kỉ qua tình dục đƣợc quan
niệm ra sao…Các quan niệm về tình dục cũng đƣợc khai thác ở nhiều khía
cạnh thông qua việc thảo luận, bày tỏ ý kiến và nhiều câu chuyện sinh động có
thật. Nghiên cứu này đã cung cấp kiến thức về tình dục khá đầy đủ và rõ nét.
12
Một số luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về vấn đề GDGT cho học sinh,
nhằm tìm hiểu thực trạng về nhận thức, thái độ của học sinh với vấn đề GDGT
từ đó đƣa ra một số biện pháp để đƣa GDGT vào trong nhà trƣờng một cách hệ
thống, cũng nhƣ nâng cao chất lƣợng của công tác GDGT cho thanh niên học
sinh. Với đề tài nghiên cứu: “Nhu cầu GDGT của học sinh THPT ở Hoà Bình”
chúng tôi tìm hiểu những nhu cầu của học sinh THPT với môn GDGT ở nhà
trƣờng phổ thông, với mong muốn đóng góp một phần nào cho công tác GDGT
nƣớc ta hiện nay.
Tóm lại, phù hợp với trào lƣu chung của thế giới, ở nƣớc ta giáo dục giới
tính đang từng bƣớc trở thành những môn học góp phần tích cực vào việc giáo
dục nhân cách toàn diện cho học sinh THPT.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Giới tính
Thuật ngữ “Giới tính” có nguồn gốc Latinh là Sectus (nghĩa là chia cắt)
thể hiện chính xác ý định phân chia loài ra làm hai. Khi nói đến giới tính là nói
đến những khác biệt đƣợc xác định về sinh học giữa nam và nữ.
Chúng tôi đồng ý với cách hiểu “Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ
về phƣơng diện sinh học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu (kích thƣớc, hình
triển nhân cách của các em, để mang lại cho các em cuộc sống tốt đẹp.
Chúng ta thấy rằng, hai khái niệm giới và giới tính có sự khác biệt về bản
chất, mặc dù những quan niệm về giới đƣợc hình thành trên cơ sở giới tính cụ
thể – là nam hay nữ. Các đặc điểm giới tính là một phần quan trọng trong cấu
thành nên các đặc điểm giới, nhƣng nó không phải là thành phần quan trọng
nhất hoặc duy nhất. Trong nhiều bối cảnh văn hóa, một ngƣời đƣợc xếp loại là
phụ nữ hay đàn ông không chỉ dựa trên những đặc điểm về cơ thể, mà dựa trên
14
cơ sở của những dữ kiện văn hóa. Có thể thấy giới biến đổi nhiều, còn giới tính
hầu nhƣ không thay đổi, và một điều sai lầm là lấy sự khác biệt giới tính là
nguồn gốc duy nhất để giải thích cho sự khác biệt về giới và hợp lý hóa sự bất
bình đẳng dựa trên một căn cứ duy nhất là yếu tố sinh học.
1.2.2. Giáo dục giới tính
Mục đích giáo dục hiện nay là đào tạo con ngƣời phát triển toàn diện.
Đó chính là con ngƣời có nhân cách phát triển về mọi mặt: đạo đức, tài năng,
trí tuệ, có khả năng góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Những phẩm chất tốt đẹp
của nhân cách và sự đóng góp hiệu quả của con ngƣời đối với xã hội lại phụ
thuộc vào đời sống giới tính của họ. Vì vậy, việc con ngƣời hiểu đƣợc đời sống
giới tính của mình là vô cùng cần thiết trong sự phát triển bản thân.
Theo IU.I.Kusniruk và A.P.Serbakov: “Chính việc thiếu kiến thức về
những vấn đề này (giới tính) cũng giống nhƣ mọi tình trạng dốt nát khác, lại là
điều nguy hiểm và có phƣơng hại đến tâm lý đạo đức con ngƣời”[142,31].
Gần đây việc nghiên cứu giáo dục giới tính đã đƣợc xã hội quan tâm và
ngày càng đƣợc đánh giá đầy đủ, đúng đắn hơn.
Theo A.G.Khrivcova, D.V.Kolexev: “Giáo dục giới tính là một quá trình
hƣớng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trƣng cũng
nhƣ khuynh hƣớng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết
của con ngƣời đối với ngƣời khác”[142,31].
có đạo đức và hành vi lành mạnh, xây dựng một nhân cách phù hợp với mong
muốn của xã hội và hình thành mối quan hệ có tránh nhiệm trong tình bạn cũng
nhƣ trong tình yêu.
16
Chúng ta có thể hiểu giáo dục giới tính nhƣ sau: Giáo dục giới tính là
một quá trình giáo dục nhằm cung cấp cho các em học sinh những kiến
thức về giới tính, giúp các em có nhận thức và thái độ đúng đắn với các
vấn đề giới tính. Trên cơ sở đó, hình thành những quan hệ giới tính phù
hợp với những chuẩn mực xã hội, chuẩn bị những kiến thức và kĩ năng
cho cuộc sống tương lai.
Theo các nhà nghiên cứu, để con ngƣời phát triển toàn diện phải giáo dục
giới tính càng sớm càng tốt, vì giới tính xuất hiện ở con ngƣời từ sớm. Tuy
nhiên, lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi có nhiều biến động to lớn về cơ thể, đời
sống tâm lý, là lứa tuổi diễn ra quá trình chín muồi tính dục. Giáo dục giới tính
trong thời kỳ này có tác dụng to lớn trong cuộc sống của các em hiện tại cũng
nhƣ sau này. V.G.Belinxki nhận xét rằng: “Sự trong sạch về đạo đức hoàn toàn
không phải là ở chỗ chẳng biết gì, mà là ở chỗ giữ gìn đƣợc đức hạnh khi có sự
am hiểu đầy đủ”[18,27].
1.2.3. Nhu cầu giáo dục giới tính
1.2.3.1. Nhu cầu
Bất cứ hoạt động nào cũng làm thỏa mãn một nhu cầu nhất định. Nhu
cầu là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó các nhà tâm lý
học nghiên cứu khá nhiều. Nhu cầu là thành phần đầu tiên trong xu hƣớng,
song nó chi phối mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con
ngƣời nói riêng. Bởi vì để tồn tại và phát triển không ngừng, con ngƣời cần
đƣợc thỏa mãn những nhu cầu nhất định nhu cầu về ăn, mặc, ở, học tập, vui
chơi và rất nhiều nhu cầu khác nữa.
Từ điển tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên) định nghĩa: Nhu cầu là trạng thái
cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tƣợng cần thiết cho sự tồn
Trên cơ sở phân tích và tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu,
chúng tôi thống nhất với quan điểm về nhu cầu nhƣ sau: Nhu cầu là những đòi
hỏi tất yếu của con ngƣời cần phải thỏa mãn bằng các phƣơng thức khác nhau
để có thể tồn tại và phát triển. Đó cũng là biểu hiện của tính tích cực hoạt động
của con ngƣời.
Sự đòi hỏi đó là thuộc tính tâm lý của con ngƣời, nó phản ánh mối quan
hệ giữa con ngƣời và thế giới xung quanh. Chính sự cần thiết phải đáp ứng
những đòi hỏi ấy sẽ nảy sinh và thúc đẩy tính tích cực của con ngƣời, và thể
hiện rõ nét bản chất xã hội của con ngƣời.
Khi nói tới giới hạn của nhu cầu, ta thấy rằng nhu cầu là vô tận. Tuy
nhiên, không phải lúc nào ngƣời ta cũng đòi hỏi phải thỏa mãn tất cả các nhu
cầu của bản thân mình. Nhu cầu cũng không bao giờ tự dập tắt mà chỉ có thể có
nhu cầu này trội hơn, mang giá trị cấp bách hơn nhu cầu kia ở thời điểm này
hay khác - đó là một hệ thống đƣợc sắp xếp theo trình tự nhất định. Trật tự này
không phải cố định mà nó luôn biến đổi theo mối quan hệ của ngƣời đó với
hoàn cảnh. Đồng thời bản thân nhu cầu cũng thay đổi theo yêu cầu của hoạt
động và xã hội. Nhƣ vậy, trong nhu cầu ta thấy có sự thống nhất giữa khách
quan và chủ quan. Nhu cầu hiểu biết về giới tính của con ngƣời luôn thay đổi
dựa trên bối cảnh xã hội. Trƣớc đây, do những quan niệm xã hội còn khắt khe
với những vấn đề liên quan đến giới tính, tình dục. Bởi, đây là những vấn đề
đƣợc cho rằng là “xấu xa” và “cấm kỵ”, nên hầu nhƣ không đƣợc đề cập đến.
Ngày nay, một số giá trị và quan niệm truyền thống thay đổi, vấn đề về giới
tính đƣợc cởi mở hơn, vai trò của nó đƣợc khẳng định trong sự phát triển của cá
nhân, vì vậy việc học những tri thức về giới tính ngày càng trở nên cấp thiết.
Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tƣợng, vì thế mà có thể phân biệt đƣợc
các loại nhu cầu. Khi gặp đối tƣợng nào đó có khả năng đáp ứng, nhu cầu trở
thành động cơ thúc đẩy con ngƣời hoạt động nhằm chiếm lĩnh đối tƣợng. Đối
19
tƣợng của nhu cầu càng đƣợc xác định cụ thể, ý nghĩa của nhu cầu đối với đời
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng một
hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) thì xếp phía
dƣới, trong khi những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân đƣợc
coi là quan trọng hơn, giá trị hơn, chúng đƣợc xếp ở các thang bậc trên cao của
kim tự tháp [110-115,9].
- Nhu cầu thể chất – nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại của cá nhân. Nhu cầu
này còn đƣợc gọi là nhu cầu cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lí
(physiological needs) bao gồm các nhu cầu cơ bản của con ngƣời nhƣ ăn đầy
đủ, không khí để thở, nƣớc uống, sƣởi ấm, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở,
nghỉ ngơi, các nhu cầu làm cho con ngƣời thoải mái về cơ thể. Một cá nhân, gia
đình nào bị thiếu thốn hoặc không đƣợc đảm bảo về nhu cầu cơ bản sẽ gặp rất
nhiều khó khăn trong cuộc sống tối thiểu cũng nhƣ điều kiện phát triển cá nhân.
Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con ngƣời
Hệ thống thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow
Nhu
cầu tự
hoàn thiện
Nhu cầu
được tôn trọng
Nhu cầu
giao lưu, tình cảm
Nhu cầu an toàn