BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------
---------
NGUYỄN VĂN DŨNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN VI LƯỢNG
DẠNG CHELATE ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN,
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG
DƯA CHUỘT TẠI THANH BA - PHÚ THỌ
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ
: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN ANH TUẤN
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả trong luận văn này hoàn toàn trung thực và
chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào.
Tôi xin đảm bảo số liệu trong luận văn được chính bản thân tôi theo dõi và
Đỗ Xuyên, Huyện Thanh Ba, Tỉnh Phú Thọ đã trực tiếp giúp đỡ tôi thực hiện đề
tài này.
Cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên và tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Dũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các bảng
2.3 Ý nghĩa của đề tài
2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ dưa chuột trên thế giới và Việt Nam
những năm gần đây
3
1.1.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ dưa chuột trên Thế giới
3
1.1.2 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ dưa chuột tại Việt Nam
4
1.2 Vai trò của các NTVL đối với cây trồng
1.2.1 Mối liên quan giữa các nguyên tố vi lượng và trao đổi chất
6
6
1.2.2 Các NTVL và quá trình quang hợp
11
27
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
27
2.2 Nội dung nghiên cứu
28
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
28
2.4 Phương pháp nghiên cứu
28
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm:
28
2.4.2 Kỹ thuật trồng
30
2.4.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi
30
3.2.1 Ảnh hưởng của Luvina bón qua đất đến chiều cao cây, chiều dài
lóng, số nhánh hữu hiệu và động thái ra lá của dưa chuột
37
3.2.2 Ảnh hưởng của Luvina bón qua lá đến chiều cao cây, chiều dài
lóng, số nhánh hữu hiệu và động thái ra lá của dưa chuột
39
3.2.3 Thảo luận về ảnh hưởng của Luvina đến sinh trưởng sinh dưỡng
của dưa chuột giống VL106 và VL118
41
3.3 Ảnh hưởng của Luvina đến hàm lượng diệp lục trong lá
43
3.3.1 Ảnh hưởng của Luvina bón qua đất đến hàm lượng diệp lục trong lá
44
3.3.2 Ảnh hưởng của Luvina bón qua lá đến hàm lượng diệp lục trong lá
44
3.4 Ảnh hưởng của Luvina đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của dưa chuột
50
3.6 Ảnh hưởng của phân Luvina đến năng suất của dưa chuột
53
3.6.1 Ảnh hưởng của phân Luvina bón qua đất đến năng suất lý thuyết
và năng suất thực thu của dưa chuột
53
3.6.2 Ảnh hưởng của phân Luvina bón qua lá đến năng suất lý thuyết và
năng suất thực thu của dưa chuột
54
3.6.3. Thảo luận chung về ảnh hưởng của phân Luvina bón qua lá đến
năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của dưa chuột
56
3.7 Ảnh hưởng của Luvina đến chất lượng quả
57
3.7.1 Ảnh hưởng của Luvina bón qua đất đến cấu trúc quả và chất
lượng quả
3.7.2 Ảnh hưởng của Luvina bón qua lá đến cấu trúc quả và chất lượng quả
57
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Thực trạng sản xuất dưa chuột trên Thế giới năm 2012
4
1.2
Vai trò của các NTVL được phát hiện qua các năm
7
1.4
Đánh giá mức độ cung cấp vi lượng của đất Việt Nam
1.4
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina XXI bón qua đất đến động
thái ra lá của cây dưa chuột.
3.5
39
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina XXI bón qua lá đến chiều cao
cây cuối cùng, chiều dài lóng và số nhánh hữu hiệu của cây dưa chuột
3.6
40
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina XXI phun qua lá đến động
thái ra lá của cây dưa chuột.
3.7
41
Ảnh hưởng của liều lượng phân vi lượng Luvina XXI bón qua đất
đến chỉ số SPAD của cây dưa chuột.
3.8
44
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina XXI phun qua lá đến chỉ số
SPAD của cây dưa chuột.
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina XXI bón qua lá đến mức độ
nhiễm bệnh hại trên cây dưa chuột (TN2)
3.13
48
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina bón qua đất số hoa cái, tỷ lệ
đậu quả, số quả/cây và khối lượng quả dưa chuột
3.14
50
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina XXI bón qua lá số hoa cái, tỷ
lệ đậu quả, số quả/cây và khối lượng quả dưa chuột
3.15
51
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina XXI bón qua đất đến năng
suất các giống dưa chuột.
3.16
53
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina XXI bón qua lá đến năng
suất các giống dưa chuột.
Tên hình
Trang
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina bón qua lá đến năng suất các
giống dưa chuột
3.2
54
Ảnh hưởng của phân vi lượng Luvina bón qua lá đến năng suất các
giống dưa chuột.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
55
Page viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
FAO
: Food and Agriculture Organization of the United Nations
XNK
: Xuất nhập khẩu
: Số lá cuối cùng
NL
: Nhắc lại
NSLT
: Năng suất lý thuyết
NSTT
: Năng suất thực thu
CCCC
: Chiều cao cây cuối cùng
NSTT
: Năng suất thực thu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
MỞ ĐẦU
2. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân vi lượng chelate đến sinh trưởng, năng suất
và chất lượng một số giống dưa chuột phổ biến tại địa phương. Từ đó xác định
được liều lượng phân vi lượng chelate thích hợp đối với từng giống dưa chuột
nghiên cứu.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Xác định được ảnh hưởng của phân vi lượng dạng chelate bón lá và bón
qua đất đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng các giống dưa chuột nghiên cứu.
- Xác định được phương thức sử dụng và liều lượng phân bón thích hợp nhất
cho dưa chuột trong điều kiện sản xuất tại vùng sản xuất dưa chuột tại Đỗ Xuyên,
TX. Phú Thọ, Phú Thọ.
2.3. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học
mới về ảnh hưởng của phân bón vi lượng dạng chelate đến một số hoạt động
sinh lý, sinh trưởng, khả năng nhiễm hoặc chống chịu sâu bệnh; mối liên quan
giữa chúng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất, chất lượng của
các giống dưa chuột.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học để xây dựng
phương pháp sử dụng phân bón tối ưu nhằm tăng năng suất, chất lượng của các
giống dưa chuột.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
NĂNG SUẤT
(Kg/ha)
SẢN LƯỢNG
(Tấn)
Thế giới
2,109,651
30,874.3
65,134,078
Trung Quốc
Cameroon
Iran
Liên bang Nga
Thổ Nhĩ Kỳ
Ukraine
Iraq
Hoa Kỳ
Indonesia
Ấn Độ
Ai Cập
Thái Lan
Ba Lan
Kazakhstan
Mexico
115
100
QUỐC GIA
41,739.1
48,000,000
1,025.6
200,000
22,857.1
1,600,000
18,849.8
1,281,788
27,648.9
1,741,878
17,968.3
1,020,600
9,439.3
505,000
16,911.8
901,060
9,940.8
511,525
6,339.6
168,000
23,546.5
613,880
10,600.0
265,000
30,460.1
Nhu cầu tiêu dùng dưa chuột và các dạng sản phẩm chế biến từ dưa chuột đang
tăng mạnh kể từ cuối năm 2008. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim
ngạch xuất khẩu dưa chuột và các sản phẩm chế biến từ dưa chuột 5 tháng đầu năm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
2009 đạt hơn 22,2 triệu USD, tăng 155,6% so với cùng kỳ 2008. Tháng 6 năm 2009,
kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này đạt gần 1,9 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất
khẩu dưa chuột nửa đầu năm 2009 lên 24,1 triệu USD. Trong đó, tỷ trọng xuất khẩu
sang 3 thị trường là Nga, Nhật Bản và Rumani chiếm ưu thế vượt trội (chiếm 77,5%
tổng kim ngạch).
Có 33 thị trường nhập khẩu dưa chuột từ Việt Nam, trong đó Liên Bang Nga
đạt kim ngạch cao nhất với 12,3 triệu USD, tăng 155% so với cùng kỳ. Đây cũng là thị
trường đạt kim ngạch cao nhất kể từ đầu năm 2008 đến nay. Sản phẩm dưa chuột và
các sản phẩm chế biến từ dưa chuột được người tiêu dùng Nga rất ưa chuộng.
Thực trạng sản xuất và tiêu thụ dưa chuột tại Thanh Ba - Phú Thọ.
Những năm 1990 khi chưa tách tỉnh, phong trào trồng dưa chuột ở Vĩnh Phú
rất phát triển. Sau các Huyện Tam Dương, Tam Đảo thì Thanh Ba là huyện có diện
tích dưa chuột đứng thứ 3 toàn tỉnh chủ yếu ở các xã Đỗ Xuyên, Lương Lỗ và
Hoàng Cương. Sở dĩ phong trào trồng dưa phát triển mạnh vì có Công ty Chế biến
rau quả Tam Dương bao tiêu đầu ra. Song sau đó, do thị trường biến động, phong
trào trồng dưa chuột đã dần mai một.
Từ năm 2000 đến nay, phong trào trồng dưa phát triển mạnh trở lại ở xã Đỗ
Xuyên và một phần xã Lương Lỗ. Chỉ tính riêng tại xã Đỗ Xuyên, diện tích trồng
dưa đã tăng từ 20 ha năm 2000 lên 170 ha năm 2012. Dưa được trồng nhiều vào vụ
thu đông trên đất lúa 2 vụ, tuy nhiên do có diện tích đất bãi lớn nên vẫn có khoảng
40% diện tích chuyên canh dưa các vụ khác trong năm. Theo ước tính năng suất
dưa tươi đạt trung bình 1,8 - 2 tấn/sào. Vào cao điểm, có ngày xã cung cấp cho thị
cơ thể thực vật thì trong đó có 11 nguyên tố đa lượng (chiếm 99,95% khối lượng
chất khô), 63 nguyên tố còn lại là vi lượng và siêu vi lượng, chỉ chiếm 0,05% (Lê
Văn Tri, 2001). Ngày càng có nhiều NTVL được tìm ra và chứng minh tác động
của chúng đối với các hoạt động sinh lý cụ thể của thực vật.Chúng phải được đưa
vào cơ thể đều đặn và mỗi nguyên tố dinh dưỡng có một vai trò nhất định, sự
thiếu hụt của bất kỳ nguyên tố nào đều ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển
của cây.
1.2.1. Mối liên quan giữa các nguyên tố vi lượng và trao đổi chất
* Mối liên quan giữa NTVL và enzyme
Hiện nay đã biết khoảng 1000 hệ enzyme và khoảng 1/3 số hệ enzyme này
được hoạt hoá bằng các NTVL kim loại. Việc nghiên cứu và phát hiện ra mối liên
quan khăng khít giữa các NTVL và các Enzyme đã giúp hiểu rõ được cơ chế tác
dụng và nguyên nhân hoạt tính sinh học mạnh mẽ của các enzyme, đồng thời nó
cũng thúc đẩy sự phát triển nhanh của ngành sinh hoá học. Học thuyết enzyme-kim
loại (metalloenzyme) đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm của cả hóa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
sinh học và sinh lý học hiện đại.
Bảng 1.2. Các NTVL được phát hiện qua các năm
Nguyên tố
Năm phát hiện
Được phát hiện bởi
Iron
1938
D.L.Arnon and P.R.Stout
Chlorine
1954
T. C Broyer và cs
Nickel
1987
P. H. Brown và cs.
(Theo Horst Marscher, 1988)
Các amino acid và nhóm cacboxy trong enzyme hình thành các liên kết
đồng hóa trị với kim loại và đóng vai trò quan trọng trong việc định hình cấu trúc
không gian của phân tử enzyme. Trong trường hợp này, các NTVL được liên kết
một cách bền chắc với enzyme và có tính chất đặc trưng không thể thay thế được
bằng những kim loại khác, những enzyme như vậy là những enzyme kim loại thật
sự. Ví dụ như các enzyme xytocrom, catalaza, tyrozinaza, lactaza… chứa đồng.
NTVL còn đóng vai trò trực tiếp trong các chuyên hoá hoá học như trong quá trình
chuyển electron trong các hệ thống enzyme oxi hóa - khử. Chúng là thành phần bắt
buộc cấu trúc nên nhóm hoạt động của phân tử enzyme.
- Cu tham gia thành phần các enzym xúc tác các phản ứng oxi hóa khử như
oxi hóa axit ascobic, diphenol và hidroxyl hóa các monophenol như
ascocbatoxydase, polipheno oxydase, tirozinase.
- Fe là thành phần bắt buộc trong hàng loạt enzyme oxy hóa khử có nhóm
chất giữa enzyme hoặc cơ chất và kim loại làm tăng hoạt tính xúc tác của kim loại
đó lên gấp bội. Ngược lại, các kim loại cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt tính
xúc tác của protein mang enzyme và nhóm hoạt động.
- Sự oxy hóa acid ascorbic (Vitamin C) được xúc tiến nhanh gần 1000 lần
nhờ enzyme Ascobate oxidase chứa Cu.
- Mg2+ hoạt hóa các enzyme mà cơ chất đã được phosphoryl hóa như
Pyrophosphatase (Cơ chất là Pyrophosphatase), Adenosintriphotphaphatase (Cơ
chất là ATP).
- Mn tham gia hoạt hóa một số enzym của chu trình krebs: decacboxylase và
dehydrogenase. Theo Bunell (1988 - dẫn bởi Horst Marschner,1988) Mn hoạt hóa
khoảng 35 loại enzyme khác nhau trong đó phần lớn là các enzyme xúc tác cho các
phản ứng oxi hóa khử, phản ứng khử cacboxy và phản ứng thủy phân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
- Theo Khalidova và Kositosin (1975 - dẫn bởi Horst Marschner, 1988) thiếu
Zn hoạt động của các enzyme carboncydara trong lục lạp giảm và việc tổng hợp
pritease bị hạn chế.
Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguyên tố vi lượng không
những không có tác dụng hoạt hóa enzyme, mà ngược lại có tác động ức chế
enzyme. Tác động ức chế này thường thấy ở các kim loại có khả năng gây biến tính
protein của enzyme.
- Kết quả nghiên cứu của Ilyas (2012 - dẫn bởi Phùng Trung Hùng và
Nguyễn Phước Long) thực hiện trên P. ostreatus cho thấy, trong môi trường nuôi
cấy có bổ sung ion Co2+ với nồng độ thấp (0,1 mM) hoàn toàn không ảnh hưởng
đến sự sinh tổng hợp laccase, ở nồng độ ion này càng cao thì sự ức chế sinh trưởng
đối với enzyme này càng tăng.
- Ảnh hưởng của Cd2+ lên hoạt tính laccase cũng khác nhau tùy thuộc loài
cũng như sự sinh trưởng và hoạt động của vi sinh vật Rhizobium trong nốt sần. xử
lý riêng rẽ hoặc phối hợp B, Mo, Zn đã tăng đồng thời cả số lượng lẫn khối lượng
nốt sần hữu hiệu trong tất cả các thời kỳ.
Các enzyme trong quá trình khử nitrat và nitrit đều có Mo trong cấu trúc
trung tâm hoạt động.
* NTVL xúc tác cho quá trình tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học cao
NTVL đã có ảnh hưởng đến sự tổng hợp auxin, thúc đẩy sự vận chuyển
auxin và làm giảm tác hại của chúng. Zn, Cu đóng vai trò rất lớn trong sự tổng hợp
auxin, theo Skoog (1940 - Dẫn bởi Horst Marschner, 1988) thì hàm lượng auxin ở
các đỉnh chồi của cây thiếu Zn cực kỳ thấp. Sau khi cung cấp Zn trở lại thì mức độ
auxin lại gia tăng nhanh chóng trước khi sinh trưởng được phục hồi (Tsui, 1948 Dẫn bởi Hitoshi Sekimoto và cs, 1997). Nguyên nhân là do thiếu Zn làm hàm
lượng axit amin tritophan giảm, mà axit amin tritophan là nguyên liệu để tổng hợp
auxin. Thiếu Bo cũng làm giảm hàm lượng auxin tự do, khi có mặt đường sacaroza,
Bo có tác dụng tăng cường sự vận chuyển auxin.
Nhiều nguyên tố vi lượng có tác dụng như chất kích thích sinh trưởng, Bo
có tác dụng tương tự như α-NAA (Elias Bassil et al, 2004).Bo, Mn, Cu, Zn, Mo
đều có tác dụng tăng vitamin C. Mn, Zn, Cu cũng có tác dụng làm tăng hàm lượng
sinh tố nhóm B (B1, B2, B6,..) ở sinh vật. Theo Jonh và cs (2009, dẫn bởi Trương
Thị Huyền) Mn và Zn ở nồng độ thấp kích thích sự tổng hợp Vitamin B6, làm tăng
làm lượng biotin. Bo còn tham gia tổng hợp các Vitamin C Vitamin nhóm B. Cu
xúc tiến quá trình hình thành Vitamin A (Nguyễn Xuân Trường, 2005).
Các nghiên cứu được dẫn bởi Horst Marschner (1988) cho thấy: cây thiếu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Zn tỷ lệ (apoenzym) phenylalanin, leuxin, alanin thấp một cách khác thường và tích
lũy nitrat (Davisdova, 1966), khả năng hấp thụ lân giảm (Paisbok và Hekseera
popora, 1966) và thải amon qua bộ rễ (Pathak el al, 1977), kích thước lá đôi khi
Page 11
Các nghiên cứu đã chứng minh trong hai nguyên tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất
đến quá trình quang hợp là sắt và mangan.
Vai trò quan trọng của Mn đối với quá trình quang hợp được phát hiện lần đầu
bởi Prison (1937, dẫn bởi Thomas J. Wydrzynski) trong rong biển. Horst
Marschner (1988) đã dẫn ra một số nghiên cứu trong ấn phẩm Mineral Nutrions of
Higher plants một số nghiên cứu như: theo Polle (1992) khi thiếu hụt Mn đạt tới
ngưỡng thì hàm lượng chlorophyll suy giảm rất nhanh và cấu trúc màng Thylakoid
cũng bị thay đổi nhanh chóng và rất khó phục hồi; Theo Ness và Worlhouse (1980)
Mn xúc tác cho enzyme ARN-Polimease trong lục lạp là cho quá trình sao mã, giải
mã, tổng hợp protein lục lạp thuận lợi.
Sự thiếu hụt Fe sẽ có ảnh hưởng mạnh lên kích thước lục lạp và hàm lượng
protein trong lục lạp, trong khi đó tác động nhẹ hơn đến sinh trưởng của lá và số
lượng tế bào trên 1 đơn vị diện tích cũng như số lượng lục lạp trong tế bào. Sự
phân chia tế bào của lá sẽ bị cản trở khi sự thiếu hụt trở nên nghiêm trọng và vì thế
kéo theo tăng trưởng của lá cũng bị suy giảm (Abbott, 1967 - dẫn bởi Horst
Marschner, 1988). Sự tổng hợp protein và số lượng riboxome và các quá trình này
sẽ suy giảm đối với các tế bào lá thiếu Fe (Lin và stocking, 1978 - dẫn bởi Horst
Marschner, 1988). Tuy nhiên khi thiếu Fe thì sự tổng hợp protein trong lục lạp sẽ bị
suy yếu hơn nhiều so với tế bào chất (Shetty và Miller, 1966 - dẫn bởi Horst
Marschner - 1988). Đối với các lá ngô thiếu Fe thì hàm lượng protein tổng số giảm
25% nhưng hàm lượng protein tổng trong lục lạp sẽ giảm 82% (Perur và cs, 1961 dẫn bởi Horst Marschner, 1988). Đối với các lá thiếu Fe hàm lượng chlorophyll và
β-carotene sẽ suy giảm cùng một mức độ (Morales và cs, 1990 - dẫn bởi Nguyễn
Xuân Trường, 2005). Trong các lá thiếu Fe hàm lượng đường và tinh bột thấp hơn
bình thường do quá trình quang hợp bị suy giảm (Arulanathan và cs, 1990 - dẫn bởi
Nguyễn Xuân Trường, 2005).
1.2.3. Các NTVL và quá trình hô hấp
Đối với quá trình hô hấp các NTVL có những tác động trực tiếp. Nhiều
năng giữ nước của lá. B, Mn, Al ảnh hưởng đến tính chịu mặn vì chúng làm tăng
hàm lượng các loại gluxit hòa tan trong lá tăng lên đảm bảo áp suất thẩm thấu để
đảm bảo nước cho tế bào và làm ổn định hệ keo nguyên sinh chất. Trong điều kiện
mặn vừa phải độ bền của chrolophyll liên kết với protein trong lục lạp tăng lên
mạnh mẽ, làm tăng tính chống chịu của hệ chrolophyll-protein nhờ có Mn, Co, Mo,
Cu. Nghiên cứu của Bùi Huy Hoàng (2013) trên đất nhiễm mặn tại xã Cẩm Thanh
– Hội An – Quảng Nam cho thấy: Cu, Zn, Mn, B trong suốt quá trình canh tác đã
tác động mạnh và có hiệu quả đến sự sinh trưởng, phát triển của cây ngô và quyết
định năng suất thực thu của cây ngô.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
* Các NTVL ảnh hưởng đến khả năng chịu hạn, chịu nóng, chịu lạnh
Hạn hán thúc đẩy các quá trình thủy phân trong cây làm yếu quá trình tổng
hợp protide và dẫn đến sự tích lũy nhiều axit amine tự do kìm hãm quá trình sinh
trưởng của cây. Al, Co, Mo có ảnh hưởng tích cực đến khả năng chịu hạn nhờ
chúng có thể duy trì các quá trình tổng hợp protein cao trong điều kiện bất lợi này.
Các NTVL còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình trao đổi nước (hút nước, thoát
nước, vận chuyển nước) và do đó ảnh hưởng đến cân bằng nước trong cây. Các
nguyên tố Mn, Zn, Cu, Mo, … có tác dụng làm tăng khả năng giữ nước, tăng hàm
lượng nước liên kết keo của mô. Điều đó có tác dụng liên quan với tác dụng của
các nguyên tố này thúc đẩy quá trình tổng hợp các chất ưa nước như protein, axit
nucleic,…cũng như sự tăng độ ưa nước của chúng.
Bo, Zn, Cu, Mo, Co, Al ... Ảnh hưởng tốt đến sự tổng hợp, chuyển hóa và
vận chuyển glucid từ lá về cơ quan dự trữ là một trong những nguyên nhân chủ yếu
để nâng cao tính chịu hạn và chịu nóng của cây, đặc biệt là trong thời kỳ khủng
hoảng nước. Theo Trần Khánh Vân và cs (2014) trong điều kiện gây hạn ở giai
đoạn cây con của các giống đậu tương, Mo có ảnh hưởng tích cực làm tăng hàm
tại các vị trí xâm nhiễm của sợi nấm powdery mildew trong 20 giờ và sự tích tụ này
ở xung quanh vị trí nhiễm không thành công cao gấp 3-4 lần hơn vị trí nhiễm thành
công. Nguyễn Xuân trường (2005) đã dẫn một sốnghiên cứu của Ismuadji (1990)
tại Java – Indonesia cho thấy bón Clo ở dạng KCl đã làm giảm tình trạng thối thân
và bạc lá lúa so với K2O; nghiên cứu của Penney và cs (1991) cho thấy bón đồng
làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh hắc tố ở thân và phồng rễ lúa mì do vi khuẩn
Peseudomonas cichorii gây ra; ở Ấn Độ bón phân Clo đã khắc phục được bệnh lùn
trên cây Kê (Fixen, 1978 và Beaton, 1990); Place (1999) qua 1 thí nghiệm trên
đồng ruộng và 3 thí nghiệm trong nhà lưới cho thấy bón Fe2(SO4)3 làm giảm bệnh
bạc lá lúa trên đất kiềm và tăng năng suất so với đối chứng.Nguyễn Bảo vệ và cs
(2004) khi nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp Zn và Mn với cam mật đã đưa ra kết
luận: Phun hỗn hợp ZnSO4 + MnSO4 5000ppm cho cam mật và quýt đường bị bệnh
vàng lá gân xanh mức sơ khởi hay trung bình đều làm tăng khả năng hồi phục so
với đối chứng.
Một nguyên nhân khác là do các NTVL làm cho cây khỏe mạnh tăng sức đề
kháng đối với sâu bệnh hại. Ví dụ Bón phân Silic làm cứng cây và tế bào khó bị tổn
thương tạo nên rào cản vật lý làm ngăn cản sự xâm nhiễm của nấm, vi khuẩn, virut,
côn trùng. Hayasaka và cs (2004, dẫn bởi Sitto Việt Nam) đã tiến hành nghiên cứu
vai trò của silic kháng lại sự xâm nhập của nấm bệnh và khẳng định silic làm tăng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15