MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục con người phải đảm bảo phát triển cả về thể chất, trí tuệ và tinh
thần. Với thế hệ trẻ, cần trang bị cho các em những tri thức về đời sống tâm lí,
về giới tính, về tình dục để các em có ý thức hơn về những hành vi của mình.
Với quan điểm này, chúng ta có thể thấy được GDGT có vai trò hết sức quan
trọng trong trường học.
Lứa tuổi HS THCS là thời kỳ đang phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần
của con người. Đây là nguồn nhân lực chủ yếu trong tương lai của đất nước.
Nếu được quan tâm, chăm lo và chuẩn bị đầy đủ những kiến thức cho cuộc sống
tốt đẹp sau này, họ sẽ hoạt động tích cực cho sự phát phát triển của xã hội.
Những thay đổi về kinh tế, xã hội đã kéo theo những hiện tượng yêu sớm,
quan hệ tình dục sớm, hay hiện tượng sống thử, nạo phá thai… của một bộ phận
thanh thiếu niên. Chính vì vậy, GDGT đã được quan tâm và đưa vào hệ thống
trường học để trang bị cho HS những kiến thức về giới tính, góp phần vào sự
hình thành và phát triển nhân cách HS. Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình
GDGT đối với HS vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi và đang làm các nhà
quản lý khó khăn trong việc tìm ra con đường GDGT phù hợp cho HS. Muốn
giải đáp những câu hỏi đó cần phải hiểu rõ NC GDGT của các em HS.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nhu
cầu giáo dục giới tính của học sinh Trường THCS Tân Dương, huyện Thủy
Nguyên, Thành phố Hải Phòng”. Chúng tôi hi vọng rằng, qua nghiên cứu này
có thể hiểu được phần nào những suy nghĩ, cũng như sự mong đợi của các em
HS THCS để từ đó nâng cao hiệu quả của công tác GDGT trong nhà trường.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về NC, NC GDGT và các
khái niệm liên quan đến đề tài.
1
- Về thời gian: Từ tháng 11 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016
2
- Về số lượng khách thể: Đề tài tập trung khảo sát trên 155 HS trường
THCS Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, 15 giáo viên,
cán bộ quản lý.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1.Phương pháp phân tích, tổng hợp.
6.2.Phương pháp phỏng vấn sâu.
6.3.Phương pháp điều tra thông qua bảng hỏi.
6.4.Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
6.5.Phương pháp thống kê toán học.
7. Cấu trúc đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng NC GDGT của HS trường THCS Tân Dương,
Thủy Nguyên, Hải Phòng.
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu về GDGT ở nước ngoài
Từ xa xưa trong các nền văn minh nhân loại, giới tính đã được đề cập đến
thông qua hệ thống thần thoại hay qua các thảo luận về tình yêu.
Cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà khoa học ở Châu Âu đã bắt đầu tiến hành
Trọng Thủy với cuốn “GDGT ở nhà trường phổ thông cấp II”, tác giả
Nguyễn Khắc Viện, tác giả Nguyễn Thành Thống hay của TS. Khuất Thu
Hồng đã cho thấy thực trạng về nhận thức, thái độ của HS với vấn đề GDGT từ
đó đưa ra một số biện pháp để đưa GDGT vào trong nhà trường một cách hệ
thống, cũng như nâng cao chất lượng của công tác GDGT cho HS.
Với đề tài nghiên cứu: “NC GDGT của HS trường THCS Tân Dương,
huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” chúng tôi tìm hiểu những NC của HS
THCS với môn GDGT ở nhà trường trung học cơ sở, với mong muốn đóng góp
một phần nào cho công tác GDGT nước ta hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Giới tính
Thuật ngữ “Giới tính” có nguồn gốc Latinh là Sectus (nghĩa là chia cắt)
thể hiện chính xác ý định phân chia loài ra làm hai. Khi nói đến giới tính là nói
đến những khác biệt được xác định về sinh học giữa nam và nữ.
Chúng tôi đồng ý với cách hiểu “Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ
về phương diện sinh học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu (kích thước, hình
dạng cơ thể…), đặc điểm sinh lý (hoạt động hoóc mon, chức năng của các bộ
phận…).
1.2.2. GDGT
Theo A.G.Khrivcova, D.V.Kolexev: “GDGT là một quá trình hướng vào
việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh
hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người
đối với người khác”.
5
Trong Bách khoa toàn thư y học phương tây (1984) A.V.Petrovxki đưa ra
định nghĩa về GDGT là: Hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo
dục cho thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên có thái độ đúng đắn với các vấn đề
giới tính.
phục vụ cho bản thân, và nếu NC không được thoả mãn, các em sẽ không
có được những tri thức đó và có thể gây ra những hậu quả nặng nề. Và như
vậy, khi các em có NC GDGT thì NC này cần phải được đáp ứng để thỏa
mãn nguyện vọng của các em cũng như yêu cầu của xã hội và gia đình, để
mang lại cho các em HS cuộc sống tốt đẹp nhất.
1.2.4. Nội dung giáo dục giới tính
Việc lựa chọn nội dung GDGT phải tuân theo những yêu cầu, những
nguyên tắc chung được quy định bởi mục đích, nhiệm vụ của GDGT và giáo
dục toàn diện, bên cạnh đó lại phải phù hợp với đặc điểm riêng của đối tượng,
phong tục tập quán, đời sống, kinh tế, xã hội…
Tại địa bàn nghiên cứu của chúng tôi trường THCS Tân Dương, vấn đề
GDGT cũng đã được quan tâm và đưa vào trong trường học theo sự chỉ đạo của
Bộ giáo dục và đào tạo thông qua việc lồng ghép và tích hợp với các môn học
khác như: sinh học, giáo dục công dân, địa lý…. Nội dung của môn GDGT tập
trung vào các chủ đề sau:
- Sự thay đổi tâm sinh lí tuổi dậy thì.
- Quan hệ khác giới, tình bạn, tình yêu.
- Bình đẳng nam nữ và trách nhiệm của nam giới.
- Các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Sinh sản.
- Tránh thai.
- Hậu quả của việc phá thai.
Tiểu kết chương 1
GDGT là vấn đề được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm và nghiên
cứu, bởi vai trò quan trọng của nó trong sự phát triển nhân cách toàn diện của
con người. Tuy nhiên, hiện nay xung quanh GDGT vẫn còn nhiều vấn đề tranh
cãi trong việc thực hiện như thế nào để đạt hiệu quả nhất trong công tác GDGT.
7
1
Quan hệ tình bạn, tình yêu
2
Tâm sinh lí tuổi VTN
75,3
3
Quan hệ tình dục
85,8
8
4
Các bệnh lây truyền qua đường tình
dục
80,7
5
Các biện pháp tránh thai
trọng của GDGT đối với chính bản thân các em.
9
2.2.1.3. Đánh giá của HS THCS về một số quan niệm về GDGT
Đa số HS đều có sự đánh giá tích cực về một số quan niệm mà chúng tôi
đưa ra, chiếm tỉ lệ từ khoảng 80% đến 90% số ý kiến nhận xét.
Qua số liệu trên, rõ ràng HS đã có cái nhìn đúng đắn về môn GDGT,
không còn là điều gì “ xấu xa” và không thể nói được. Ngược lại, hiểu biết
tốt về giới tính sẽ có ý nghĩa trong việc định hướng thái độ và hành vi của
HS. Sự nhận thức tốt này là điều đáng mừng cho công tác GDGT cho HS, bởi
từ nhận thức đúng thì mới có thể dẫn tới thái độ và hành vi đúng. Những
quan niệm cũ về giới tính đã dần được thay thế bởi những tư tưởng tiến bộ,
tôn trọng sự tiến bộ, quyền được hiểu biết về những vấn đề giới tính. Chính
điều này làm cho HS không còn e ngại khi tiếp cận với những tri thức về giới
tính.
10
2.2.2. Mong muốn của HS THCS khi học GDGT
2.2.2.1. Mong muốn của HS THCS về nội dung GDGT
Thứ nhất, nội dung sự thay đổi tâm sinh lý tuổi VTN chiếm 92,2% ý kiến
của HS. Ở lứa tuổi này, những đặc điểm thay đổi to lớn về mặt cơ thể, cũng như
tâm lý làm cho các em không tránh khỏi sự tò mò, những băn khoăn và lo lắng.
Bởi vậy, các em rất muốn tìm hiểu và khám phá để lý giải những điều đã và
đang xảy ra với bản thân, nên việc các em mong muốn được học nội dung “tâm
sinh lý tuổi VTN” cũng là phù hợp.
Thứ hai, “Cách cư xử với bạn khác giới, tình bạn, tình yêu” chiếm 89%
mong muốn của HS. Những chủ đề liên quan đến tình bạn, tình yêu luôn rất
Lồng ghép vào môn học khác
35
22,5
Tổ chức thành bộ môn chính
22
14,1
11
Chỉ phát tài liệu
14
9
Lựa chọn cao nhất là hình thức học ngoại khóa. Và học ngoại khoá cũng
là hình thức chủ yếu mà hiện nay trường THCS Tân Dương đang thực hiện
để tổ chức giảng dạy GDGT cho HS.
Mong muốn thứ 2 của HS là, tổ chức theo hình thức sinh hoạt câu lạc bộ
chiếm tỉ lệ là 36,7%. Theo các em HS, hình thức sinh hoạt câu lạc bộ cũng đem
lại tâm lý thoải mái khi trao đổi về giới tính và quan trọng, giúp các em không
cảm thấy e ngại khi nói tới những vấn đề nhạy cảm.
Hình thức khác như: “Lồng ghép vào các môn học khác”, “Học thành
18,7
Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
GDGT không còn là vấn đề “xấu hổ” hay “xa lạ” đối với các em HS, thể hiện ở
HS có những mong muốn rất cao ở tất cả những nội dung GDGT mà chúng tôi
đưa ra, chứng tỏ các em đang thiếu hụt kiến thức giới tính và NC cao được học
hỏi những vấn đề đó. Hầu hết HS đều mong muốn hình thức GDGT là học
ngoại khoá vì các em cho rằng phù hợp về mặt thời gian cũng như đưa đến cho
các em sự thoải mái về mặt tâm lí khi tiếp cận với những nội dung GDGT.
Cùng với sự mong muốn về hình thức GDGT thì HS lựa chọn đội ngũ chuyên
gia sẽ là người thực hiện công tác GDGT cho các em, do sự tin cậy về mặt trình
độ chuyên môn ở đội ngũ này.
2.2.3. Hứng thú của HSTHCS khi học GDGT
12
Nhìn vào số liệu biểu đồ, ta thấy rõ hứng thú của HS với môn GDGT là
không cao, thể hiện qua tỉ lệ chọn lựa là 22,4% các em hứng thú học và mức độ
rất hứng thú chỉ chiếm 9,0% tổng số ý kiến. Những lí do mà các em đưa ra để
giải thích sự hứng thú khi học những nội dung GDGT chính là để giúp cho các
em có những kiến thức cần thiết về bản thân, về giới tính để các em có được
cách cư xử đúng đắn, GDGT mang lại cho cỏc em nhiều kiến thức bổ ích, giúp
cỏc em hiểu hơn về bản thân và biết cách chăm sóc bản thân cho nên em rất hào
hứng khi tham gia học. Bên cạnh đó, tỉ lệ HS tỏ ra “bình thường” với GDGT lại
khá cao chiếm 66,7% và số HS không hứng thú chiếm tỉ lệ thấp nhất là 2,0%.
Với số liệu trên cho thấy, GDGT hiện nay trong nhà trường vẫn chưa gây
được sự hứng thú đối cho HS. Thái độ này có thể ảnh hưởng tới hiệu quả
học GDGT của HS. Theo tâm lí chung, con người sẽ tích cực hoạt động
“thường xuyên tham gia”. Con số này cho chúng ta thấy, việc tham gia học
GDGT của HS là không cao.
14
Lý giải về việc HS tham gia học GDGT, chúng tôi nhận thấy hầu hết HS
tham gia là do nhận thấy những kiến thức về giới tính có ích cho bản thân với tỉ
lệ lựa chọn rất cao (84,6% ý kiến của HS). Điều này cho thấy, việc học GDGT
của HS xuất phát từ chính lợi ích của nội dung GDGT mang lại cho chính cuộc
sống của các em và đây là sẽ là động cơ tích cực thúc đẩy sự tham gia học
GDGT của HS.
Như vậy, những yếu tố thúc đẩy các em tìm hiểu, học GDGT không phải
là những yếu tố hời hợt bên ngoài mà là những động lực bên trong liên quan
đến lợi ích của chính bản thân các em. Điều này cho thấy để nâng cao NC
GDGT và hiệu quả của việc học này thì những nhà giáo dục cần phải khai thác
triệt để lí do tích cực này, tức là phải làm sao cho HS thấy hết được những ý
nghĩ cũng như lợi ích của GDGT, từ đó gây hứng thú và thúc đẩy sự tích cực
hơn nữa sự tham gia của HS.
2.3. Thái độ của cha mẹ đối với vấn đề GDGT cho HS THCS
Qua những ý kiến trả lời của HS ghi ở trên phiếu, chúng tôi đã thống kê
được kết quả như sau:
66,5% ý kiến HS cho rằng: cha mẹ ủng hộ và đồng tình với việc GDGT
trong nhà trường. Bên cạnh đó, có 24,3% ý kiến HS nói: cha mẹ có phản ứng
bình thường hoặc không có phản ứng gì. Còn lại 5,3% HS trả lời rằng cha mẹ
vẫn còn phân vân “vừa ủng hộ vừa không ủng hộ”. Chỉ có 1,5% nói rằng cha
mẹ phản đối và 2,4% không biết được thái độ của cha mẹ.
Với số liệu trên chúng ta thấy, cha mẹ ủng hộ và đồng tình việc GDGT
trong nhà trường cho con em mình là khá cao. Việc cha mẹ ủng hộ chứng tỏ các
bậc cha mẹ đã thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết cho HS trang bị những
kiến thức về giới tính.
Cha mẹ cần phải tìm hiểu những kiến thức về giới tính để nâng cao nhận
thức cũng như thái độ đối với GDGT, nhằm mang lại sự giáo dục tốt nhất cho
con em mình. Tạo một bầu không khí gia đình chan hòa tình yêu thương cũng
rất quan trọng, từ đó mới có thể tạo ra sự tin tưởng của các em và có thể trò
chuyện thoải mái thân mật một cách bình thường về GDGT. Cha mẹ cùng với
16
nhà trường thực hiện những mục tiêu đào tạo trong đó mục tiêu GDGT cho các
em là một mục tiêu quan trọng.
Các tổ chức xã hội cũng mang lại những hỗ trợ không nhỏ cho quá trình
thay đổi nhận thức của mọi người về GDGT. Cần mở rộng các kênh thông tin
truyền thông cho giới trẻ về GDGT, SKSS. Thường xuyên tổ chức các game
show, chương trình tìm hiểu về SKSS, GDGT. Tuyên truyền về các biện pháp
tránh thai, hậu quả của việc phá thai, mang thai ngoài ý muốn.
Về phía các em: Sự tác động của con cái đến cha mẹ cũng đóng một vai
trò quan trọng khi hình thành thái độ của phụ huynh. Các em cần phải chủ động
hỏi cha mẹ về những vấn đề giới tính ,mà mình còn thắc mắc để cha mẹ quan
tâm và chủ động trao đổi với các em. Cần có thái độ tích cực hơn trong việc học
các kiến thức liên quan đến GDGT, chủ động trong việc nắm bắt tri thức về giới
tính để bổ sung những thiếu hụt của mình.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. NC GDGT là NC tất yếu của các em HS THCS trong quá trình phát
triển nhân cách toàn diện. NC GDGT của các em cần được đáp ứng, bởi thông
qua đó các em có đầy đủ những kiến thức về giới tính cũng như những kĩ năng
sống cần thiết cho bản thân, nhằm phục vụ cho cuộc sống hiện tại và chuẩn bị
sẵn sàng cho một tương lai tốt đẹp.
1.2. Hầu hết HS có sự hiểu biết khá tốt về những nội dung GDGT mà các
học GDGT do thấy được lợi ích của môn học, khẳng định sự hiểu biết đúng đắn
của các em về vai trò của môn GDGT.
2. Khuyến nghị
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin đề xuất một số khuyến
nghị nhằm nâng cao cũng như đáp ứng được NC GDGT của HS THCS, đó là:
2.1. Đối với các cơ quan chức năng thuộc ngành giáo dục
- Cần có một chương trình GDGT cụ thể, rõ ràng và sâu sắc về mặt nội
dung, hù hợp về mặt hình thức tiến tới xây dựng thành môn học chính thức để
có thể gây được hứng thú cũng như thoả mãn được NC của các em.
18
- Đào tạo những giáo viên có chuyên môn về lĩnh vực GDGT. Bên cạnh
đó thường xuyên bồi dưỡng cho các giáo viên hiện đang thực hiện nhiệm vụ
kiêm nghiệm môn GDGT cả về kiến thức cũng như phương pháp giảng dạy
môn GDGT.
- Xây dựng phòng tư vấn học đường ở trường THCS để giúp HS tháo gỡ
những khó khăn, khúc mắc của lứa tuổi, để các em yên tâm học tập, tu dưỡng
và phấn đấu.
2.2. Đối với nhà trường và thầy cô giáo
- Quan tâm nhiều hơn nữa tới công tác GDGT như: tổ chức thêm những
buổi học ngoại khoá với nhiều hoạt động phong phú và đa dạng như: đóng kịch,
thi tìm hiểu về giới tính, giao lưu, toạ đàm với các chuyên gia (như bác sỹ, nhà
tâm lý)… nhằm tạo ra môi trường GDGT tích cực, lành mạnh cho HS.
- Xây dựng câu lạc bộ như: câu lạc bộ về SKSS VTN để các em HS có
thể tự sinh hoạt, trao đổi những khó khăn của bản thân. Hướng các em vào
những hoạt động lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em HS.
- Cung cấp và giới thiệu cho các em những tài liệu, sách báo, kể cả những
tài liệu trên mạng…phù hợp với NC và đặc điểm lứa tuổi để các em tìm hiểu và
tham khảo, để hạn chế các em tiếp xúc với những sách, phim ảnh “đen”…làm