I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Thực hiện theo chỉ thị của ngành: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực” là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Nhưng làm sao để phát huy tính tích
cực của học sinh đang là vấn đề lớn cần giải quyết.
Thực tế giảng dạy đã cho thấy rằng chỉ khi nào học sinh tích cực chủ động
tiếp thu kiến thức thì kết quả giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học
sinh mới đạt kết quả cao nhất.
Vậy làm thế nào để phát huy được tính tích cực của học sinh trong học tập?
Đây là vấn đề không hề đơn giản nhưng lại rất cấp thiết trong thực tế giảng dạy
hiện nay.
Sinh học là một trong những bộ môn khoa học thực nghiệm. Trong quá trình
giảng dạy giáo viên thường sử dụng phương pháp thí nghiệm, vấn đáp…để giúp
học sinh tìm ra kiến thức. Sinh học lớp 8 chủ yếu nghiên cứu về cơ thể người.
Nếu sử dụng phương pháp dạy học đó để truyền đạt kiến thức cho học sinh thì
hiệu quả giảng dạy đôi khi chưa cao. Vậy giáo viên phải kết hợp sử dụng
phương pháp như thế nào để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng và cảm thấy thích
thú học tập bộ môn?
Hơn thế nữa tuổi dậy thì là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con lên người lớn với
nhiều thay đổi rõ rệt về tâm sinh lý. Đây là lứa tuổi diễn ra bao điều kỳ diệu,
cái tuổi cơ thể có những biến đổi bất ngờ. Lứa tuổi đó tính tình người ta như
thay đổi, đôi điều rắc rối, những nỗi băn khoăn tưởng như không ai giải đáp
được. Rắc rối vậy mà biết mấy tự hào, bởi mình đang lớn lên, đang trưởng
thành.
Vì thế việc “Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể
và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì” là một việc vô cùng quan trọng, nó
không chỉ giúp các em có cái nhìn rõ ràng hơn về cơ thể mà qua đó còn biết
cách bảo vệ cơ thể và có những mối quan hệ bạn bè trong sáng hơn, lành
mạnh hơn.
Với kinh nghiệm qua nhiều năm dạy bộ môn Sinh học lớp 8, để góp phần giáo
dục học sinh tôi mạnh dạn đưa ra một ý kiến rút ra được trong suốt quá trình dạy
Qua tham khảo nhiều tài liệu liên quan đến giáo dục giới tính cho học sinh.
Đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy, từ thực tế việc học bộ môn Sinh
học của học sinh.
Phương pháp thực tế tức là theo dõi sự thay đổi tâm sinh lí của chính học sinh
mình đang giảng dậy qua các năm.
Ngoài ra có thể tìm hiểu thêm thông tin và nhận các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản từ:
- Các sách tham khảo có từ thư viện trường học.
- Các giáo viên bộ môn sinh học, giáo dục công dân, văn học,…
- Cán bộ y tế của các cơ sở y tế , các cộng tác viên dân số và cán bộ đoàn thể nơi
bạn đang cư trú.
- Tại các trung tâm tư vấn và dịch vụ thân thiện cho vị thành niên tại địa phương
của bạn.
2
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
“Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ
bạn bè trong tuổi dậy thì” đây là một trong những nội dung của phong trào xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, là xu hướng của xã hội hiện đại.
Bên cạnh đó khả năng đáp ứng của bộ môn sinh học, đặc biệt sinh học 8 đối
với đề tài này là rất lớn, tin tưởng đội ngũ giáo viên của chúng ta có thể tiếp cận
và thực hiện được.
Thực tế việc giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó có “Giáo dục giới tính
cho học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy
thì” ở nước ta còn hạn chế và gặp không ít khó khăn như: giáo viên bộ môn với
45 phút phải lo chuyển tải các nội dung bài dạy, phương tiện dạy học bộ môn
sinh học ở nhiều nơi còn thiếu và không đồng bộ. Trong thời gian qua nhiệm vụ
Giáo viên dạy bộ môn sinh học tâm huyết, vững về tay nghề, có kiến thức xã
hội và kỹ năng sống chuẩn mực.
Khó khăn:
Các vùng đặc biệt khó khăn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số với phong
tục tập quán còn nhiều lạc hậu, trình độ dân trí thấp, nhận thức của nhân dân còn
nhiều hạn chế, đời sống của bà con tuy có cải thiện nhưng còn không ít khó
khăn.
Nhận thức xã hội giữa vùng khó khăn so với các vùng thuận lợi khác khoảng
cách còn rất lớn, kỹ năng sống của con em vùng khó nói riêng còn nhiều hạn
chế, yếu kém.
Sự quan tâm đến việc học hành, giáo dục con em của phần lớn bà con địa
phương chưa được chú trọng, chủ yếu giao trắng cho nhà trường.
Sự đầu tư trang thiết bị của nhà nước đối với trường học thuộc các xã vùng
sâu vùng xa còn rất hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp thu kiến
thức của các em cũng như khả năng phát triển các năng lực tư duy, các kỹ năng
sống cần thiết khác.
Chế độ đãi ngộ đối với giáo viên chưa kịp thời ảnh hưởng không nhỏ đối với
công tác giảng dạy và giáo dục học sinh.
c. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động thực trạng trên.
Giáo viên dạy bộ môn sinh vững về tay nghề, có kinh nghiệm về giáo dục kỹ
năng sống, tâm huyết, yêu ngành, yêu trẻ, hết lòng vì học sinh thân yêu.
Trong chương trình sinh 8, nội dung xuyên suốt nói về cơ thể con người thật
gần gũi nhưng thật hết sức bí ẩn và thú vị, dễ lồng ghép “Giáo dục giới tính cho
học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy
thì”, kích thích hứng thú học tập cho học sinh.
Học sinh thuộc địa bàn còn tương đối khó khăn, năng lực nhận thức hạn chế,
vận dụng chưa cao, kiến thức xã hội yếu, nên đòi hỏi giáo viên ngoài việc giảng
dạy kiến thức cho các em, kết hợp lồng ghép “Giáo dục giới tính cho học sinh
khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì” thông
Bên cạnh nhiều phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình vẫn
còn không ít phụ huynh hầu như không quan tâm, để mặc các em muốn học thì
học, không học thì thôi, hoặc ép các em bỏ học đi làm phụ giúp gia đình. Để các
em lập gia đình sớm....vv, việc giáo dục các em thông qua mối quan hệ giữa nhà
trường - gia đình – xã hội thiếu hiệu quả.
Giáo viên dạy bộ môn sinh vững về tay nghề, có kinh nghiệm về giáo dục kỹ
năng sống, hết lòng vì học sinh. Tuy nhiên chế độ đãi ngộ đối với giáo viên chưa
kịp thời ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy và giáo dục học sinh
nói chung và bộ môn sinh học nói riêng.
Đa số các em học sinh thường rất yêu thích bộ môn sinh học nhất là sinh học 8
vì môn sinh học 8 cung cấp một số kiến thức cơ bản về cấu tạo và chức năng của
các hệ cơ quan trong cơ thể người. Qua đó giúp các em học sinh hiểu và vận
dụng các kiến thức đó vào cuộc sống, vào việc vệ sinh cơ thể, tránh xa các tác
động xấu ảnh hưởng đến bản thân. Nâng cao năng lực nhận thức và các kỹ năng
sống cần thiết khác.
Học sinh vùng đặc biệt khó khăn, học sinh là người dân tộc thiểu số khả năng
nhận thức còn hạn chế nên việc truyền đạt kiến thức sinh học 8 cũng như giáo
dục các em nâng cao năng lực nhận thức, hình thành và phát triển các kỹ năng
vận dụng trong cuộc sống còn gặp rất nhiều khó khăn đòi hỏi các thầy cô giáo
phải tâm huyết, kiên trì, tổ chức nhiều hoạt động giáo dục, như sinh hoạt nhóm,
đóng vai ..vv tạo cơ hội cho các em tự tin được thể hiện bản thân, tự khẳng định
mình, nhằm nâng cao kỹ năng sống cho các em cũng như chất lượng giáo dục
cho học sinh.
3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
Nội dung “Giáo dục giới tính” được tích hợp trong các nội dung của các bài
học đặc biệt là chương sinh sản, nên các phương pháp “Giáo dục giới tính”
cũng được tích hợp vào các phương pháp giảng dạy bộ môn. Tuy nhiên, muốn
đạt được mục tiêu của “Giáo dục giới tính” là không chỉ giúp cho người học có
kiến thức mà phải hình thành cho họ sự quan tâm, có hành vi đúng với bản thân,
với quan hệ bạn bè, nên không chỉ đừng lại ở phương pháp dạy truyền thống mà
ra theo chu kỳ (hàng tháng) 28 – 32 ngày. Đây là dấu hiệu chứng tỏ trứng không
được thụ tinh và cũng là hiện tượng sinh lý bình thường, đánh dấu tuổi dậy thì
chính thức ở người con gái, tuổi đã có khả năng sinh con.
* Thụ tinh –Thụ thai:
Nếu trứng gặp được tinh trùng trong ống dẫn trứng ( ở 1/3 phía ngoài), sẽ xảy
ra sự thụ tinh để tạo thành hợp tử. Hợp tử phân chia và bám vào lớp niêm mạc tử
cung đã được chuẩn bị sẵn để làm tổ và phát triển thành thai gọi là sự thụ thai.
3.2. Phương pháp giảng giải.
Đây cũng là phương pháp dùng lời nói, thường sử dụng khi giải thích các vấn
đề. GV nêu ra các dẫn chứng để làm rõ những kiến thức mới và khó về giới tính.
VD: Khi nói về cấu tạo cơ quan sinh dục nam Giáo viên có thể giải thích cho
học sinh vị trí của tinh hoàn là nằm ngoài cơ thể vì việc sản xuất tinh trùng tại
ống sinh tinh cần nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể (330C– 340C).
3.3. Phương pháp vấn đáp.
Trong phương pháp này GV đưa ra câu hỏi, HS trả lời, cũng có khi HS hỏi
GV trả lời hoặc giữa HS và HS…
6
Ví dụ: Các biện pháp giữ gìn vệ sinh cơ thể trong tuổi dậy thì:
1/ Đối với nam giới:
+ Hỏi: Tuổi dậy thì của nam giới xuất hiện ở lứa tuổi nào?
+ Đáp: Khoảng 11 – 12 tuổi.
+ Hỏi: Dấu hiệu nào đánh dấu dậy thì chính thức ở nam?
+ Đáp: Xuất tinh lần đầu. Quanh quy đầu là nơi đọng các chất dịch sinh
dục, vài giọt nước tiểu, mồ hôi. Cần giữ gìn vệ sinh: kéo bao quy đầu ra sau, rửa
sạch sẽ bằng nước sạch và xà phòng.
* Giảng giải: Ngoài ra còn có những dấu hiệu khác:
- Lớn nhanh, cao vượt, cơ bắp phát triển, vai rộng ngực nở. Chọn quần áo
kích cở phù hợp với cơ thể.
nơi trú ẩn của những vi khuẩn gây bệnh.
7
- Bộ phận sinh dục và vú phát triển. Phải chọn và mặc quần áo lót phù hợp
với cơ thể đồng thời phải kín đáo và không gây khó chịu cho cơ thể.
Trong thời gian dậy thì cả nam và nữ đều có hiện tượng xuất hiện mụn trứng
cá. Đó là vì các tuyến nhờn bên dưới da tăng cường hoạt động, đào thải nhiều
qua da. Khi một chút bã nhờn không thoát khỏi mặt da nó dần dần tích lại thành
một “cục” nhỏ màu trắng trắng vàng vàng, chính là trứng cá. Không nên nặn
mụn, vì nặn khiến mụn lan ra. Còn nếu “không thể dừng được” bạn chỉ nặn các
nốt “đã chín” và dễ nặn. Trước khi nặn nên rửa tay sạch để tránh gây nhiễm
trùng. Nên ăn nhiều rau, quả, thức ăn nhiều chất xơ giúp bài tiết dễ dàng; cũng
nên rửa mặt sạch sẽ, chà xát mặt nhẹ nhàng giúp máu lưu thông, nhưng chớ rửa
quá nhiều khiến da mặt khô, các tuyến tiết thêm chất nhờn, có thể làm trứng cá
nặng thêm.
Ngoài ra, trong thời gian này cả nam và nữ thường mắc một chứng “bệnh” mà
dễ bị người khác phát hiện nhất, đó là bệnh hôi nách. Thực ra đây không phải là
bệnh gì, mà cũng có cách xử lý được. Dậy thì làm cho các tuyến mồ hôi tăng
cường hoạt động, nách ẩm ướt hơn. Mùi ở nách là do các vi khuẩn phân hủy mồ
hôi này. Mỗi người một mùi, có người coi là đặc điểm nhận dạng, là sự hấp dẫn
riêng. Nhưng cũng có bạn thấy mùi hôi khó chịu. Bạn có thể giảm mùi bằng
cách mặc áo vải cô-tông thấm ẩm và thoáng khí để mồ hôi dễ bay hơi và quan
trọng là tắm rửa, thay quần áo thường xuyên thì nách không kịp hôi. Có bạn
dùng chanh hoặc phèn chua xát vào nách sau khi tắm thấy đỡ mùi hôi, bạn thử
xem. Ngoài ra còn có thể dùng thuốc khử mùi.
3.4. Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan.
Các phương tiện trực quan như: tranh ảnh, băng hình, phim ảnh... Đó là các
phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy các kiến thức về giáo dục giới tính
• Và kết quả là:
+ GV đưa một loạt các hình ảnh đau thương.
+ Sau đó GV tổng kết – nêu ý chính của bài theo mục đích.
11
12
Những ngôi mộ ảo dựng lên từ nỗi ăn năn của những người mẹ tuổi teen
Dù còn nguyên vẹn hay không các em vẫn có tên, ngày sinh ra cũng là
ngày mất.
• Em nghĩ như thế nào khi hiện nay số lượng trẻ em vị thành niên có
thai ngày càng nhiều?
HS: Đây là một hiện tượng xấu, cần phải tránh. Muốn vậy phải trang bị cho
bản thân mình kiến thức về sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên, tránh quan hệ
tình dục ở lứa tuổi này. Phải có ý thức bảo vệ, giữ gìn bản thân, đó là tiền để cho
cuộc sống sau này .
Thông tin bổ xung:
Hiện nay, hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em gái từ 15 – 19 tuổi
sinh con, chiếm 10% tổng số trẻ em sinh ra trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, hằng
năm ở lứa tuổi vị thành niên có khoảng 120000 trường hợp phá thai (chiếm 10%
tổng số người nạo phá thai) và đang có chiều hướng gia tăng.
13
* Tổng kết: GV tổng kết trên cơ sở kết quả thảo luận của nhóm rồi có thể giới
thiệu sơ đồ minh họa:
3.6. Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
* Đặt vấn đề: - Tạo tình huống có vấn đề.
- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh.
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết.
* Giải quyết vấn đề: - Đề xuất các giả thuyết.
- Lập kế hoạch giải.
- Thực hiện kế hoạch giải.
* Kết luận: - Thảo luận kết quả và đánh giá.
- Phát biểu kết luận.
- Đề xuất vấn đề mới.
Ví dụ: Bài “ Đại dịch AIDS: Thảm họa của loài người ”
• Tạo tình huống có vấn đề:
GV cho HS quan sát một số hình ảnh về con đường lây nhiễm HIV/AIDS và yêu
cầu HS nêu được các con đường lây nhiễm HIV/AIDS là gì?
15
* Giải quyết vấn đề: HS quan sát hình ảnh kết hợp hiểu biết thực tế nêu ra các
con đường lây nhiễm HIV/AIDS là:
- Qua đường máu.
- Quan hệ tình dục không an toàn.
- Lây từ mẹ sang con.
GV hướng dẫn HS thảo luận để bảo vệ giả thiết của mình, bác bỏ các giả thiết
khác.
Tiếp theo GV cho HS xem một số hình ảnh mà còn không ít người hiểu nhầm
là sẽ lây nhiễm HIV/AIDS:
- Không dùng chung kim tiêm.
- Không quan hệ tình dục bừa bãi.
- Khi cần truyền máu thì phải kiểm tra máu trước khi truyền máu.
- Tuyên truyền giáo dục cho mọi người cùng làm theo.
3.8. GV lồng ghép giáo dục cho học sinh về quan hệ bạn bè trong tuổi
dậy thì khi dạy sinh học 8 và đặc biệt là chương sinh sản:
Ở tuổi đang lớn này, giao lưu bạn bè rất phát triển, quan hệ mở rộng ra nhiều.
Bạn trẻ đang làm quen dần với cuộc sống xã hội, tập giao tiếp với mọi người.
Bạn bè trở thành một phần rất quan trọng trong cuộc sống.
1/ Quan hệ bạn bè rộng rãi và sâu sắc hơn:
Bạn trẻ chúng ta có một hình thức chơi bạn bè đặc biệt phổ biến đó là nhóm
bạn, hội bạn. Nhóm, hội có nhiều loại rất đa dạng, có thể là gần nhà nhau, cũng
có thể là “cùng chí hướng” như hóm học tập, hội đá bóng, hội âm nhạc,… Các
nhóm bạn chơi đóng vai trò quan trọng trên bước đường trưởng thành của mỗi
bạn trẻ, bởi đây là bước đầu ta tập hòa mình vào một tập thể, học tập ở các bạn
những đức tính tốt, học cách quan hệ và yêu quí mọi người. Nhóm bạn là nơi
nâng đỡ tinh thần, chia sẻ mọi vui buồn và giúp bạn trẻ tự tin hơn. Đôi khi “tinh
thần hội” trở thành cực đoan, phát triển thành hiện tượng “bè phái”, coi thường
các bạn ngoài hội một cách vô lý, gây đố kỵ giữa các nhóm bạn, đôi khi còn dẫn
đến xô xát.
2/ Ý thức về giới tính, những xao động tình cảm của tuổi mới lớn:
Đến tuổi này ý thức của chúng ta về giới tính trở nên rõ rệt hơn trước. Có thể
bạn chú ý hơn đến cách ăn mặc, kiểu đầu tóc sao cho đẹp trai, xinh gái. Trong
17
các cuộc chuyện trò, bạn thích bàn luận về giới kia. Ý thức về giới len lỏi vào
trong quan hệ bạn bè. Gán ghép bạn này với bạn khác là một trò đùa khá được
ưa chuộng, nhiều khi làm cho người bị gán ghép phải bối rối. Một số bạn ở tuổi
này bắt đầu để ý đến những bạn khác giới. Giữa đám đông bạn bè, có thể có một
Vị thành niên nữ chưa phát triển toàn diện về thể chất. Xương chậu nhỏ dễ gây
đẻ khó và con dễ bị ngạt, dễ bị mất máu, nhiễm trùng hoặc gây tử vong cho mẹ
hoặc con đôi khi cả hai. Nữ vị thành niên mang thai dễ có nguy cơ sẩy thai, đẻ
non, ngôi thai bất thường, thai chết lưu hơn so với phụ nữ tuổi 20 trở lên. Nữ vị
thành niên sinh con lần đầu có rủi ro cao hơn những lần sinh sau, nguy cơ bị
nhiễm độc thai nghén (phù, huyết áp cao và nguy cơ sản giật) ảnh hưởng đến
tính mạng. Con của các bà mẹ đó thường thiếu cân và nguy cơ tử vong cao hơn
rất nhiều so với con của các bà mẹ đã trưởng thành.
4.2.2/ Về kinh tế và xã hội:
18
- Bị hạn chế cơ hội học tập.
- Ít cơ hội phát triển nghề nghiệp, khó tìm việc làm.
- Là gánh nặng về kinh tế cho bản thân và gia đình.
- Cha mẹ trẻ dễ bị ức chế, tự ti và tuyệt vọng, nhất là người mẹ.
- Con cái của cha mẹ vị thành niên dễ phải gánh chịu khó khăn về kinh tế, tâm
lí, xã hội.
4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường.
Nhờ giáo dục giới tính thông qua bộ môn mà học sinh nắm được những kỹ
năng sống cơ bản. Trong từng tiết dạy nhờ giáo dục, uốn nắn, động viên, nhắc
nhở mà các em tiến bộ rõ rệt về kỹ năng giao tiếp. Cách xưng hô với bạn bè có
cải thiện, thân mật hơn. Mối quan hệ giữa thầy cô, bạn bè gần gũi hơn, thân thiết
hơn. Kỹ năng nói của các em cũng tiến bộ rõ nét. Các em không còn rụt rè, e
ngại khi học về giới tính hay cấu tạo cơ quan sinh dục nữa.
Hơn nữa các em đã biết giải thích những hiện tượng xảy ra chính trên cơ thể
mình, các em đã biết giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh trường lớp, nhà cửa. Không kì
thị, xa lánh những người chẳng may bị bệnh HIV-AIDS.
Các em đã biết được những dấu hiệu thay đổi trên cơ thể ở độ tuổi dậy thì
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
6
18,18% 19
57,58% 8
24,24% 0
0
8A 33
Kết quả thu được về chất lượng giáo dục kỹ năng sống qua các năm ( lớp 8)
Năm học
Tự tin vào bản thân
Xử lý tốt tình huống
trong cuộc sống
2012-2013(chưa lồng ghép
50%
35%
giáo dục giới tính)
2013-2014 (lồng ghép
87%
72%
giáo dục giới tính )
2014-2015 (lồng ghép
giáo dục giới tính )
Đối với nhà trường:
Tăng cường công tác dự giờ, thao giảng, hội giảng, sinh hoạt chuyên đề cấp
tổ, cấp trường dạy minh họa chuyên đề kỹ năng sống cho học sinh, nhằm trao
đổi kinh nghiệm nâng cao giáo dục giới tính cho các em thông qua bộ môn nói
chung và bộ môn sinh học 8 nói riêng.
20
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ môn sinh học, Đại học Y khoa, Hà Nội (1998). Bài giảng Sinh lí học,
tập 1. NXB Y học, Hà Nội
2. Lê quang Long, Trương Xuân Dung, Tạ Thuý Lan, Trần Thị Loan, Nguyễn
Quang Mai, Quách Thị Tài (1996). Bài giảng sinh lí người và động vật. NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội
3. Lê Quang Long (1986). Sinh lí người và động vật, NXB Giáo dục, Hà Nội
4. Nguyễn Quang Mai, Trương Xuân Dung, Trần Thị Loan, Quách Thị Tài,
(2000). Giải phẫu sinh lí người, Tập 1. NXB Giáo dục, Hà Nội
5. Trần Xuân Nhĩ (1983) Giải phẩu sinh lí người. NXB Giáo dục, Hà Nội
6. Tạ Thuý Lan, Võ Văn Toàn (2002). Một số vấn đề về sinh lí sinh dục và
sinh sản. NXB ĐHQG Hà Nội.
7. Nguyễn Quang Vinh, Trần xuân Nhĩ (1987). Giải phẫu sinh lí người. NXB
Giáo dục, Hà Nội
8. Nguyễn Quang Vinh, Trần Đăng Cát, Đỗ Mạnh Hùng. Sinh học 8, NXB
Giáo dục
9. Đinh Quang Báo (1998). Sinh học. NXB Giáo dục
10. Trịnh Hữu Hằng, Đỗ Công Huỳnh (2001). Sinh lí người và động vật,
NXB Khoa học và kĩ thuật
11. Nguyễn Như Hiền, Chu Văn Mẫn (2002). Sinh lí người, NXB Khoa học
và kĩ thuật