nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa chất lượng ở thị xã ninh hòa tỉnh khánh hòa - Pdf 35

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN
------------

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN
 ------------

TRƯƠNG CÔNG CƯỜNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA CHẤT LƯỢNG
Ở THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành

: Khoa học Cây trồng

Mã số

: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. HỒ HUY CƯỜNG
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

HÀ NỘI - 2015

Page i



Xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên và
cổ vũ tôi hoàn thành tốt khóa học này.
Tác giả luận văn

Trương Công Cường

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC
Trang số
LỜI CAM ĐOAN

i

LỜI CẢM ƠN

ii

MỤC LỤC

iii

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

vi

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ


1.1.1. Nguồn gốc

5

1.1.2. Phân loại cây lúa

5

1.2. Lúa chất lượng

6

1.3. Đặc trưng của lúa chất lượng

6

1.3.1. Chất lượng xay xát

6

1.3.2. Chất lượng thương phẩm.

8

1.3.3. Chất lượng dinh dưỡng

9

1.3.4. Chất lượng nấu nướng


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

32

2.1. Vật liệu nghiên cứu

32

2.2. Nội dung nghiên cứu

32

2.3. Phương pháp nghiên cứu

33

2.3.1. Điều tra hiện trạng canh tác lúa ở thị xã Ninh Hòa- tỉnh Khánh Hòa

33

2.3.2. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số
giống lúa chất lượng ở thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

33

3.1.3. Nghiên cứu nhu cầu thị hiếu sử dụng gạo

55

3.2. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống
lúa chất lượng.

63

3.2.1. Đặc điểm nông sinh học bộ giống vụ đông xuân 2014

63

3.2.2. Tình hình sâu bệnh gây hại trong điệu kiện vụ đông xuân 2014

65

3.2.3. Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất bộ giống vụ đông xuân 2014

66

3.2.4. Đặc điểm nông sinh học bộ giống vụ hè thu 2014

68

3.2.5. Tình hình sâu bệnh gây hại trong điệu kiện vụ hè thu 2014

70

3.2.6. Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất bộ giống vụ hè thu 2014


82

3.3.5. Đặc tính nông sinh học 2 giống thí nghiệm phân bón vụ hè thu 2015

83

3.3.6. Tình hình sâu bệnh gây hại 2 giống thí nghiệm phân bón vụ hè thu 2015

86

3.3.7. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 2 giống vụ hè thu 2015

86

3.3.8. Hiệu quả kinh tế các công thức của 2 giống thí nghiệm vụ hè thu 2015

89

3.3.9. Kết quả phân tích tồn kim loại nặng giữa các công thức của 2 giống lúa

90

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

92

1. Kết luận

92


BNNPTNT

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

CL

Chất lượng

HTX

Hợp tác xã

HTXNN

Hợp tác xã Nông nghiệp

IRRI

Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế

TS

Tiến sĩ

CLC

Chất lượng cao

TX


HT

Hè thu

NSKS

Ngày sau khi sạ

NSS

Ngày sau sạ

DN

Doanh nghiệp

ĐP

Địa phương



Văn Điển

PTNT

Phát triển Nông thôn

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

3.2

Thực trạng sử dụng chủng loại và liều lượng phân bón cho lúa tại
các điểm điều tra

47

3.3

Thực trạng sử dụng chủng loại phân và thời điểm bón

50

3.4

Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên ruộng lúa

52

3.5

Nhu cầu mua bán chủng loại gạo tại các đại lý bán lẻ

54

3.6

Hiện trạng sử dụng gạo ở nhà hàng tiệm cơm

55

trong gạo

62

3.12

Một số đặc điểm nông học và thời gian sinh trưởng

63

3.13

Đánh giá tình hình chống chịu sâu bệnh của bộ giống thí nghiệm

64

3.14

Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

65

3.15

Một số đặc điểm nông học và thời gian sinh trưởng

68

3.16



75

3.21

Đặc điểm nông học các công thức thí nghiệm

76

3.22

Đánh giá tình hình chống chịu sâu bệnh của công thức thí nghiệm

78

3.23

Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

79

3.24

Hiệu quả kinh tế giữa các công thức thí nghiệm

81

3.25

Tình hình sinh trưởng phát triển của các công thức thí nghiệm

công thức phân bón khác nhau

89

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page viii


DANH MỤC HÌNH
TT Hình
3.1

3.2

3.3

Tên hình

Trang

Đồ thị diễn biến kết quả năng suất các giống lúa trong vụ
đông xuân 2014

67

Đồ thị diến biến kết quả năng suất các giống lúa trong vụ hè
thu 2014

72

ngàn giống lúa mới có năng suất cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu và đảm bảo an ninh
lương thực và xu hướng này luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tuy
nhiên, khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu lương thực và chất lượng lương thực
của con người sẽ càng tăng. Vì vậy, xu thế nghiên cứu và chọn tạo các giống lúa
đặc sản, chất lượng cao đã được các nhà khoa học nghiên cứu cách đây 2 thập kỷ và
cũng đã chọn tạo được nhiều giống lúa chất lượng cao, nhưng khi tạo được giống
lúa có chất lượng cao thì năng suất lại là yếu tố hạn chế. Do vậy, việc chọn giống
chất lượng cao luôn đi kèm với việc nghiện cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp để
nâng cao năng suất cũng như chất lượng các giống lúa giai đoạn hiện nay.
Theo FAO, lượng gạo trao đổi trên thị trường mỗi năm khoảng 25-26 triệu tấn.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều nước tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo, trong
đó 5 nước tham gia chính là Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan.
Việt Nam đã xuất khẩu được lúa gạo lớn thứ 2 sau Thái Lan nhưng trên thực tế giá
gạo của nước ta luôn thấp hơn nhiều Thái Lan và các nước khác. Người tiêu dùng
sử dụng nhiều và sẵn sàng trả giá cao hơn với các loại gạo thơm, ngon. Như vậy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


việc nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc những giống lúa có chất lượng cao là rất cần thiết,
phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của ngành sản xuất lúa gạo, góp phần cung ứng
cho nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nâng cao thu nhập cho người dân
và đem lại nguồn thu lớn cho đất nước. Mặc dù đã có những bước phát triển đáng
kể, song nhìn chung sản xuất nông nghiệp ở nước ta chưa thoát khỏi tình trạng sản
xuất nhỏ lẻ, như năng suất và khoa học kỹ thuật chưa tương xứng với tiềm năng,
trong đó có ngành sản xuất lúa gạo. Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), khi tham gia vào thị trường thương mại thế giới có sự
đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng nông sản. Do vậy, việc đầu tư từ sản xuất đến tiêu
thụ nhằm nâng cao hiệu quả là vấn đề rất cần thiết cho nước ta trong giai đoạn công

2.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị đất canh tác lúa ở thị xã
Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được các yếu tố hạn chế trong sản xuất lúa chất lượng ở thị xã
Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa.
- Xác định được giống lúa chất lượng có khả năng thích nghi với điều kiện tự
nhiên của thị xã Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa, năng suất đạt trên 55,0 tạ/ha và phù
hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nội địa.
- Xác định được một số biện pháp canh tác phù hợp để nâng cao năng suất
lúa chất lượng ở thị xã Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc xây dựng cơ sở khoa học
trong việc khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất đai và khí
hậu) cũng như biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp để nâng cao năng suất, chất
lượng và hiệu quả sản xuất lúa chất lượng ở thị xã Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa.
Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là cơ sở để các nhà khoa học, cán bộ kỹ
thuật và quản lý trong và ngoài tỉnh Khánh Hòa tham khảo để nghiên cứu, giảng
dạy, sản xuất và hoạch định chính sách về lĩnh vực sản xuất lúa chất lượng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài xác định được những yếu tố hạn chế cơ bản trong sản xuất lúa chất
lượng ở thị xã Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa, qua đó góp phần vào việc xây dựng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


định hướng và giải pháp hợp lý trong việc phát triển sản xuất lúa chất lượng ở vùng
nghiên cứu.

trồng lúa dần dần được du nhập sang Trung Quốc rồi tới Nhật Bản, Hàn Quốc (Bùi
Huy Đáp, 1980).
Về mặt thực vật học, lúa trồng hiện nay có nguồn gốc từ lúa hoang dại thông
qua quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Lúa trồng hiện nay thuộc họ
hoà thảo loại Oryza. Trên thế giới có hai loại cây lúa trồng, cây lúa trồng Oryza
sativa được thuần hoá ở châu Á nên được gọi là lúa trồng châu Á và cây lúa trồng
Oryza glaberrima được thuần hoá ở châu Phi nên được gọi là lúa trồng châu Phi
(Bùi Huy Đáp, 1999).

1.1.2. Phân loại cây lúa
Về phân loại lúa trồng Oryza sativa có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng
dựa trên cơ sở những kết quả nghiên cứu trước đây của các nhà phân loại học, Viện
Nghiên cứu Lúa Quốc tế đã thống nhất chia lúa trồng châu Á (Oryza sativa) thuộc
họ hoà thảo (Graminae), tộc Oryzae, có bộ nhiễm sắc thể 2n=12, thuộc genome
AA, thành 3 kiểu sinh thái địa lý hoặc ba loài phụ là Indica, Japonica và Javanica
(IRRI, 1985).
Lúa Indica thường trồng ở khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, có thân cao, dễ
đổ ngã, nhiều chồi, lá ít xanh và cong, kháng được nhiều sâu bệnh nhiệt đới, hạt gạo
dài hoặc trung bình, có nhiều tinh bột và năng suất kém hơn lúa Japonica.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


Lúa Japonica thường được trồng ở những vùng ôn đới hoặc những nơi có độ
cao trên 1.000 m so với mặt nước biển, có thân ngắn, chống đổ ngã, lá xanh đậm,
thẳng đứng, ít chồi, hạt gạo thường tròn, ngắn hoặc trung bình và dẻo khi nấu vì ít
chất tinh bột.
Lúa Javanica (bulu) hay lúa Japonica nhiệt đới được trồng ở Indonesia, có
đặc tính ở giữa hai loại lúa Japonica và Indica, hình thái gần giống như lúa

Do đặc tính nở hoa trên một bông lúa và giữa các bông trong một khóm không đều
nên các hạt chín không đều. Thời gian thu hoạch thường phải ước đoán để thu
hoạch nhằm đạt năng suất cao và tỷ lệ gạo gãy ít vì lúa chưa chín. Nếu thu hoạch
muộn, do có nhiều hạt quá chín sẽ bị rụng và nứt vỡ. Thời điểm tốt nhất cho thu
hoạch là sau khi hạt phơi màu 33-36 ngày. Lê Doãn Diên (1995), có nhận xét tỷ lệ
gạo nguyên thay đổi nhiều tuỳ theo bản chất giống và phụ thuộc nhiều vào điều kiện
ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ khi lúa chín và điều kiện bảo quản phơi sấy sau thu
hoạch. Cũng theo ông tỷ lệ gạo nguyên phụ thuộc vào kích thước, hình dạng hạt và
hàm lượng protein trong hạt .
Ngoài ra, các nghiên cứu của Heu M. H và S. Z. Park (1976). Cho thấy tỷ lệ gạo
nguyên còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như mức phân bón, thời điểm tiêu nước
và mật độ cấy.
Tỷ lệ gạo nguyên có mối quan hệ chặt chẽ với độ cứng của hạt và độ bạc
bụng, chịu ảnh hưởng lớn bởi kỹ thuật sau thu hoạch (gặt đập, phơi sấy, tồn trữ...).
Tỷ lệ gạo nguyên còn phụ thuộc vào thời điểm thu hoạch và tuốt lúa khác nhau.
Những nghiên cứu của Bùi Chí Bửu và cộng sự (1996), cho thấy tỷ lệ gạo nguyên
cao nhất khi thu hoạch vào lúc chín 28 - 30 ngày. Tiến hành thu sớm sau khi lúa trổ
20 ngày hoặc thu muộn sau khi lúa trỗ 35 ngày thì tỷ lệ gạo nguyên đều thấp.
Kích thước, dạng hạt và độ bạc bụng của hạt là những yếu tố ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng xay xát và đặc biệt là tỷ lệ gạo nguyên. Nghiên cứu của Yadav,
(2000) – (Trích Lê Doãn Diên 2003), cho thấy tỷ lệ gạo nguyên tăng tương quan với
sự giảm chỉ số dài/rộng hạt, hay nói cách khác hạt càng dài thì tỷ lệ gạo nguyên
càng thấp. Kích thước hạt và hình dạng hạt có ảnh hưởng đến chất lượng xay xát.
Với những giống có tỷ lệ D/R thấp thì tỷ lệ gạo nguyên cao, những giống có tỷ lệ
D/R cao thì tỷ lệ gạo nguyên thấp (Lê Doãn Diên, 1995).
Độ trong suốt của hạt gạo tuỳ thuộc vào tính chất của phôi nhũ, mức độ bạc
bụng với vết đục xuất hiện ở trên lưng, bụng hoặc ở trung tâm hạt gạo (gạo hạt lựu).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7

như Mitra (1962), Chang (1974), Nakatat và Jackson (1973), Somrith và cộng sự
(1979), Byerlee D. (1998). lại cho rằng tính trạng này là do nhiều gen kiểm tra và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


kích thước, khối lượng hạt di truyền đa gen.
Hình dạng hạt là kết quả của mối quan hệ giữa chiều dài, chiều rộng hạt và độ
dày hạt gạo. Những đặc điểm này là thuộc tính của giống và được di truyền trung
gian giữa hai bố mẹ (Virmani, 1994). Khi nghiên cứu về hình dạng hạt, Ramaiah
(1933) đã chứng minh rằng kiểu hạt ngắn, tròn trội hơn kiểu hạt dài hình ôvan, ông
đem lai giống hạt dài (>10 mm) với hạt ngắn (
Người ta thấy hàm lượng protein tăng ở những dòng áp dụng lượng phân bón cao
(Juliano, 1993). Hàm lượng protein thay đổi theo môi trường canh tác và yếu tố
phân bón khá rõ. Phân đạm có vai trò làm tăng cường quá trình tổng hợp protein mà
không làm thay đổi đặc tính phẩm chất của giống. Hàm lượng protein của các giống
có xu hướng tăng lên tỷ lệ thuận với lượng N bón tới mức 120 kg/ha. Lượng N bón
cao tới 150 kg/ha làm giảm lượng protein của tất cả các giống (Vũ Tuyên Hoàng và
cộng sự, 2001).
Theo nghiên cứu của Y.Wenchao et al. (1997), trên 7 giống lúa Japonica cho
thấy sự suy giảm chất lượng ăn uống không thể quy cho hàm lượng protein và
amyloza qua bảo quản vì hai hàm lượng này không thay đổi nhiều. Gạo được bảo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


quản nhìn chung hàm lượng axit béo tự do nhiều hơn gạo mới và vị ngon của gạo
bảo quản có thể được đánh giá bởi hàm lượng axit béo tự do.
Nâng cao hàm lượng và phẩm chất protein trong hạt gạo là mục tiêu chọn
giống của không ít các chương trình nghiên cứu trên thế giới. Năm 1970, những
nghiên cứu của IRRI (1970) đã khẳng định, trong mùa khô hàm lượng protein của
các giống IR20, IR22 cao hơn hẳn giống IR8 khi bón ở mức 150 kg N/ha làm nhiều
lần và bón vào lúc cấy, phân hoá đòng. Trong mùa mưa, hàm lượng protein không
ảnh hưởng đáng kể ở các giống. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiển
(1992), trên các giống lúa địa phương và nhập nội thì bón phân phối hợp NPK có
hiệu lực làm tăng hàm lượng protein trong hạt hơn là bón riêng rẽ.
Theo Nguyen Thi Lang et al. (2013), cải tiến phẩm chất hạt ở Đồng bằng
sông Cửu long được thực hiện trên nền tảng các cặp lai giữa Jasmine và dòng giống
cao sản, ngắn ngày. Hàm lượng protein trong hạt được xem như một trong những
chỉ tiêu quan trọng bị ảnh hưởng rõ rệt bởi thời gian tồn trữ.
Tuy nhiên, có sự tương quan nghịch giữa năng suất hạt và hàm lượng protein

amyloza trung bình sẽ không có hiệu quả, bởi vì ảnh hưởng tích luỹ về lượng của
amyloza sẽ xảy ra ở các thế hệ sau đó. Môi trường gây nên sự biến động đến hàm
lượng amyloza. Hàm lượng amyloza có thể biến đổi khoảng 6% ở cùng một số giống
khi chuyển vùng trồng từ nơi này đến nơi khác hay từ vụ này sang vụ khác. Hàm
lượng amyloza trong tinh bột nội nhũ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường
* Nhiệt độ hoá hồ:
Nhiệt độ hoá hồ là một tính trạng biểu thị nhiệt độ cần thiết để gạo thành cơm
và không hoàn nguyên. Gạo có nhiệt độ hoá hồ cao khi nấu tốn nhiệt, cơm không
ngon, độ trở hồ trung bình 70 - 74 0C là tiêu chuẩn tối ưu cho phẩm chất gạo tốt (Lê
Cẩm Loan, Khush, 1998). Tương quan giữa độ trở hồ và amyloza cũng chỉ ghi nhận
tương quan âm ở môi trường. Điều này cũng khẳng định 2 tính trạng amyloza và độ
trở hồ có tương quan chặt với kiểu gen, kiểu hình và môi trường (Bùi Chí Bửu và
cộng sự, 1996).
Nghiên cứu của Heu et al. (1976), cho thấy độ hoá hồ còn là tính trạng rất dễ
thay đổi theo sự thay đổi trong giai đoạn hạt vào chắc. Nghiên cứu của Lê Doãn
Diên (1995), đã kết luận, các giống lúa mùa ở nước ta đặc biệt là lúa Tám đều có độ
hoá hồ thấp hoặc trung bình, nhiều giống lúa chiêm và các giống lúa mới có nhiệt
độ hoá hồ cao.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


*Nghiên cứu về tính trạng độ bền gel
Trong cùng một nhóm có hàm lượng amyloza cao giống nhau (>25%), giống
lúa nào có độ bền thể gel mềm hơn, giống lúa đó được ưa chuộng nhiều hơn (Dong
et al., 2013). Cơm nấu có độ bền thể gel cứng sẽ khô cứng nhanh hơn cơm nấu có
độ bền thể gel mềm. Kiani et al. (2008), ghi nhận độ bền thể gel được kiểm soát bởi
đơn gen, như geca điều khiển độ bền thể gel trung bình, gecb điều khiển độ bền thể
gel mềm.


Page 13


thác tính trạng thơm của các giống cổ truyền vẫn là hướng ưu tiên trước mắt. Cải
tiến dạng hình cây lúa thơm bằng phương pháp chọn dòng thuần đã được áp dụng
thành công ở Việt Nam đối với một số giống như: nàng hương, tám xoan (Bùi Chí
Bửu và cộng sự, 1996).
Singh A. et al. (2010) xác định tính thơm do ba gen trội bổ sung. Trong trường
hợp đột biến, Nguyễn Minh Công và cộng sự (2007) xác định tính thơm cúa lúa Tám
Xuân Đài được kiểm soát bởi ít nhất 2 gen lặn tác động cộng tính. Tám Thơm Hải Hậu
đột biến mất thơm hoặc thơm nhẹ là do đột biến trội phát sinh từ các locus khác nhau.
Sarawgi et al. (2010) nghiên cứu tổ hợp lai Gopalbhog và Krishabhog (không thơm)
kết luận mùi thơm của Gopalbhog được kiểm soát bởi một gen lặn, ở tổ hợp lai
Tarunbhog/Gangabarud cho biết một gen trội quy định mùi thơm của Tarunbhog.
SARHADI W.A. et al. (2011), cho rằng tỷ lệ không thơm và thơm là 3:1.
Độ bền thể gen là một trong những chỉ tiêu có tính chất quyết định đến chất
lượng cơm, giống có độ bền thể gen mềm thì cơm sẽ ngon. Trong cùng một nhóm
giống có hàm lượng amyloza giống nhau, giống lúa nào có độ bền thể gen mềm hơn
giống đó sẽ được ưa chuộng hơn (G. S., Juliano B. O.,1991).
Sự nở dài hạt cơm là một tính trạng đặc biệt sau khi nấu chín. Giống lúa nào
có khả năng nở dài hạt cơm nhiều thì cho phẩm chất cơm mềm và xốp hơn (Bùi Chí
Bửu và cộng sự, 1996). Một số giống lúa như Basmati (Ấn Độ, Pakistan), Bahra của
Afghanistan, Domsia của Iran... có khả năng nở dài gấp đôi so với chiều dài hạt gạo
làm cho phẩm chất cơm mềm và xốp.
Độ bền thể gen biến động rất lớn giữa các vụ gieo trồng và vùng gieo trồng
khác nhau. Điều này có thể giải thích vì sao các giống lúa đặc sản khi được gieo
trồng ở vùng có điều kiện sinh thái khác thì chất lượng thay đổi (Tang S. X., Khush
G. S., Juliano B. O., 1991).
1.4. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa chất lượng

nhiệt đới (ICRISAT). Ấn Độ cũng là nước có những giống lúa chất lượng cao nổi
tiếng trên thế giới như: Giống Basmati, Brimphun, trong đó giống lúa Basmati có
giá trị trên thị trường lên tới 850 USD/tấn trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổi
tiếng trên thế giới cũng chỉ có giá trị 460 USD/tấn (Báo Nông thôn 7/5/2004).
Nhật Bản là một trong 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu thế giới, tuy diện
tích không lớn. Công tác chọn tạo giống lúa của Nhật Bản đặc biệt chú trọng vì đòi
hỏi cơm phải ngon. Để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng cao, các Viện và các Trạm nghiên
cứu giống lúa chất lượng được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status