HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI QUỐC VIỆT
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA VIỆC SỬ DỤNG
TỎI PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH VÀ TĂNG NĂNG SUẤT
SINH SẢN TRÊN GÀ ĐẺ GIỐNG TẠI VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI QUỐC VIỆT
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA VIỆC SỬ DỤNG
TỎI PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH VÀ TĂNG NĂNG SUẤT
SINH SẢN TRÊN GÀ ĐẺ GIỐNG TẠI VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60.64.01.01
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS. BÙI THỊ THO
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc
sử dụng tỏi phòng trị một số bệnh và năng suất sinh sản trên gà đẻ giống
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các anh chị công nhân
hợp tác xã chăn nuôi Thanh Vân đã tạo điều kiện để tôi được học hỏi kinh
nghiệm thực tế và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực tập tại
cơ sở.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới nhà trường, Ban chủ
nhiệm khoa Thú y, bộ môn Nội – Chẩn – Dược – Độc chất cùng các Thầy
Cô đã dạy dỗ tôi trong suốt thời gian qua.
Và để hoàn thành đề tài này, tôi còn nhận được sự động viên khích lệ
của những người thân trong gia đình và bạn bè. Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Học viên
Bùi Quốc Việt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ............................................................................................... i
Lời cảm ơn ................................................................................................... i
Lời cảm ơn ..................................................................................................ii
Mục lục ..................................................................................................... iii
Danh mục chữ viết tắt ................................................................................ vi
Một số hiểu biết về cây tỏi ................................................................ 7
1.2.1. Đặc điểm của cây và sự phân bố ....................................................... 7
1.2.2. Bộ phận dùng và cách chế biến ......................................................... 9
1.2.3. Thành phần hóa học........................................................................ 10
1.2.4. Tác dụng dược lý ............................................................................ 12
1.3.
Nguồn gốc, đặc điểm và tính năng sản suất của gà Ai Cập ............. 18
1.4.
Một số bệnh thường gặp trên gà đẻ ................................................. 20
1.4.1. Hội chứng giảm đẻ ......................................................................... 20
1.4.2. Bệnh Cúm gia cầm ........................................................................ 21
1.4.3. Bệnh Newcastle .............................................................................. 22
1.4.4. Bệnh Gumboro ............................................................................... 23
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
1.4.5. Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gia cầm (CRD) ..................... 23
1.4.6. Bệnh Cầu trùng............................................................................... 24
1.4.7. Hội chứng tiêu chảy ở gà ................................................................ 25
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................. 27
2.1.
Tình hình chăn nuôi và công tác thú y tại hợp tác xã Thanh Vân .... 35
3.1.1. Tình hình chăn nuôi chung tại hợp tác xã Thanh Vân ..................... 35
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
3.1.2. Công tác vệ sinh phòng dịch và kết quả điều tra theo dõi tình
hình bệnh trên đàn gà đẻ thí nghiệm ............................................... 35
3.1.3. Kết quả điều tra tình hình bệnh trên đàn gà đẻ của hợp tác xã
Thanh Vân .................................................................................. 38
3.2.
Ảnh hưởng của tỏi đến tăng năng suất sinh sản trên đàn gà đẻ từ
155 đến 290 ngày tuổi với các chỉ tiêu ............................................ 41
3.2.1. Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến khối lượng trứng ........ 41
3.2.2 Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến sản lượng trứng và
tỷ lệ đẻ của đàn gà .......................................................................... 45
3.2.3. Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến chất lượng trứng
trước khi ấp nở ............................................................................... 52
3.2.4. Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến chất lượng trứng
trong khi ấp nở (trứng không có phôi, trứng tắc, trứng thối) ........... 53
3.2.5. Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến chất lượng gà giống
1 ngày tuổi. ..................................................................................... 55
3.3.
Ảnh hưởng của tỏi bổ sung vào thức ăn đến tỷ lệ nuôi sống và
Infectious Bronchitis
ILT : Infectious Laringotiacheitis
NC : Nghiên cứu
ND : Newcastle Disease
SS:
So sánh
TĂ:
Thức ăn
TL:
Tỷ lệ
TT:
Thể trọng
TN:
Thí Nghiệm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
Hình 2.1. Tỏi củ bảo quản tại trang trại để phục vụ thí nghiệm.................. 27
Hình 2.2. Ánh tỏi bóc sạch trước khi nghiền mịn trộn với thức ăn............. 28
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn khối lượng trứng trung bình .......................... 43
Hình 3.2. So sánh tỷ lệ đẻ và tỷ lệ trứng loại giữa hai lô thí nghiệm và
đối chứng trước khi bổ sung tỏi vào thức ăn. ............................... 48
Hình 3.3. Tỷ lệ gà đẻ và tỷ lệ trứng loại giữa lô thí nghiệm và lô đối
chứng. ......................................................................................... 50
Hình 3.4.Trứng gà Ai Cập. ........................................................................ 52
Hình 3.5. Gà con giống Ai Cập. ................................................................ 57
Hình 3.6. Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ nuôi sống gà con. ................................... 60
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi là giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao
gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế nông hộ, chiếm 19%
tổng thu nhập nông hộ, xếp thứ hai sau chăn nuôi lợn (Cục chăn nuôi,
2006). Khi kinh tế của nước ta ngày càng phát triển nên nhu cầu đời sống
nhân dân ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng. Để phát triển nông
nghiệp bền vững, chăn nuôi an toàn không bị dịch bệnh là điều mà mọi địa
phương, mọi quốc gia đều mong muốn. Chỉ như thế mới có thực phẩm
sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn, chất lượng tốt đến với người tiêu dùng.
Khuynh hướng sử dụng “thực phẩm sạch”, “thực phẩm tự nhiên” là
mong ước cần đạt được. Do nhu cầu ham lợi mà trong thực tế vẫn còn sử
dụng chất kích thích: các hormon, kháng sinh trị liệu,…gây tăng trọng và
để tồn dư trong thịt, trứng làm hại đến sức khỏe cộng đồng. Để đảm bảo
phát triển nông nghiệp an toàn, bền vững và thân thiện với môi trường. Các
nhà chăn nuôi cần áp dụng các quy trình sinh học tổng hợp để phòng bệnh
cho vật nuôi. Một trong số các hướng nghiên cứu có khả năng thực thi tốt
đó là việc sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đã đang và sẽ
được nhiều nhà chuyên môn quan tâm. Các sản phẩm có nguồn gốc thảo
dược đã khắc phục tồn lưu trong các sản phẩm động vật. Theo Bùi Thị Tho
(2009), thuốc có nguồn gốc thảo dược thường dễ kiếm, quy trình bào chế
đơn giản, giá thành lại rẻ, dễ sử dụng, ít gây độc hại, lại có hiệu quả cao
trong phòng và trị bệnh, không để lại tồn dư có hại trong các sản phẩm
chăn nuôi. Trong số các loại dược liệu dùng làm thuốc phải kể đến Tỏi.
Người cổ xưa coi tỏi là “thần dược” trị bách bệnh. Xuất phát từ thực tế và
để hiểu rõ hơn về hiệu quả kinh tế của tỏi bổ sung vào thức ăn đối với gà
đẻ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của
việc sử dụng tỏi phòng trị một số bệnh và tăng năng suất sinh sản trên gà
đẻ giống tại Vĩnh Phúc”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Từ xa xưa để tồn tại con người đã biết tìm kiếm thức ăn và các vị
thuốc trong cây cỏ thiên nhiên. Vì vậy, những hiểu biết về phân biệt cây cỏ
có lợi và có hại được truyền miệng, ghi chép và đúc kết thành kinh nghiệm
truyền qua các thế hệ loài người.
Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực Đông dược, Y dược cổ truyền
đã và đang thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học thế giới và Việt
Nam. Trong nhân y các nhà khoa học trong nước đã chú ý đến việc sử dụng
các thảo dược thực vật trong phòng và trị bệnh truyền nhiễm; ký sinh trùng;
nội; ngoại; sản khoa,…Trong lĩnh vực thú y việc nghiên cứu về cây thuốc
trong phòng trị bệnh cho vật nuôi còn ít và cũng chỉ giới hạn trong việc khai
thác áp dụng các bài thuốc cổ truyền.
Những nghiên cứu mới của Đỗ Tất Lợi (2000); Bùi Thị Tho và cs
(2009) đã chỉ ra rằng, tỏi và chế phẩm của nó có tác dụng rất tốt trên vi
khuẩn gây bệnh ở động vật: ức chế và tiêu diệt các mầm bệnh như vi khuẩn
Salmonella, E.coli. Đồng thời theo kết quả của Phùng Thị Kim Anh (2013);
Trần Ngọc Ánh ( 2014); Trần Huy Liệu (2014), dấm tỏi và chất chiết từ tỏi
còn có khả năng ức chế sự sinh sản và phát triển của cầu trùng thỏ và gà ở
giai đoạn sinh sản vô tính,... đồng thời giúp tăng cường khu hệ vi sinh vật
có lợi cho khả năng tiêu hoá (Đặng Thị Thu Trang, 2013).
Theo Trần Quang Hùng (1995) cho biết, từ hai thập niên cuối thế kỷ
20 nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước Đông Nam Á đã sử dụng các
hoạt chất hoa cúc làm vị thuốc trị ngoại ký sinh trùng và sâu tơ phá hoại cây
trồng nông nghiệp. Các nhà khoa học Hàn Quốc: Lee I.R., Song J.Y., Lee
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Y.S. 1992 cũng đã nghiên cứu tác dụng chống ung thư của toàn cây quyền
công nghiệp với mục đích kích thích tăng trọng, giải độc alphlatoxin trong
thức ăn gia cầm và và chống viêm thử nghiệm trên thỏ.
Riêng mảng sử dụng các cây dược liệu trong trị ký sinh trùng thú y
của Nguyễn Văn Tý (2002), đã nghiên cứu tác dụng dược lý và sử dụng
nước chiết từ lá thuốc lào, thuốc lá, hạt na, vỏ rễ xoan, hạt cau, củ bách lộ, dây
thuốc cá, hạt củ đậu,…trên ve ký sinh của chó và bò trong phòng thí nghiệm.
Theo Nguyễn Văn Tý (2002), dịch chiết thuốc lào đã được làm ẩm bằng môi
trường NaOH 5% có nồng độ 0,4%; dịch chiết củ bách bộ được làm ẩm trong
môi trường HCl 5% có nồng độ 3%; dịch chiết hạt na đã được làm ẩm trong
môi trường NaOH 5% có nồng độ là 8% điều trị ve, ghẻ chó có hiệu quả cao.
Bùi Ngân Tâm (2003), đã nghiên cứu tác dụng dược lý của hạt củ đậu, rễ
thuốc cá, đâu sở đối với ngoại ký sinh trùng thú y. Tác giả đã sử dụng thuốc
mỡ của hạt củ đậu trị ve, ghẻ cho chó và bò cho kết quả rất cao.
Bùi Văn Tài (2009) sử dụng các bột bồ công anh trong thức ăn của gà
với mục đích kích thích sinh trưởng và phòng chống một số bệnh thường gặp
trên gà công nghiệp hướng thịt.
Trần Bá Thảo (2009) sử dụng bột bồ công anh trong phòng trị bệnh
lợn con phân trắng. Nguyễn Sỹ Khương (2010), đã sử dụng một số chế phẩm
từ tỏi để phòng trị bệnh lợn con phân trắng có kết quả tốt.
Đổng Thị Quyên (2013) sử dụng tỏi trong phòng, trị bệnh do E.coli
gây tiêu chảy trên thủy cầm (vịt và ngan) tại trung tâm nghiên cứu vịt Đại
Xuyên. Nguyễn Thế Hưng (2013) sử dụng dấm tỏi trong thức ăn cho vịt siêu
trứng đã làm tăng tỷ lệ trứng có phôi, giảm tỷ lệ trứng thối và tắc không nở
được. Tuy nhiên, việc sử dụng quá nhiều hoá chất, kháng sinh trong chăn
nuôi đã làm ảnh hưởng tới môi trường, sức khoẻ người tiêu dùng, phát sinh
các vi khuẩn kháng thuốc, tồn dư kháng sinh trong thịt và trứng. Qua nhiều
nghiên cứu cho thấy một số chế phẩm như gừng, nghệ, tỏi có tác dụng lớn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
thứ thuốc bổ; một phương thuốc chữa bách bệnh: kém ăn, khó tiêu, ho, tê
thấp, các bệnh vùng bụng, lách to, trĩ và cả bệnh ngoài da.
Theo Trần Tất Thắng (2000), từ nhiều năm, người nông dân ở Erzgebirge (vùng núi, hiện Cộng hòa Séc) ăn tối bằng xúp tỏi. Hai nắm tỏi
đầy được rửa sạch và cắt nhỏ đun chín với bơ và muối trong một nồi nước,
trong một thời gian. Món này có gia vị như xúp thịt bò, ăn thường xuyên sẽ
giữ cho gia đình khỏe mạnh. Ở Italia, Allium Sativum được coi là một
phương thuốc tuyệt vời khi bị say rượu. Tỏi cũng được ưa dùng tại Ý để
chữa bệnh dạ dày. Ở nước Nga, tỏi giã nhỏ trộn với mật ong được đưa ra
dùng để trị ho ra đờm. Trong y học dân gian của Pháp, thuốc tỏi đắp nóng
dùng đắp nên các vết thương mưng mủ. Trộn với nước anh đào dại (Ở Bắc
Mỹ) và mật ong chữa được ho. Các nước Pháp, Nam Đức, Ý tỏi được dùng
làm thuốc trong những trường hợp sau: 1) Chữa đau tai và đau răng. 2)
Nước ép tỏi còn mới dùng ngoài da trị ban mụn dộp; tẩm vào bông và nhét
vào lỗ tai để trị điếc thần kinh; xát dưới gan bàn chân và vùng quanh tim để
trị ho gà. 3) Thời trước tỏi cũng được coi là chất phòng các bệnh nhiễm
khuẩn. 4) Ăn tỏi sống hàng ngày để trị bệnh ho có đờm kéo dài và những
rối loạn ở vùng bụng. 5) Là phương thuốc trị chứng đỏ bừng mặt ở nam
giới, lấy một miếng tỏi nhét vào hậu môn thì khỏi, vừa có tác dụng nhuận
tràng. Các nhà khoa học đã có hàng ngàn công trình nghiên cứu về tác dụng
của các chế phẩm làm thuốc từ củ tỏi ta và hiện nay các nhà khoa học vẫn
đang tiếp tục nghiên cứu.
Tỏi ta – tên khoa học là Allium sativum L, họ hành tỏi: Liliaceae.
Có rất nhiều loại tỏi khác nhau như: Tỏi voi, tỏi Trung Quốc, tỏi Pháp,
tỏi gấu, tỏi ngọc, tỏi cô đơn (đảo Phú Quốc),…Trong số đó, tỏi cô đơn là tốt
nhất vì lượng hoạt chất dùng trị bệnh rất cao, bên nhân y nước ta đã sử dụng để
được ép dập trong nước, sau đó cất bằng hơi nước nóng thì được một chất
dịch có dầu tách khỏi phần nước của chất ngưng tụ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Dầu tỏi cất hơi nước được pha với dầu thực vật thành các sản phẩm tỏi
thương mại và là thứ dầu tỏi thông dụng nhất trên thị trường Âu Mỹ.
- Các sản phẩm tỏi ngâm dầu: Nghiền các tép tỏi và trộn với các loại
dầu thực vật (như dầu đậu nành, dầu mầm lúa mì, dầu lạc và các loại dầu
khác) trước khi các phân tử không tan trong dầu được tách ra.
- Chất chiết tỏi ngâm rượu để lâu: Tỏi chế biến theo kiểu này được làm
bằng các ngâm tỏi thái lát trong ethanol có nước 15 – 20% trong 20 tháng
rồi lọc và cô lại.
- Dấm tỏi: Ánh tỏi sau khi phơi khô bóc bỏ vỏ lụa, cân, nghiền mịn
trong máy xay sinh tố với dấm ăn (dấm gạo do nhà máy bia Hà Nội sản
xuất) theo tỷ lệ 1/1 tức 1kg ánh tỏi nghiền với 1lít dấm.
Những điều cần lưu ý khi dùng tỏi tươi và chế phẩm tỏi:
- Không nuốt cả tép tỏi nguyên mà phải nhai hay nghiền nhỏ.
- Không ăn tỏi lúc bụng đói (sẽ kích thích niêm mạc dạ dày, ợ nóng có
thể viêm thực quản).
- Không ăn quá nhiều tỏi thường xuyên (tối đa không quá 15g/ngày).
- Không đắp tỏi lên da lâu quá 10 phút (có thể bị bỏng rát).
- Những người bị dị ứng với tỏi không được đắp tỏi lên da để chữa bệnh.
- Khi dùng tỏi để trị giun kim không được dùng quá liều có thể bị
viêm ruột hoặc tiêu chảy.
1.2.3. Thành phần hóa học
Theo Trần Tất Thắng (2000); Đỗ Tất Lợi (2000), thành phần cấu tạo
alliin, fitonxit có công dụng diệt khuẩn, sát trùng, chống viêm nhiễm.
Ngoài ra, tỏi còn chứa hàm lượng lớn vitamin A, B6, B1,C, D, PP, hydrát
cacbon, polysaccarit, inulin, fitoxterin, khoáng chất khác cần thiết cho cơ
thể như: Iốt, canxi, phốt pho, magiê và nhiều nguyên tố vi lượng khác.
Trong củ tỏi khô có 50 - 65% nước, 2% chất vô cơ, glucid khá nhiều,
có 10 - 15% đường khử và saccharoza, chủ yếu là polysaccharid.
Khi tép tỏi còn nguyên: Alliin (một hợp chất sulfur) và men allinase có
lượng tương đương nhau. Mỗi thứ ở trong một ngăn riêng biệt. Khi giã nát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
củ tỏi sẽ có phản ứng thủy phân chuyển giữa alliin thành allicin dưới tác
đụng của enzym allinase. Allicin là hợp chất hữu cơ chứa sulfur, không bền
khi tiếp xúc với không khí sẽ được chuyển hóa thành diallyl disulfide,
vinydithiin là những chất có tác dụng dược lý. Bằng phương pháp sắc ký
lỏng cao áp người ta đã xác định được hàm lượng allicin trong tép tỏi tươi
sau khi giã nát một phút đã đạt 63%. Nhưng sau 30 phút tiếp xúc với không
khí chỉ còn 39% (vì đã chuyển hóa thành các chất nói trên). Trong môi
trường kiềm (pH = 8) phản ứng triệt để nhất. Trong môi trường acid (pH =
5) phản ứng chậm 50 lần.
1.2.4. Tác dụng dược lý
* Tác dụng kháng sinh:
Theo Đỗ Tất Lợi (2000); Bùi Thị Tho và cs (2009), trong tỏi tươi có
chất alliin, nhờ tác dụng của men allinaza biến thành allicin là chất chủ yếu
gây nên tác dụng đối với vi khuẩn. Ngoài ra còn phân lập được từ tỏi
gacxin là chất kháng khuẩn màu vàng, không độc, có tác dụng đến cả vi
khuẩn Gram (-) và Gram (+). Nước ép tỏi tươi có tác dụng với nhiều loại vi
khuẩn Gram (-) và Gram/(+) như sau:
30
Staphylococcus aureus 20gp
36
Steptococus haemolytycus
30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
+ Kháng khuẩn: Hoạt chất trong củ tỏi có khả năng ức chế 70 loại vi
khuẩn gram (-) và gram (+): Staphylococcus, Streptococcus, Salmonella,
E.coli, vi khuẩn gây bệnh tả, lỵ, vi khuẩn gây thối rữa.
+ Kháng virut: Tỏi có thể ngăn ngừa được một số bệnh gây ra do virut
như cúm, cảm lạnh, kể cả virut gây lở mồm long móng bò, ngựa, trâu.
+ Diệt ký sinh trùng và nguyên sinh động vật: Nước ép tỏi có tác
dụng chữa bệnh đường ruột. Với lỵ amip do antamocba histolytica gây ra
cũng bị diệt ngay ở dịch ép tỏi nồng độ thấp. Tỏi có tác dụng diệt giun sán
như giun đũa, giun kim, giun móc và trứng của chúng.
+ Xua đuổi và diệt côn trùng: Nhiều loại côn trùng như gián, muỗi rất
sợ mùi tỏi. Tỏi còn giết chết được các ấu trùng muỗi với liều lượng rất thấp
25ppm cho các chất chiết hoặc 2ppm cho dầu tỏi.
*Tác dụng đối với tim và hệ tuần hoàn
+ Tỏi làm giảm cholesterol và lipid: Khi dùng 2-3g tỏi tươi trong 1-2
tháng, hàm lượng lipid trong máu giảm. Một nghiên cứu gần đây của
* Tác dụng tăng cường hệ miễn dịch:
Tỏi có tác dụng đáng kể lên hệ miễn dịch giúp bảo vệ cơ thể,
phòng chống nhiễm trùng. Các tác dụng lên những interleukins là rất
quan trọng bởi chúng kích thích nhiều đáp ứng miễn dịch. Một phân
đoạn protein (F4) được phân lập từ một sản phẩm tỏi để lâu đã cho thấy
là có những tác dụng miễn dịch đáng chú ý. Trong ống nghiệm thấy nó
làm tăng hoạt tính của các đại thực bào màng ruột chuột,…Làm tăng sản
lympho T, làm tăng tính độc tế bào, tăng sinh sản lympho của máu ngoại
ở vi người (Hirao et al., 1993;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
* Tác dụng kháng viêm
Chất chiết tỏi cũng như allicin và diallyl disulfide đều có tác dụng ức
chế hoại tử. Những tổn thương ở niêm mạc dạ dày do cồn tuyệt đối gây ra
ở chuột, nhờ những chất này mà giảm đi hẳn.
* Tác dụng với rối loạn chuyển hóa của hệ thống các cơ quan.
Tỏi là một phương thuốc dân gian phổ biến trong nhiều năm. Tỏi
đặc biệt có lợi trong phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn dạ dày – ruột,
trong kích thích tiết dịch vị, các enzyme tiêu hóa và mật. Tỏi thường dùng
khi có mới xuất hiện những triệu chứng: mới chớm có hiện tượng xơ cứng
động mạch, rối loạn tuần hoàn ngoại vi, cao huyết áp, tăng lipid máu, tăng
cholesterol huyết, các rối loạn về thời gian đông máu kết tụ tiểu cầu, các
dạng tiểu đường nhẹ và giảm trí nhớ nói chung. Điều trị dự phòng xơ cứng
động mạch và nhồi máu.
+ Tác dụng lên hoạt lực của enzyme: Wills (1956) đã thử nghiệm tác
dụng của allicin tổng hợp tinh khiết lên 28 enzyme khác nhau. Ông đã chứng