skkn giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì - Pdf 50

PHẦN A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Thực hiện theo chỉ thị của ngành: “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Nhưng làm sao để phát huy tính
tích cực của học sinh đang là vấn đề lớn cần giải quyết.
Thực tế giảng dạy đã cho thấy rằng chỉ khi nào học sinh tích cực chủ động
tiếp thu kiến thức thì kết quả giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học
sinh mới đạt kết quả cao nhất.
Vậy làm thế nào để phát huy được tính tích cực của học sinh trong học
tập? Đây là vấn đề không hề đơn giản nhưng lại rất cấp thiết trong thực tế giảng
dạy hiện nay.
Sinh học là một trong những bộ môn khoa học thực nghiệm. Trong quá
trình giảng dạy giáo viên thường sử dụng phương pháp thí nghiệm, vấn đáp…để
giúp học sinh tìm ra kiến thức. Sinh học lớp 8 chủ yếu nghiên cứu về cơ thể
người. Nếu sử dụng phương pháp dạy học đó để truyền đạt kiến thức cho học
sinh thì hiệu quả giảng dạy đôi khi chưa cao. Vậy giáo viên phải kết hợp sử
dụng phương pháp như thế nào để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng và cảm thấy
thích thú học tập bộ môn?
Hơn thế nữa tuổi dậy thì là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con lên người lớn với
nhiều thay đổi rõ rệt về tâm sinh lý. Đây là lứa tuổi diễn ra bao điều kỳ diệu,
cái tuổi cơ thể có những biến đổi bất ngờ. Lứa tuổi đó tính tình người ta như
thay đổi, đôi điều rắc rối, những nỗi băn khoăn tưởng như không ai giải đáp
được. Rắc rối vậy mà biết mấy tự hào, bởi mình đang lớn lên, đang trưởng
thành.
Vì thế việc “Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ
thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì” là một việc vô cùng quan trọng,
nó không chỉ giúp các em có cái nhìn rõ ràng hơn về cơ thể mà qua đó còn
biết cách bảo vệ cơ thể và có những mối quan hệ bạn bè trong sáng hơn,
lành mạnh hơn.
Với kinh nghiệm qua nhiều năm dạy bộ môn Sinh học lớp 8, để góp phần
giáo dục học sinh tôi mạnh dạn đưa ra một ý kiến rút ra được trong suốt quá

bộ môn sinh học 8 nói riêng ở trường THCS.
Qua tham khảo nhiều tài liệu liên quan đến giáo dục giới tính cho học
sinh.
Đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy, từ thực tế việc học bộ môn
Sinh học của học sinh.
Phương pháp thực tế tức là theo dõi sự thay đổi tâm sinh lí của chính học
sinh mình đang giảng dậy qua các năm.
Ngoài ra có thể tìm hiểu thêm thông tin và nhận các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản từ:
- Các sách tham khảo có từ thư viện trường học.
- Các giáo viên bộ môn sinh học, giáo dục công dân, văn học,…
- Cán bộ y tế của các cơ sở y tế, các cộng tác viên dân số và cán bộ đoàn
thể nơi bạn đang cư trú.
- Tại các trung tâm tư vấn và dịch vụ thân thiện cho vị thành niên tại địa
phương của bạn.
V. Những điểm mới của SKKN
- SKKN dùng hình ảnh trực quan đưa vào giải quyết vấn đề thực tiễn, từ
đó đưa ra biện pháp giáo dục.
- Có kiểm tra đối chứng.
- Tích hợp vào nội dung các bài học cụ thể.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lý luận
“Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể và
quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì” đây là một trong những nội dung của phong
trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, là xu hướng của xã hội
hiện đại.
Bên cạnh đó khả năng đáp ứng của bộ môn sinh học, đặc biệt sinh học 8
đối với đề tài này là rất lớn, tin tưởng đội ngũ giáo viên của chúng ta có thể tiếp
cận và thực hiện được.
2

lại hiệu quả giáo dục thiết thực.
Trang thiết bị, phục vụ cho công tác dạy học bộ môn sinh học từng bước
được đầu tư.
Đa số học sinh chăm ngoan, ham học và cầu tiến.
Phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình.
Giáo viên dạy bộ môn sinh học tâm huyết, vững về tay nghề, có kiến thức
xã hội và kỹ năng sống chuẩn mực.
* Khó khăn
Các vùng đặc biệt khó khăn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số với
phong tục tập quán còn nhiều lạc hậu, trình độ dân trí thấp, nhận thức của nhân
dân còn nhiều hạn chế, đời sống của bà con tuy có cải thiện nhưng còn không ít
khó khăn.
Nhận thức xã hội giữa vùng khó khăn so với các vùng thuận lợi khác
khoảng cách còn rất lớn, kỹ năng sống của con em vùng khó nói riêng còn nhiều
hạn chế, yếu kém.
Sự quan tâm đến việc học hành, giáo dục con em của phần lớn bà con địa
phương chưa được chú trọng, chủ yếu giao trắng cho nhà trường.
3


Sự đầu tư trang thiết bị của nhà nước đối với trường học thuộc các xã
vùng sâu vùng xa còn rất hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp thu
kiến thức của các em cũng như khả năng phát triển các năng lực tư duy, các kỹ
năng sống cần thiết khác.
Chế độ đãi ngộ đối với giáo viên chưa kịp thời ảnh hưởng không nhỏ đối
với công tác giảng dạy và giáo dục học sinh.
3. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động thực trạng trên
Giáo viên dạy bộ môn sinh vững về tay nghề, có kinh nghiệm về giáo dục
kỹ năng sống, tâm huyết, yêu ngành, yêu trẻ, hết lòng vì học sinh thân yêu.
Trong chương trình sinh 8, nội dung xuyên suốt nói về cơ thể con người

hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp thu kiến thức của các em cũng như khả
năng phát triển các năng lực tư duy, các kỹ năng sống cần thiết khác.
Bên cạnh nhiều phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình
vẫn còn không ít phụ huynh hầu như không quan tâm, để mặc các em muốn học
thì học, không học thì thôi, hoặc ép các em bỏ học đi làm phụ giúp gia đình. Để
4


các em lập gia đình sớm....vv, việc giáo dục các em thông qua mối quan hệ giữa
nhà trường - gia đình – xã hội thiếu hiệu quả.
Giáo viên dạy bộ môn sinh vững về tay nghề, có kinh nghiệm về giáo dục
kỹ năng sống, hết lòng vì học sinh. Tuy nhiên chế độ đãi ngộ đối với giáo viên
chưa kịp thời ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy và giáo dục học
sinh nói chung và bộ môn sinh học nói riêng.
Đa số các em học sinh thường rất yêu thích bộ môn sinh học nhất là sinh
học 8 vì môn sinh học 8 cung cấp một số kiến thức cơ bản về cấu tạo và chức
năng của các hệ cơ quan trong cơ thể người. Qua đó giúp các em học sinh hiểu
và vận dụng các kiến thức đó vào cuộc sống, vào việc vệ sinh cơ thể, tránh xa
các tác động xấu ảnh hưởng đến bản thân. Nâng cao năng lực nhận thức và các
kỹ năng sống cần thiết khác.
III. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Nội dung “Giáo dục giới tính” được tích hợp trong các nội dung của các
bài học đặc biệt là chương sinh sản, nên các phương pháp “Giáo dục giới tính”
cũng được tích hợp vào các phương pháp giảng dạy bộ môn. Tuy nhiên, muốn
đạt được mục tiêu của “Giáo dục giới tính” là không chỉ giúp cho người học có
kiến thức mà phải hình thành cho họ sự quan tâm, có hành vi đúng với bản thân,
với quan hệ bạn bè, nên không chỉ đừng lại ở phương pháp dạy truyền thống mà
nên kết hợp với việc sử dụng các phương pháp tích cực sẽ phát huy được tính
chủ động sáng tạo của người học. Một số phương pháp “Giáo dục giới tính” có
thể sử dụng là:

tuổi dậy thì chính thức ở người con gái, tuổi đã có khả năng sinh con.
* Thụ tinh –Thụ thai:
Nếu trứng gặp được tinh trùng trong ống dẫn trứng ( ở 1/3 phía ngoài), sẽ
xảy ra sự thụ tinh để tạo thành hợp tử. Hợp tử phân chia và bám vào lớp niêm
mạc tử cung đã được chuẩn bị sẵn để làm tổ và phát triển thành thai gọi là sự thụ
thai.
2. Phương pháp giảng giải
Đây cũng là phương pháp dùng lời nói, thường sử dụng khi giải thích các
vấn đề. GV nêu ra các dẫn chứng để làm rõ những kiến thức mới và khó về giới
tính.
VD: Khi nói về cấu tạo cơ quan sinh dục nam Giáo viên có thể giải thích
cho học sinh vị trí của tinh hoàn là nằm ngoài cơ thể vì việc sản xuất tinh trùng
tại ống sinh tinh cần nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể (330C– 340C).
3. Phương pháp vấn đáp
Trong phương pháp này GV đưa ra câu hỏi, HS trả lời, cũng có khi HS
hỏi GV trả lời hoặc giữa HS và HS…
Ví dụ: Các biện pháp giữ gìn vệ sinh cơ thể trong tuổi dậy thì:
1. Đối với nam giới
+ Hỏi: Tuổi dậy thì của nam giới xuất hiện ở lứa tuổi nào?
+ Đáp: Khoảng 11 – 12 tuổi.
+ Hỏi: Dấu hiệu nào đánh dấu dậy thì chính thức ở nam?
+ Đáp: Xuất tinh lần đầu. Quanh quy đầu là nơi đọng các chất dịch sinh
dục, vài giọt nước tiểu, mồ hôi. Cần giữ gìn vệ sinh: kéo bao quy đầu ra sau, rửa
sạch sẽ bằng nước sạch và xà phòng.
* Giảng giải: Ngoài ra còn có những dấu hiệu khác:
- Lớn nhanh, cao vượt, cơ bắp phát triển, vai rộng ngực nở. Chọn quần áo
kích cở phù hợp với cơ thể.
- Mọc ria mép, lông nách, lông mu. Tuyến mồ hôi, tuyến nhờn phát triển. Cần
thường xuyên vệ sinh thân thể, nếu không tốt gây ra các bệnh về da liễu hay là
nơi trú ẩn của những vi khuẩn gây ra các chứng bệnh như hôi nách.

nơi trú ẩn của những vi khuẩn gây bệnh.
- Bộ phận sinh dục và vú phát triển. Phải chọn và mặc quần áo lót phù
hợp với cơ thể đồng thời phải kín đáo và không gây khó chịu cho cơ thể.
Trong thời gian dậy thì cả nam và nữ đều có hiện tượng xuất hiện mụn
trứng cá. Đó là vì các tuyến nhờn bên dưới da tăng cường hoạt động, đào thải
nhiều qua da. Khi một chút bã nhờn không thoát khỏi mặt da nó dần dần tích lại
thành một “cục” nhỏ màu trắng trắng vàng vàng, chính là trứng cá. Không nên
nặn mụn, vì nặn khiến mụn lan ra.
Ngoài ra, trong thời gian này cả nam và nữ thường mắc một chứng “bệnh”
mà dễ bị người khác phát hiện nhất, đó là bệnh hôi nách. Thực ra đây không
phải là bệnh gì, mà cũng có cách xử lý được. Dậy thì làm cho các tuyến mồ hôi
tăng cường hoạt động, nách ẩm ướt hơn. Mùi ở nách là do các vi khuẩn phân
hủy mồ hôi này. Mỗi người một mùi, có người coi là đặc điểm nhận dạng, là sự
hấp dẫn riêng. Nhưng cũng có bạn thấy mùi hôi khó chịu. Bạn có thể giảm mùi
bằng cách mặc áo vải cốt - tông thấm ẩm và thoáng khí để mồ hôi dễ bay hơi và
quan trọng là tắm rửa, thay quần áo thường xuyên thì nách không kịp hôi. Có
bạn dùng chanh hoặc phèn chua xát vào nách sau khi tắm thấy đỡ mùi hôi, bạn
thử xem. Ngoài ra còn có thể dùng thuốc khử mùi.
4. Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan
Các phương tiện trực quan như: tranh ảnh, băng hình, phim ảnh...Đó là
các phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy các kiến thức về giáo dục giới
tính gây hứng thú và ấn tượng sâu sắc cho HS.
VD: GV khi dậy bài “Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai”
GV có thể dùng một số hình ảnh có liên quan như:

7


Dân số tăng nhanh
- Ý nghĩa của việc tránh thai

? Em nghĩ như thế nào khi hiện nay số lượng trẻ em vị thành niên có thai ngày
càng nhiều?
HS: Đây là một hiện tượng xấu, cần phải tránh. Muốn vậy phải trang bị
cho bản thân mình kiến thức về sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên, tránh
quan hệ tình dục ở lứa tuổi này. Phải có ý thức bảo vệ, giữ gìn bản thân, đó là
tiền để cho cuộc sống sau này .
Thông tin bổ sung:
Hiện nay, hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em gái từ 15 – 19
tuổi sinh con, chiếm 10% tổng số trẻ em sinh ra trên toàn thế giới. Ở Việt Nam,
hằng năm ở lứa tuổi vị thành niên có khoảng 120000 trường hợp phá thai (chiếm
10% tổng số người nạo phá thai) và đang có chiều hướng gia tăng.

Từ đó GV có thể chốt về cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai
1. Nguyên tắc tránh thai
- Ngăn trứng chín và rụng.
- Tránh không để tinh trùng gặp trứng.
- Chống sự làm tổ của trứng đã thụ tinh.
10


2. Biện pháp tránh thai

Một số biện pháp tránh thai
5. Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
Lớp được chia thành các nhóm nhỏ (4-6 HS) được duy trì trong cả tiết
học hay thay đổi tuỳ theo hoạt động. Các nhóm được giao cùng nhiệm vụ hoặc
khác nhau. Các nhóm bầu nhóm trưởng, thư kí để ghi chép các ý kiến thảo luận.
Các bước tiến hành:
* Làm việc chung cả lớp: GV nêu vấn đề, phân công nhiệm vụ cho các nhóm,
cung cấp tài liệu.


Các con đường lây nhiễm HIV/AIDS
* Giải quyết vấn đề: HS quan sát hình ảnh kết hợp hiểu biết thực tế nêu ra các
con đường lây nhiễm HIV/AIDS là:
- Qua đường máu.
- Quan hệ tình dục không an toàn.
- Lây từ mẹ sang con.
GV hướng dẫn HS thảo luận để bảo vệ giả thiết của mình, bác bỏ các giả thiết
khác.
Tiếp theo GV cho HS xem một số hình ảnh mà còn không ít người hiểu
nhầm là sẽ lây nhiễm HIV/AIDS:

Bắt tay
Tiếp xúc thông thường Dùngchung bát đĩa
*Kết luận:
+ Các con đường lây nhiễm HIV/AIDS là:

Muỗi đốt

12


- Qua đường máu.
- Quan hệ tình dục không an toàn.
- Lây từ mẹ sang con.
+ Các con đường không lây nhiễm HIV/AIDS là:
- Giao tiếp thông thường: ôm hôn, bắt tay, nói chuyện, ho, hắt hơi,...
- Dùng chung nhà tắm, bể bơi, bồn tắm, mặc chung quần áo, ngồi chung ghế,...
- Ăn uống chung bát đũa, cốc chén,...
- Côn trùng đốt như muỗi.

13


“tinh thần hội” trở thành cực đoan, phát triển thành hiện tượng “bè phái”, coi
thường các bạn ngoài hội một cách vô lý, gây đố kỵ giữa các nhóm bạn, đôi khi
còn dẫn đến xô xát.
2. Ý thức về giới tính, những xao động tình cảm của tuổi mới lớn
Đến tuổi này ý thức của chúng ta về giới tính trở nên rõ rệt hơn trước. Có
thể bạn chú ý hơn đến cách ăn mặc, kiểu đầu tóc sao cho đẹp trai, xinh gái.
Trong các cuộc chuyện trò, bạn thích bàn luận về giới kia. Ý thức về giới len lỏi
vào trong quan hệ bạn bè. Gán ghép bạn này với bạn khác là một trò đùa khá
được ưa chuộng, nhiều khi làm cho người bị gán ghép phải bối rối. Một số bạn ở
tuổi này bắt đầu để ý đến những bạn khác giới. Đó là những rung động trong
sáng buổi ban đầu, có thể khiến bạn muốn hoàn thiện mình để đẹp hơn trong mắt
“người ta”.
3. Một hiện tượng đáng chê trách
Đa số các bạn gái thường phẫn nộ đối với việc một số bạn nam quấy nhiễu
bạn gái bằng những lời lẽ, hành vi xấu. Họ túm tụm đứng chắn ngoài cổng
trường, chọc ghẹo trên đường đến trường hoặc quấy nhiễm ngay trong lớp khiến
các bạn gái luôn nơm nớp lo sợ. Làm một số bạn gái không dám đến trường
hoặc về nhà. Còn những người không bao giờ biết ân hận vì những hành động
xấu của mình khi lớn lên sẽ mãi mãi không biết cách sống với người khác giới.
4. Một số tri thức bạn trẻ cần biết
Tình dục an toàn:
Lời khuyên hàng đầu đối với tuổi mới lớn là đừng vội yêu và nhất thiết
không nên quan hệ tình dục. Tuy vậy không thể phủ nhận sự thật là có những
bạn vội vàng trong việc ấy, kết quả là những sự cố phá thai hoặc sinh con rất đau
lòng. Lại cũng có những bạn mắc bệnh mà giấu diếm rất tội nghiệp, không chữa
trị nên có thể bị hậu quả về sau. Đang ở tuổi học tập, bạn trẻ chúng ta cần xây
dựng cho mình một nhân cách tốt và không ngừng trau dồi tri thức. Bổ sung cho

Không kì thị, xa lánh những người chẳng may bị bệnh HIV-AIDS.
Các em đã biết được những dấu hiệu thay đổi trên cơ thể ở độ tuổi dậy
thì giúp các em không phải hốt hoảng lo sợ khi thấy mình có dấu hiệu thay đổi
bất thường. Từ đó các em biết cách rèn luyện thân thể, các em nữ biết cách giữ
vệ sinh kinh nguyệt, phòng tránh các bệnh phụ khoa. Giúp các em nhận thức rõ
về giới từ đó tránh được các điều đáng tiếc xảy ra ở tuổi vị thành niên.
Đặc biệt chất lượng bộ môn tăng lên rõ rệt qua các lần kiểm tra cụ thể
như sau:
Năm học 2016 – 2017: Bài kiểm tra lần 1:
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Lớp Sĩ số
SL
TL% SL
TL% SL
TL% SL
TL%
4
10% 15
38,8% 20
51,2% 0
8A 39
Bài kiểm tra lần 2:
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Lớp Sĩ số

1. Kết luận
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của bản thân đã rút ra được trong
quá trình dạy môn sinh học 8. Đối với việc giáo dục giới tính cho học sinh
chúng ta phải tiến hành thường xuyên, kết hợp với theo dõi, kiểm tra, động viên,
nhắc nhở. Do ý thức của mỗi em cũng khác nhau nên không thể một sớm một
chiều các em thay đổi được.
15


Do vậy trong từng tiết dạy tùy nội dung bài mà giáo viên lồng ghép
giáo dục giới tính sao cho phù hợp, tránh tình trạng ôm đồm lo xoáy vào giáo
dục giới tính mà quên đi truyền thụ nội dung chính của bài học.
Giáo viên giảng dạy thông qua bộ môn tìm biện pháp lồng ghép linh
hoạt, nhẹ nhàng, hiệu quả nhằm giáo dục giới tính cho học sinh mà không ảnh
hưởng đến nội dung kiến thức của bài học. Do đặc trưng bộ môn nên việc thực
hiện đề tài này mang tính khả thi. Sau gần một năm thực hiện các em học sinh
có chuyển biến rõ rệt từ thái độ chuyển thành hình vi, quan hệ bạn bè, nếp sống
có văn hóa.
2. Kiến nghị
Đối với Giáo viên
Để lồng ghép giáo dục giới tính cho học sinh một cách có hiệu quả, người
thầy phải thực sự kiên trì, nhẫn nại, lòng yêu nghề, hết mình với học sinh, có
trách nhiệm cao trong công việc, không ngừng trau dồi kiến thức, kinh nghiệm..
chỉ có điều đó mới thật sự giúp người thầy hoàn thành tốt công việc, đồng thời
giúp các em yêu thích hơn, tích cực hơn trong từng tiết học.
Cần có sự đồng thuận cao của các thầy cô giáo ở tất cả các bộ môn.
Đối với nhà trường
Tăng cường công tác dự giờ, thao giảng, hội giảng, sinh hoạt chuyên đề
cấp tổ, cấp trường dạy minh họa chuyên đề kỹ năng sống cho học sinh, nhằm
trao đổi kinh nghiệm nâng cao giáo dục giới tính cho các em thông qua bộ môn

NXB Khoa học và kĩ thuật
11. Nguyễn Như Hiền, Chu Văn Mẫn (2002). Sinh lí người, NXB Khoa học
và kĩ thuật
12. Tạ Thuý Lan, Trần Thị Loan (2004). Giải phẫu sinh lí người. NXB Đại
học sư phạm.

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status