HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THANH PHƯƠNG
ĐỖ VĂN PHÚC
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN, CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CỦA CHUỘT NHẮT TRẮNG GIỐNG SWISS NHÂN NUÔI TRONG
MỘT SỐ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
2015
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ VĂN PHÚC
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN, CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC
CỦA CHUỘT NHẮT TRẮNG GIỐNG SWISS NHÂN NUÔI TRONG
MỘT SỐ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành : Thú y
Mã số
tập và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, anh em, bạn bè và
đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành
luận văn này.
Hà Nội, ngày 05 tháng 01 năm 2016
Tác giả
Đỗ Văn Phúc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục các từ viết tắt
vi
9
1.4. Sinh sản ở chuột nhắt trắng
12
1.4.1. Lứa tuổi sinh sản
12
1.4.2. Giao phối và ghép đôi
13
1.4.3. Mang thai và sinh con
15
1.4.4. Dinh dưỡng cho chuột sinh sản
16
1.5. Máu
17
1.5.1. Khái niệm về máu
17
2.4. Phương pháp nghiên cứu
26
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
3.1. Kết quả theo dõi thời gian mang thai của chuột Swiss
28
3.2. Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của chuột Swiss ở đợt ghép số 1
30
3.3. Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của chuột Swiss ở đợt ghép số 2
31
3.4. Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của chuột Swiss ở đợt ghép số 3
32
3.5. Một số chỉ tiêu sinh lý máu của chuột nhắt trắng giống Swiss
TÀI LIỆU THAM KHẢO
50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Tên viết tắt
1
KLCT
2
CIMADE
3
ĐVTN
Tên viết đầy đủ
Khối lượng cơ thể
Trung tâm nghiên cứu và sản xuất động vật thí nghiệm
9
NST
Nhiễm sắc thể
10
cs
Cộng sự
11
fl
femtolit
12
µl
micrôlit
13
g/dl
14
Chỉ tiêu sinh học của chuột nhắt trắng
10
1.2
Chỉ tiêu sinh sản của chuột nhắt trắng
11
3.1
Thời gian mang thai của chuột Swiss
28
3.2
Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của chuột Swiss ở đợt ghép số 1
30
3.3
Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của chuột Swiss ở đợt ghép số 2
31
3.4
Số lượng tiểu cầu của chuột nhắt trắng giống Swiss
43
3.10 Hàm lượng Protein trong máu chuột nhắt trắng Swiss
44
3.11 Hàm lượng glucose, chlesterol và triglycerid trong huyết thanh
45
3.12 Nồng độ một số ion trong huyết thanh
45
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
3.1
Tên hình
Tỉ lệ phần trăm theo thời gian mang thai của chuột Swiss
Trang
29
33
3.4
Ổ chuột lứa 1
35
3.5
Ổ chuột đẻ lứa 3, chuột con kích thước lớn , đồng đều
36
3.6
Ổ chuột đẻ lứa 3, chuột con phát triển tốt
36
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến loài chuột người ta thường nghĩ ngay đến chuột phá hoại mùa màng,
truyền dịch bệnh gây hại cho con người. Tuy vậy, ngoài những tác hại do chúng gây
ra, loài chuột cũng có những điểm có ích đối với khoa học.
nghiên cứu đó. Đặc biệt nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho bước chọn tạo, tạo dòng
thích hợp, trao đổi và hợp tác quốc tế từ đó góp phần nâng cao vai trò và đóng góp
của khoa Thú y và của Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực khoa học
ĐVTN, một lĩnh vực nối kết nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Sinh học Thú y - Y Dược - Môi trường…tại Việt Nam. Quan trọng hơn nữa động vật thí
nghiệm phục vụ cho công tác nghiên cứu sản xuất vắc xin rất cấp bách trong thú y
hiện nay.
Để chủ động cho việc cung cấp động vật thí nghiệm nói chung và chuột nhắt
trắng nói riêng đảm bảo số lượng và chất lượng, các cơ sở chăn nuôi động vật thí
nghiệm cần biết được nhu cầu sử dụng. Đặc biệt phải có sự hiểu biết rất rõ về các
đặc tính sinh lý sinh sản của loài động vật được nghiên cứu.
Cũng như các loài động vật có vú khác, sinh sản ở chuột nhắt trắng chịu ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố như: độ tuổi sinh sản, lứa đẻ, điều kiện nuôi dưỡng,...
Những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn tới tỉ lệ động dục, khả năng thụ thai, số con đẻ
ra và số con thu được sau quá trình nuôi theo mẹ.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định một số chỉ tiêu
sinh sản, chỉ tiêu huyết học của chuột nhắt trắng giống Swiss nhân nuôi trong
một số cơ sở nghiên cứu tại Hà Nội”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Bước đầu xây dựng các thông số tham chiếu về chỉ tiêu huyết học và chỉ tiêu
sinh sản của chuột nhắt trắng giống Swiss nuôi trong điều kiện Việt Nam.
3. Ý nghĩa của đề tài:
- Kết quả của đề tài sẽ là nguồn tài liệu để phục vụ công tác chăm sóc, nuôi
dưỡng, quản lý, khai thác chuột nhắt trắng sinh sản.
- Bổ sung thêm thông tin vào nguồn tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu.
- Nhằm tăng số lượng chuột nhắt trắng cung cấp phục vụ thí nghiệm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
trắng ở Trung Quốc từ 1100 năm trước công nguyên. Chuột nhắt trắng cũng được
các nhà viết sử thời Hy Lạp và La Mã nhắc đến.
Vào những năm 1700, chuột đã được nuôi, buôn bán làm vật cảnh ở Trung
Quốc, Nhật Bản và châu Âu. Vào thời Nữ hoàng Anh Victoria, đã có giải thưởng
cho chuột cảnh “Fancy”. Năm 1895, Walter Maxey khởi xướng, người Anh sáng
lập ra “Câu lạc bộ Chuột quốc gia”. Đến thế kỷ XX, đã có rất nhiều con chuột cảnh
có màu lông khác nhau do sản phẩm của lại ghép.
Vào thời kỳ này, học thuyết di truyền của Gregor Mendel đã tác động mạnh
lên giới khoa học, chuột nuôi đã được chọn là động vật thí nghiệm nghiên cứu di
truyền. Năm 1902, chuột là động vật có vú đầu tiên dùng để chứng minh Định luật
Mendel. Người ta cũng nhanh chóng nhận ra cần phải có dòng chuột nuôi thuần
chủng để nghiên cứu.
Các chương trình lai tạo giống chuột đã được thực hiện tạo ra các chủng
chuột dùng trong các mô hình nghiên cứu khác nhau phục vụ nghiên cứu sinh y học.
Theo Nguyễn Bá Tiếp, chuột và chuột nhắt là những loài có đóng góp rất
nhiều cho nghiên cứu khoa học. Nói đúng hơn, con người đang cậy thế của mình để
bắt buộc chuột và nhiều loài động vật khác phải chịu thiệt thòi, chịu chết vì sự tồn
tại và cái được gọi là "chất lượng cuộc sống" của loài người. Vì cần protein, người
đã ăn thịt nhiều loại động vật trong đó có thịt chuột. Trong các thử nghiệm thuộc
nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau người ta lại cần đến động vật (trong đó chuột
chiếm tỷ lệ cao nhất).
Với khả năng sinh sản nhanh chóng, không đòi hỏi mặt bằng rộng và không
cầu kỳ về thức ăn, chuột được nuôi và nhân đàn một cách dễ dàng. Hơn nữa, do tính
tương đồng cao trong bộ gen của chuột và bộ gen của người nên hiện nay chuột
được coi là đối tượng số 1 cho các nghiên cứu Y sinh học.
hình được sử dụng ưu thế nhất trong nghiên cứu y sinh học. Mỗi năm có khoảng 17
đến 23 triệu con vật được sử dụng để nghiên cứu. Trong số đó, chuột chiếm đến
95% các nghiên cứu trên mô hình động vật. Sở dĩ chuột được sử dụng rộng rãi trong
nghiên cứu y khoa là do kích thước nhỏ, giá thành rẻ, dễ nuôi, sinh sản nhanh, đặc
biệt đời sống ngắn (2 - 3 năm) nên có thể theo dõi được hết đời sống và có thể theo
dõi được cả vài thế hệ. Điểm quan trọng và quý giá nhất là đặc điểm sinh lý và di
truyền học của chuột rất gần với con người. Trên thực tế, mặc dù tinh tinh
(chimpanzee) có cấu trúc di truyền DNA 99% giống với con người, chuột có tỉ lệ
thấp hơn nhưng chuột vẫn luôn luôn là mẫu hình nghiên cứu được ưu tiên hàng đầu
trong nghiên cứu y học. Trong một thập niên gần đây, các nhà khoa học còn nâng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
cấp mô hình nghiên cứu chuột lên một tầm cao mới là có thể làm thay đổi cấu trúc
gen trong chuột để gây ra các bệnh lý giống như bệnh lý ở người.
Cũng theo Nguyễn Đình Nguyên, ở châu Âu, Robert Hook được coi là người
đầu tiên sử dụng chuột để nghiên cứu thực nghiệm về oxy trong cơ thể sống vào
năm 1614. Từ đó, việc sử dụng chuột với các chủng đặc biệt trở nên ngày càng phổ
biến. Abbie Lathrop, một giáo viên nghỉ hưu người Mỹ, thích chuột và nuôi chúng
trong một trang trại của mình ở Massachusetts vào đầu thế kỷ XX. Năm 1902, các
dòng chuột nuôi của bà trở thành những con vật đầu tiên được Giáo sư Ernest Castle
đưa vào phòng thí nghiệm của Đại học Harvard và sau đó là Đại học Pennsylvania,
khi chúng được phát hiện thấy có mọc các khối u. Sau đó, học trò của Ernest là
Clarence Cook Little (1888-1971) là người có công đầu trong việc tạo các giống
chuột lai thuần chủng, lần đầu tiên được dùng trong nghiên cứu các bệnh ung thư có
tính di truyền. Ông đã tạo ra giống chuột DBA (Dilute, Brown, Agouti), tạm gọi là
chuột thí nghiệm; các chủng chuột đầu tiên do Little lai tạo và vẫn thông dụng cho
Hồng Nhung, 2008).
Tại Viện Kiểm định quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế, hai dòng chuột nhắt
trắng được nuôi phục vụ thí nghiệm là chuột Swiss, chuột nhắt trắng thuần chủng
BALB/c và chuột lang, hàng năm sản xuất và sử dụng lên đến hơn 15000 con chuột
Swiss, 1000 con chuột BALB/c và 1000 con chuột lang. Tuy nhiên, nhu cầu chuột
nhắt trắng đối với công tác kiểm định chất lượng các loại vắc xin và sinh phẩm y tế
không ổn định, không cố định về thời gian cũng như số lượng mẫu yêu cầu kiểm tra
chất lượng tại cùng một thời điểm. Trong một số trường hợp lượng chuột sản xuất
ra không được sử dụng do lượng mẫu ít nhưng cũng có thời gian chuột sản xuất rất
nhiều vẫn không đủ cung cấp cho thí nghiệm từ đó buộc phải đi mua từ cơ sở khác
để đảm bảo cung cấp kịp thời.
* Những tiến bộ trong việc tạo giống chuột trong phòng thí nghiệm
Mặc dù chuột được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu y sinh học nhưng
không phải tất cả các loại chuột đều dùng được. Các chủng chuột dùng trong nghiên
cứu y sinh hiện đại đều phải có cấu trúc di truyền xác định rõ. Các chủng chuột đã
xác định về mặt di truyền đều phải có cấu trúc giống hệt hoặc rất sát nhau để có thể
tái sinh sản theo cách cho lai thuần chủng các thế hệ trong thực nghiệm và để cho
có thể biết được kiểu hình và kiểu gen. Những thập niên gần đây, các nhà khoa học
đã có thể tạo ra những con chuột thí nghiệm có cấu trúc di truyền hoặc có kiểu hình
bệnh lý theo ý muốn qua các phương thức chuyển hoặc tách gen. Chuyển và tách bỏ
gen trong chuột để phục vụ cho mục đích nghiên cứu là một cuộc cách mạng trong
công nghệ sinh học. Chuột chuyển gen là chuột được cấy vào cơ thể một gen ngoại
lai và chuột tách gen là tách bỏ hoặc bất hoạt một hay một đoạn gen đặc hiệu nào đó.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Chuột nhắt trắng (Mus musculus), được lựa chọn là mô hình nghiên cứu chuẩn
trong phòng thí nghiệm y sinh do khả năng thích nghi cao và khả năng có thể lai tạo
Page 8
1.3. Chuột nhắt trắng
Theo RIVM (2000), chuột nhắt trắng là một loài động vật được sử dụng rất
phổ biến. Chúng là thành viên bộ gặm nhấm, họ Muridae, chi Mus. Các nhà khoa
học gọi chuột thí nghiệm là Mus dometicus dometicus (hay Mus musculus
domesticus). Chuột có vóc dáng nhỏ, sinh sản nhanh tạo ra số lượng lớn trong thời
gian ngắn, dễ chăm sóc, giá thành rẻ.
Chuột nhắt trắng có bộ răng mọc dài liên tục, vì thế thức ăn phải có độ cứng
chắc nhất định. Chúng là loài ưa hoạt động về đêm, ăn nhiều hơn vào thời gian
chuyển từ tối sang sáng và từ sáng sang tối. Chuột nhắt trắng có kích thước nhỏ, khi
trưởng thành chiều dài chỉ đạt 12-15cm tính từ mũi tới đuôi, chiều dài của đuôi dài
tương đương chiều dài của cơ thể. Chuột đực thường có kích thước lớn hơn so với
chuột cái. Tuy nhiên, kích thước và KLCT của chuột phụ thuộc nhiều vào giới tính,
giống và tuổi của chuột, chế độ ăn, số lượng chuột được nuôi trong mỗi lồng và đặc
biệt là điều kiện môi trường nuôi dưỡng.
Chuột nhắt trắng động dục sớm, từ khoảng 5-7 tuần tuổi ở chuột đực và 4-6
tuần tuổi ở chuột cái, tuổi thành thục sinh dục ở chuột đực là 10 tuần và chuột cái
khoảng 8-10 tuần, chuột cái có thể có chu kỳ động dục lần đầu khi mới 25-28 ngày
tuổi. Thời gian mang thai của chuột ngắn khoảng 20 ngày, số lượng con sinh ra mỗi
lứa từ 4-15 con, đây là đặc điểm rất thuận lợi để tạo ra một số lượng động vật thí
nghiệm lớn trong một khoảng thời gian ngắn.
Cũng bởi vì kích thước nhỏ cho nên các đặc tính sinh lý của chuột nhắt trắng
dễ bị ảnh hưởng và thay đổi rất nhanh khi điều kiện môi trường xung quanh thay
đổi. Nếu nhiệt độ phòng nuôi tăng hoặc giảm đi 2 - 30C có thể làm thay đổi đặc tính
sinh lý của con vật.
Chuột nhắt trắng rất nhạy cảm với mùi, tiếng động và thay đổi thời tiết. Tuy
nhiên, loài vật này lại kém nhạy cảm với màu sắc đặc biệt là màu đỏ. Vì thế, đối với
phòng nuôi chuột nhắt trắng cần đảm bảo luôn sạch sẽ, thoáng mát và tránh tiếng
40
Lượng thức ăn thu nhận
15g/100g KLCT/ngày
3 – 6 g/ngày/con
Lượng nước uống
15g/100g KLCT/ngày
4 – 7 ml/ngày/con
Lượng nước tiểu thải ra
1 - 1,5ml/ngày
-
Vòng đời (năm)
1,5 - 2
-
Nhiệt độ trực tràng (oC)
37 - 380C
Bảng 1.2: Chỉ tiêu sinh sản của chuột nhắt trắng
Chỉ tiêu
RIVM
J.P. Bennet và
Johan van der
B.H.Vickey
Gim
Chuột đực:
50 ngày
10 tuần
(20 - 35g)
Chuột cái:
35 - 60 ngày
8-10 tuần
(20 - 30g)
Tuổi động dục lần đầu ( ngày)
19 - 21
19 (từ 17 đến 21)
19 (từ18 đến 21)
Thời gian mang thai giả (ngày)
10 - 13
-
-
Số lượng chuột con/lứa
4 - 12
11
6 - 12
Khối lượng sơ sinh (g)
0,5 - 1,5
1,5
1 - 1,5
(tuần)
Động dục sau sinh
Ghi chú: (-). Không có dữ liệu
Theo các tài liệu khác nhau, có sự khác nhau ở một số chỉ tiêu sinh lí và sinh
sản chửa chuột.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Chuột nhắt trắng giống Swiss là một dòng không thuần chủng được dùng rất
phổ biến trong các thí nghiệm trong các nghiên cứu sinh và y học.
1.4. Sinh sản ở chuột nhắt trắng
1.4.1. Lứa tuổi sinh sản
Chuột có thể giao phối và mang thai sớm nhất khi 4 tuần tuổi. Tuy nhiên, để
cho chuột sinh sản tại thời điểm đó sẽ rất khó khăn. Các nhà chuyên môn khuyến
cáo chỉ nên cho chuột sinh sản khi đạt 12 tuần tuổi trở lên, cho sinh sản quá sớm sẽ
ảnh hưởng tới chất lượng cả chuột mẹ và chuột con. Chuột mẹ và chuột con sẽ có
sức sống yếu và vòng đời của chuột sẽ rút ngắn.
Tùy thuộc vào dòng chuột, một con cái không nên nhân giống qua 8 tháng
tuổi, sau 8 tháng tuổi chuột trở nên già hiệu quả sinh sản sẽ giảm. Tuy nhiên, có một
số dòng chuột có thể nhân giống lâu hơn.
Theo Ruth Robinson (1995), chuột cái thành thục về tính từ rất sớm. Lần
động dục đầu tiên có thể xuất hiện khi chuột đạt 24 ngày tuổi. Tuy nhiên, chuột cần
phải đạt 7 - 9 tuần tuổi để đạt thành thục về thể vóc. Chuột cái có chu kỳ động dục
4-6 ngày. Độ dài chu kỳ động dục của chuột chịu ảnh hưởng bởi số lượng chuột
nuôi trong mỗi lồng. Nếu nuôi nhốt riêng lẻ, có thể chuột phát triển chu kỳ động dục
bất thường, có thể rất dài hoặc động dục liên tục. Nếu nhốt chuột cái với mật độ lớn,
tất cả chúng sẽ không động dục hoặc có biểu hiện mang thai giả, việc mang thai giả
Theo RIVM (2000), ở loài chuột, feromone đóng vai trò rất quan trọng đối
với quá trình sinh sản, chu kì động dục cũng như thời gian động dục chịu tác dụng
rất nhiều bởi feromones của con đực. Chuột cái có thể không động dục khi không
có mùi của con đực. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng cho rằng nếu chuột cái tiếp
xúc với một con đực lạ thứ hai 48 giờ sau khi giao phối thành công sẽ ngăn cản hợp
tử làm tổ và con cái sẽ động dục trở lại sau 4 - 5 ngày.
Điều này rất quan trọng trong quá trình chăm sóc chuột sinh sản, sự xuất
hiện feromones của con đực có khả năng gây động dục hàng loạt cũng như ngăn cản
mang thai trong quá trình vệ sinh, thay lồng chuột hàng ngày.
Theo John (1990), trong thời gian mang thai 19 - 21 ngày, chuột cái sẽ không
tiết sữa. Nếu xảy ra quá trình giao phối ở lần động dục đầu tiên sau khi sinh, chuột có
thể đồng thời vừa tiết sữa vừa mang thai. Quá trình tiết sữa có thể làm kéo dài thời gian
mang thai tăng thêm 3-5 ngày. Động dục sau sinh có thể xảy ra trong vòng 24 giờ.
1.4.2. Giao phối và ghép đôi
Tốt nhất là ghép thành cặp một đực và một cái. Tuy nhiên, phải đảm bảo
lồng chuồng đủ rộng trong quá trình ghép đôi, ngoài ra phải đảm bảo chất lượng và
số lượng chất lót chuồng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Các nhà khoa học tại đại học California cho rằng: với 2 - 4 con cái ghép cùng
một con đực trong 1 lồng cho kết quả sinh sản tốt. Nếu duy trì liên tục một con đực và
một con cái trong 1 cái lồng, chúng có thể sinh sản theo chu kỳ liên tục 18 - 28 ngày.
Đối với loài chuột từ khi thành thục về tính hoặc sau khi ghép đôi, chuột đực
thường xảy ra hiện tượng đánh nhau. Nếu cho tiếp xúc với một cá thể lạ dễ gây ra
hiện tượng cắn nhau. Vì thế, khi ghép chuột phải đúng cách để tránh tình trạng cắn
nhau. Khi ghép chuột, chuột đực và chuột cái nên được tiếp xúc một khoảng thời
phối với con cái tại thời điểm đó.
Có thể sử dụng quy trình kiểm soát cân nặng của chuột cái để đánh giá chuột
mang thai hay không nhưng nó không đảm bảo hiệu quả 100%. Con cái sẽ giảm
một vài gam trong vòng một hoặc 2 ngày sau khi giao phối, sau đó trọng lượng bắt
đầu tăng dần khi chuột mang thai. Một số trường hợp sau khi ghép, chuột tăng trọng
nhưng không phải do chuột mang thai (mang thai giả) hoặc ngược lại có một số
chuột không tăng trọng nhiều trong suốt thời kỳ mang thai.
Một số chuột có thể ăn con sơ sinh của mình nếu có mùi của con khác. Tuy
nhiên, các nghiên cứu cho thấy một con chuột cái có thể tự hủy bỏ và hấp thụ bào thai
của mình bất cứ lúc nào sau khi mang thai 2 ngày nếu có mùi của con đực khác so với
con đực đã ghép. Nguyên nhân của vấn đề này là do kích thích tố, những kích thích tố
này gửi tín hiệu đến khi có con chuột đực khác. Trong trường hợp này là do con đực
mới có sức sống mạnh hơn, có khả năng tốt hơn trong việc duy trì nòi giống, con cái có
thể hủy bỏ thai để chuẩn bị cho một chu kỳ động dục mới. (Johan, 1990; RIVM, 2000).
1.4.3. Mang thai và sinh con
Chuột nhắt trắng có thời gian mang thai trong khoảng 19 - 21 ngày tối đa là
24 ngày sau khi ghép ngày cuối cùng. Khi mang thai, chuột tăng trọng lượng rất
nhanh. Chuột cái sắp đẻ, bụng to quan sát giống như nuốt một quả bóng. Tuy nhiên,
một số trường hợp chuột không thay đổi hình dạng trong suốt quá trình mang thai.
Một số chuột cái khi mang thai bụng rất to nhưng khi sinh lại được ít con,
một số khác nhìn nhỏ hơn nhưng lại mang thai với số lượng lớn. Một số mang thai
số lượng ít nhưng kích thước con lớn và một số trường hợp mang thai với số lượng
nhiều nhưng kích thước con nhỏ nên rất khó phân biệt. Kích thước mang thai của
chuột mẹ không quyết định số con chuột mẹ có khả năng sinh ra.
Theo Johan (1990), số lượng chuột con đẻ ra trong một lứa trong khoảng từ 6
đến 12 con, thời gian mang thai trong khoảng 18 - 21 ngày, chuột con có thể cai sữa
từ 18 - 21 ngày và có trọng lượng khoảng 8 - 12g.
Chuột cái sinh sản khoảng 4 - 7 con mỗi lứa và giai đoạn mang thai là 19
ngày. Con con sinh ra chưa mở mắt và không có lông. Con cái đẻ khoảng 8 lứa
1.4.4. Dinh dưỡng cho chuột sinh sản
Thành phần của thức ăn trong quá trình nuôi dưỡng có một tác động lớn lên
sức khỏe, hiệu xuất chuyển hóa của động vật.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16