Quản trị nguồn vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)- chi nhánh bắc hà nội - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu.
Quản trị nguồn vốn trong hoạt động của ngân hàng thương mại có vai trò quan
trọng không chỉ nhằm bảo đảm cho hoạt động cho vay và đầu tư, mà còn có vai
trò quan trọng trong bảo đảm an toàn cho các tổ chức tín dụng. Chính vì lý do
đó, vấn đề này luôn được các nhà quản trị, các nhà quản lý và các nhà nghiên
cứu quan tâm. Tuy nhiên, quản trị nguồn vốn tại Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT
Bắc Hà Nội hiện nay chưa hoàn thiện: Quy mô vốn huy động còn nhỏ, cơ cấu
vốn chưa hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của chi nhánh, buộc chi
nhánh thường xuyên phải nhận vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên; chi phí
vốn huy động còn cao, làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng; khả năng
linh hoạt trong huy động vốn còn hạn chế, làm tăng rủi ro cho chi nhánh. Làm
thế nào đề hoàn thiện quản trị nguồn vốn của Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Bắc
Hà Nội đang là câu hỏi bức xúc của thực tiễn hiện nay. Đề tài “Hoàn thiện
quản trị nguồn vốn tại Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Bắc Hà Nội” được lựa
chọn nghiên cứu nhằm đáp ứng đòi hỏi bức đó.
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý thuyết về quản trị nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị nguồn vốn của Chi nhánh BIDV.BHN
- Đề xuất hệ thống giải pháp để hoàn thiện công tác quản trị nguồn vốn tại Chi
nhánh BIDV.BHN
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Quản trị nguồn vốn của ngân hàng thương mại
b. Phạm vi nghiên cứu: Quản trị nguồn vốn tại Chi nhánh BIDV.BHN trong 3 năm
2008-2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu gồm thống kê, phân tích, tổng
hợp, so sánh và nghiên cứu tình huống tại Chi nhánh BIDV.BHN. Bên cạnh đó
sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua lấy số ý kiến của các chuyên gia
thuộc các cơ quan quản lý, giám sát.
1

năng thanh toán để trao đổi hàng hóa cho mọi thành phần kinh tế, dân cư. Lịch
sử hình thành ngân hàng bắt đầu từ rất lâu và tồn tại như một tất yếu khi thực
hiện những nghiệp vụ mà bây giờ các ngân hàng thương mại vẫn đang cung cấp,
đó là hoạt động nhận gửi tiền, nhận giữ hộ, hoạt động cho vay, đầu tư, hoạt động
trung gian thanh toán …
2


Các hoạt động tài chính của Ngân hàng thương mại ban đầu được hình thành từ
những thương nhân làm dịch vụ nhận giữ tiền (vàng) hộ. Sau đó những thương
nhân này chuyển sang việc nhận giữ tiền hộ nhưng có thu lệ phí. Tiếp đó, họ
nhận thấy số tiền giữ hộ này không bao giờ được rút ra hết bởi những người gửi
tiền. Thêm vào đó, lại có những người cần tiền để phục vụ cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh. Từ đó những người giữ hộ tiền nảy ra ý định cho những
người thiếu vốn vay một phần số tiền mà họ đang nắm giữ. Khi nhu cầu vốn vay
ngày càng tăng, họ lại chuyển sang hoạt động huy động vốn có trả lãi để khuyến
khích những người có tiền nhàn rỗi gửi tiền vào. Cùng với sự phát triển của nền
sản xuất xã hội, các hoạt động của họ ngày càng mở rộng, mà chúng ta được biết
qua những hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng thương mại ngày nay.
Ngày nay, Ngân hàng thương mại được xem là một trong những tổ chức kinh tế
quan trọng trong nền kinh tế vì nó quản lý phần lớn dòng vốn trong xã hội và
góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế. Mỗi quốc gia có một hệ
thống ngân hàng thương mại riêng và có vai trò, đặc điểm tương đối giống nhau
và chỉ khác nhau ở một vài đặc điểm nhỏ.
1.1.1.

Khái niệm và đặc điểm về Ngân hàng thương mại

1.1.1.1.


a. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính
Hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian quan trọng trong nền
kinh tế, nó tồn tại như một tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của mỗi
quốc gia, Ngân hàng thương mại thực hiện nhiệm vụ trung gian tài chính thông
qua một số lĩnh vực sau đây:
- Ngân hàng thương mại là trung gian về vốn: Xuất phát từ nhu cầu trong xã hội
có các cá nhân dư tiền và chưa sử dụng và có nhiều cá nhân, doanh nhân cần
thiết một lượng vốn để đầu tư sản xuất. Để kết nối hai nhu cầu này, hệ thống
ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian làm thỏa mãn cả hai nhu cầu, có
nghĩa bằng chức năng hoạt động của mình ngân hàng thương mại nhận tiền gửi
của người có tiền nhàn rỗi và cho vay các nhu cầu cần vay đầu tư phát triển sản
xuất. Như vậy, ngân hàng thương mại đã đóng vai trò trung gian về vốn trong xã
hội và là trung gian thúc đẩy dòng vốn từ trạng thái nhàn rỗi sang hoạt động đầu
tư phát triển.
- Ngân hàng thương mại là trung gian về kỳ hạn vốn: Nguồn tiền nhàn rỗi trong
xã hội được ngân hàng thương mại tập hợp nhận gửi thông qua nhiều kỳ hạn gửi
(kỳ hạn gửi phụ thuộc thời gian nhàn rỗi) khác nhau. Bên cạnh đó, nhu cầu đầu
tư và thời gian vay của người vay cũng khác nhau phụ thuộc thời gian của
phương án kinh doanh và nguồn trả nợ. Ngân hàng thương mại đã tập hợp nhiều
loại kỳ hạn của người gửi khác nhau để thỏa mãn nhiều kỳ hạn vay của người
vay khác nhau đã thể hiện vai trò trung gian về mặt kỳ hạn của ngân hàng
thương mại.
- Ngân hàng thương mại là trung gian về rủi ro: Tiền nhàn rỗi trong xã hội gửi
vào Ngân hàng thương mại không kỳ hạn hay có kỳ hạn thì bất cứ lúc nào người
gửi cũng có thể đến Ngân hàng để rút sử dụng và sẽ được nhận lại tiền gốc và lãi
4


đầy đủ (rất hiếm khi Ngân hàng thương mại không thanh toán đủ gốc và lãi).
Điều đó khẳng định rủi ro của người gửi tiền vào Ngân hàng là rất thấp. Song,

thương mại giữ vai trò rất quan trọng và có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống
tài chính – tiền tệ quốc gia, sự có mặt của một Ngân hàng trong hệ thống Ngân
hàng thương mại đòi hỏi các điều kiện hoạt động cụ thể về vốn, tài sản, bộ máy
5


quản lý, trình độ điều hành, sản phẩm dịch vụ, quy trình vận hành nghiệp vụ….
Đây cũng là những điều kiện cần để Ngân hàng Trung ương cấp giấy phép hoạt
động cho Ngân hàng thương mại.
c. Ngân hàng thương mại có các sản phẩm - dịch vụ đặc thù:
Khác với các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp, ngân hàng thương mại cung cấp
các sản phẩm vô hình, chủ yếu là dịch vụ tài chính như: Các sản phẩm liên quan
đến hoạt động gửi tiền, các sản phẩm liên quan đến hoạt động sử dụng vốn (cho
vay, đầu tư, góp vốn, kinh doanh chứng khoán…) và cung cấp các dịch vụ trong
gian tài chính để thu phí như thanh toán, tư vấn, thu chi hộ, quản lý hộ …
Các nhóm sản phẩm dịch về tài chính của các Ngân hàng thương mại có các đặc
điểm là không có bản quyền, dễ thay đổi và hay bị bắt chước. Do vậy, chiến
lược kinh doanh của các Ngân hàng thương mại là không thể dị biệt hóa sản
phẩm (như sản phẩm hàng hóa thông thường) mà phải là chính sách giá (lãi
suất), chất lượng dịch vụ và kênh phân phối (hệ thống chi nhánh và các điể giao
dịch).
Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn xây dựng uy tín và hình ảnh của mình
trong xã hội. Đó là việc xây dựng hình ảnh tốt và uy tín cao trong xã hội, hình
ảnh và lòng tin của Ngân hàng thương mại được xây dựng và vun đắp qua quá
trình phát triển, thể hiện bằng vốn, quy mô hoạt động, mô hình tổ chức, hiệu quả
kinh doanh, kinh nghiệm điều hành, trình độ nghiệp vụ chuyên môn... Ngân
hàng nào được nhiều người dân biết đến với niềm tin cao có cơ sở vững chắc để
đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định và phát triển lâu dài. Ngược lại, Ngân
hàng thương mại có sự tín nhiệm và lòng tin thấp sẽ không có cơ sở vững chắc
để hoạt động kinh doanh, điều này rất dễ dẫn đến sự phá sản, đổ vỡ của Ngân

Hoạt động huy động vốn

Nguồn vốn của ngân hàng thương mại được tạo lập từ các nguồn sau:
a. Vốn chủ sở hữu:
Là nguồn vốn do người sáng lập (có thể là cá nhân, tổ chức, Nhà nước hoặc kết
hợp) góp vốn thành lập một Ngân hàng thương mại để kinh doanh. Căn cứ vào
nguồn gốc và thành phần vốn của chủ sở hữu, hiện có các loại Ngân hàng
thương mại sau: Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ
phần, ngân hàng liên doanh … Trong phạm vi bài luận này, chỉ xét đến 2 hình
thức Ngân hàng thương mại phổ biến là: Ngân hàng thương mại Nhà nước và
Ngân hàng thương mại cổ phần.
Đối với Ngân hàng thương mại Nhà nước, nguồn vốn chủ sở hữu là vốn của Nhà
nước cấp toàn bộ khi đi vào hoạt động và do đại diện Nhà nước tại Ngân hàng
thương mại đó trực tiếp quản lý, nguồn vốn chủ có biến động nhưng theo sự chỉ
đạo, điều hành tập trung của Nhà nước. Ngoài nguồn vốn do Nhà nước cấp,
Ngân hàng thương mại còn phần vốn tích lũy.
Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần, vốn chủ sở hữu có các thành phần như
sau: Vốn góp của các cổ đông: Thặng dư vốn: Giá trị tích lũy.
b. Vốn huy động:

7


Là lượng giá trị tiền vốn mà Ngân hàng thương mại huy động được từ xã hội
(bằng việc bỏ ra chi phí trả cho người gửi) để hòa vào phần vốn chủ sở hữu để
tiến hành các hoạt động kinh doanh (là hoạt động sử dụng vốn để tìm kiếm
doanh thu). Vốn huy động bao gồm việc nhận gửi và đi vay của xã hội, bao
gồm:
- Tiền gửi các loại trong xã hội:
- Tiền vay xã hội:

- Căn cứ theo thời hạn vay, gồm: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho
vay dài hạn.
- Căn cứ vào đối tượng vay, gồm: cho vay vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh
doanh và cho vay đầu tư tài sản cố định.
- Căn cứ vào tài sản bảo đảm, gồm: Cho vay có tài sản bảo đảm và cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản.
- Chiết khấu chứng từ có giá: Là hoạt động cho vay dựa trên việc chuyển
nhượng các giấy tờ có giá, theo đó ngân hàng trao cho khách hàng món tiền
bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu chính là các khoản lãi, phí, hoa hồng của
ngân hàng. Đến hạn thanh toán, ngân hàng lại nhận được đúng số tiền ghi trên
chứng từ đó.
- Tín dụng ứng trước: Là hoạt động cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời
hạn nhất định.
e. Hoạt động góp vốn: Là hoạt động Ngân hàng thương mại đem vốn góp với chủ
đầu tư để thực hiện một dự án hay một phương án kinh doanh nhưng không
tham gia quản lý, điều hành, kinh doanh cùng chủ đầu tư.
f. Hoạt động đầu tư: Là hoạt động Ngân hàng thương mại đem vốn đầu tư vào một
dự án hay một phương án kinh doanh và có tham gia quản lý, điều hành và kinh
doanh cùng chủ đầu tư.
Tại một số hệ thống Ngân hàng thương mại được phép kinh doanh bất động sản,
việc mua bán bất động sản cũng thuộc hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương
mại.
1.1.2.3.

Hoạt động cung cấp dịch vụ.

Đây là hoạt động thực hiện các dịch vụ cho khách hàng để nhận được một khoản
phí, hoa hồng. Các hoạt động dịch vụ gồm:
a. Dịch vụ chuyển tiền;

Như đã đề cập ở trên, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại có 02 thành phần
chính: (i) Nguồn vốn chủ sở hữu và (ii) nguồn vốn huy động, trong đó nguồn
vốn huy động, đi vay là nguồn vốn chính chiếm tỷ trọng cao và quan trọng để
Ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh, đây cũng là nguồn vốn chính để tạo
ra lợi nhuận cho Ngân hàng.
Thông qua giá trị và cơ cấu nguồn vốn của từng Ngân hàng sẽ phản ánh quy mô,
tính chất hoạt động, các điểm mạnh, yếu và vị thế của Ngân hàng trong hệ thống
Ngân hàng thương mại.
1.2.1.2.

Các thành phần của nguồn vốn ngân hàng thương mại.

Như đã đề cập ở trên, nội dung nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được xem
xét trên 2 loại mô hình Ngân hàng thương mại phổ biến là Ngân hàng thương
mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên, xu hướng của
Ngân hàng thương mại trong tương lai sẽ hoạt động theo mô hình Ngân hàng
thương mại cổ phần, do đó tác giả tập trung phân tích kỹ hoạt động nguồn vốn
của Ngân hàng thương mại cổ phần.
10


Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại tập trung ở các thành phần sau:
a. Thành phần nguồn vốn chủ:
Ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu: Thành phần vốn chủ do Nhà nước
cấp khi thành lập và hoạt động, ngoài số vốn được cấp, vốn chủ sở hữu của
Ngân hàng thương mại Nhà nước còn được bổ sung thêm bằng phần tích lũy
hàng năm do hoạt động kinh doanh đem lại.
Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần, thành phần vốn chủ gồm:
- Nguồn vốn góp của các cổ đông: Là vốn do các cổ đông đóng góp thông qua
việc mua cổ phần (cổ đông nắm giữ cổ phần bằng các cổ phiếu), vốn góp của cổ

b. Thành phần nguồn vốn huy động:
(i) Nguồn huy động bằng tiền gửi:
Là các giá trị tiền tệ của khách hàng trong xã hội đem gửi tại Ngân hàng thương
mại với các kỳ hạn, loại tiền gửi khác nhau, tiền gửi bao gồm:
- Tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn:
Là giá trị tiền của khách hàng để ở tài khoản Ngân hàng để phục vụ cho hoạt
động thanh toán của khách hàng. Đây là nguồn tiền gửi không kì hạn, người gửi
có thể thanh toán (hay rút ra) bất cứ lúc nào. Tiền gửi thanh toán là tiền dự trữ
thường xuyên để thanh toán mua bán hàng hóa hoặc để chuyển dịch vốn.
Với Ngân hàng thương mại, tiền gửi thanh toán là khoản vốn huy động hấp dẫn
bởi chi phí (lãi suất) cho loại tiền gửi này thấp, thấp nhất trong các loại tiền gửi.
Tuy nhiên tiền gửi thanh toán (hay tiền gửi không kỳ hạn) chiếm tỷ lệ thấp trong
tổng nguồn vốn.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của dân cư:
Là các giá trị tiền gửi tại Ngân hàng của khách hàng là dân cư. Các tầng lớp dân
cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa dùng đến, họ tích luỹ lại cho tương
lai. Người dân có nhiều cách để giữ số tiền tiết kiệm của mình, một trong những
cách đó là gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng. Huy động tiền gửi trong dân cư là
nghiệp vụ truyền thống và đem lại cho ngân hàng một lượng vốn lớn để tiến
hành các hoạt động cho vay và đầu tư sinh lợi.
Nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn
vốn, số lượng người tham gia gửi nhiều và đa dạng thành phần nên các Ngân
hàng thương mại thường chủ động đưa ra các sản phẩm cố định, phổ thông để
người gửi tham gia. Thông thường tiền gửi tiết kiệm có bảo đảm bằng bảo hiểm
tiền gửi để đảm bảo giá trị và thu hút người gửi tiền vào Ngân hàng.

12


Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn bao gồm nhiều các kỳ hạn gửi như ngắn, trung và

13


và không giới hạn số lượng tiền nhưng công cụ nợ thì ấn định về lãi suất, kỳ hạn
thanh toán và số lượng tiền cần huy động.
Vay trên thị trường sơ cấp có đặc điểm là lãi suất huy động bình quân cao hơn
tiền gửi, số lượng tiền vay không ổn định (vì là nguồn vốn có tính bổ sung, điều
hòa nên phụ thuộc vào nhu cầu vốn của Ngân hàng thương mại từng thời kỳ),
giao dịch vay trên thị trường sơ cấp thường không có tài sản bảo đảm mà chỉ
đảm bảo thanh toán bằng tín nhiệm của Ngân hàng thương mại.
- Vay trên thị trường thứ cấp:
Là việc vay các ngân hàng, tổ chức có kinh doanh tiền tệ (trên thị trường liên
ngân hàng), vay ngân hàng Trung ương và vay trên thị trường mở (OMO). Hoạt
động vay này của Ngân hàng thương mại để đáp ứng các cân đối thanh toán về
nguồn vốn và đảm bảo thanh khoản của Ngân hàng thương mại. Căn cứ vào nhu
cầu vốn kinh doanh, nhu cầu vốn đảm bảo thanh khoản ngắn hạn, Ngân hàng
thương mại sẽ huy động trên thị trưởng này thông qua các hình thức:
Vay trên thị trường liên ngân hàng là hoạt động Ngân hàng thương mại vay
Ngân hàng khác hoặc các Công ty tài chính (có hoạt động kinh doanh tiền tệ)
với các kỳ hạn ngắn như vay không kỳ hạn, vay qua đêm, vay tuần… Hoạt động
vay mượn này có thể có bảo đảm bằng tài sản hoặc không có tùy thuộc từng hợp
đồng vay, vay không có bảo đảm thường có lãi suất cao hơn vay có bảo đảm. Tài
sản bảo đảm để vay thường là chứng từ có giá như Trái phiếu, tín phiếu…
Vay bằng cách tái chiết khấu giấy tờ có giá tại Ngân hàng Nhà nước, là hoạt
động Ngân hàng thương mại vay Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương)
để đảm bảo thanh khoản, việc vay này thường xuất hiện khi tình hình thanh
khoản tại Ngân hàng thương mại gặp khó khăn, Ngân hàng thương mại vay
Ngân hàng Nhà nước bằng việc tái chiết khấu các giấy tờ có giá mà Ngân hàng
thương mại đang nắm giữ.
Ngoài ra Ngân hàng thương mại cũng có thể vay Ngân hàng nhà nước thông qua

kinh doanh.
- Nguồn tiền viện trợ chưa giải ngân.
Tóm lại, nguồn vốn khác của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn phụ, bổ trợ,
có tính chất không thường xuyên, không ổn định nên lãi suất hoặc chi phí cũng
không ổn định, có loại lãi suất thấp, có loại không có lãi suất nhưng thực tế lại
có chi phí (nguồn vốn ủy thác giải ngân), có loại lãi suất cao hơn lãi suất lãi suất
đi vay (lãi suất cho vay ủy thác đầu tư). Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ
trong nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
1.2.2.

Quản trị nguồn vốn của Ngân hàng thương mại.

1.2.2.1.

Khái niệm quản trị nguồn vốn ngân hàng thương mại.
15


Quản trị nguồn vốn là hành vi tác động của người quản trị lên nguồn vốn huy
động nhằm thực hiện mục tiêu nhất định của Ngân hàng thương mại.
Với Ngân hàng thương mại, mục tiêu của Ngân hàng là tối đa hóa giá trị tài sản
của chủ sở hữu. Tham gia điều hành ngân hàng gồm nhiều chủ thể khác nhau
với các mục tiêu khác nhau, cụ thể:
- Đại hội đồng cổ đông của NHTM: Là cơ quan quyền lực cao nhất của Ngân
hàng thương mại, bao gồm toàn bộ cổ đông của ngân hàng ngồi họp (đại hội
đồng thường họp mỗi năm một lần) để quyết định tất cả các nội dung lớn của
Ngân hàng thương mại, sửa đổi (hoặc phân cấp sửa đổi) điều lệ hoạt động, thông
qua các chương trình mục tiêu trong một giai đoạn 3, 5, 10 năm tới, thông qua
các quyết sách lớn, định hướng và kế hoạch kinh doanh trong một hoặc năm tới,
phê duyệt mức chia cổ tức, thay đổi thành viên HĐQT, …

vốn và tài sản tối ưu, các Ngân hàng phải dự kiến số lượng vốn cần huy động để
đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn (cả về số lượng và kỳ hạn) trong thời kỳ, sau đó
triển khai huy động vốn theo số dự kiến (kế hoạch) bằng cách lựa chọn phương
thức huy động vốn phù hợp để đạt được nguồn vốn dự kiến.
Để đạt được số lượng vốn cần huy động, các ngân hàng thương mại có thể sử
dụng các biện pháp kế hoạch hóa (giao kế hoạch), khoán hay giao định mức cho
các bộ phận, từng đối tượng và giám sát thực hiện.
b. Xác định cơ cấu tài trợ tối ưu:
Là việc xác định cơ cấu tài sản tối ưu để thiết lập cơ cấu nguồn vốn phù hợp, đó
là xác định cơ cấu nguồn vốn phù hợp theo kỳ hạn, theo loại tiền nhằm giảm
thiểu rủi ro về độ nhạy khe hở lãi suất khi có biến động và tăng hiệu quả kinh
doanh ngân hàng trong mọi điều kiện kinh doanh. Ngoài ra, việc xác định cơ cấu
tài trợ tối ưu còn giảm thiểu và tránh được rủi ro về kỳ hạn, lãi suất.
c. Xác định quy mô vốn tối ưu:
Thông qua việc xác định vị trí đứng phù hợp trên thị trường trên cơ cở các yếu
tố cốt lõi sẽ xác định được quy mô tối ưu. Từ đó ngân hàng sẽ giảm nguy cơ,
tránh được rủi ro và chủ động trong kinh doanh của mình.
1.2.2.3.

Nguyên tắc quản trị nguồn vốn của Ngân hàng thương mại.

a. Nguyên tắc chi phí thấp.
Như ta đã biết hoạt động huy động vốn trong Ngân hàng thương mại là nghiệp
vụ chính để tạo nguồn vốn phục vụ cho nghiệp vụ đầu tư cho vay, hai hoạt động
duy động vốn và cho vay là các mắt xích trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của
Ngân hàng thương mại. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại có
đem lại hiệu quả cao được đo bằng chỉ số về lợi nhuận tức là chênh lệch giữ các
khoản thu và các khoản chi, cụ thể:
Thu nhập ngân hàng (1) = Tổng doanh thu (2) – Tổng chi phí (3).
17



Nguồn vốn huy động vốn hình thành qua tiền gửi, tiền vay và vốn huy động
khác được phân chia qua các tiêu chí loại tiền và kỳ hạn gồm: Nguồn vốn ngắn
hạn dưới 12 tháng, nguồn vốn trên 12 tháng, nguồn vốn nội tệ, nguồn vốn ngoại
tệ…
Trong khi, sử dụng vốn bao gồm: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn, đầu
tư tài chính ngắn hạn, dài hạn và cũng được phân chia theo tính thanh khoản của
tài sản. Vì vậy, để sử dụng vốn huy động có hiệu quả cao nhất, các Ngân hàng
thương mại thường quản trị cân đối nguồn vốn huy động theo kỳ hạn, loại tiền
(sau khi trừ đi các khoản dự trữ bắt buộc để tính toán số khả dụng theo quy
định) sẽ sử dụng vào việc cấp tín dụng hay đầu tư (theo thời gian sử dung vốn
ngắn hay dài) để phù hợp và có hiệu quả cao nhất. Thông thường, nguồn vốn
huy động ngắn hạn khả dụng sẽ dùng phần lớn để cho vay ngắn hạn, một phần
nhỏ (theo quy định của Ngân hàng Trung ương) sẽ được dùng để đầu tư cho vay
vốn trung dài hạn và nguồn vốn huy động vốn trung dài hạn khả dụng sẽ được
dùng để đầu tư cho vay trung dài hạn hay góp vốn…
Xét về chi phí vốn: Thông thường nguồn huy động (hay khoản cho vay) có thời
hạn càng dài thì lãi suất tiền gửi (hay lãi suất cho vay) càng cao vì rủi ro của các
khoản cho vay càng dài thì độ rủi ro càng lớn.
Như vây, phương án tối ưu trong hoạt động Ngân hàng là nguồn vốn khả dụng
được sử dụng tối đa vào các danh mục đầu tư phù hợp (về kỳ hạn và loại tiền)
tại đó hoạt động ngân hàng sẽ đạt lợi ích cao nhất và đó là nguyên tắc hàng đầu
trong quản trị nguồn vốn.
c. Duy trì nguồn vốn ổn định và đảm bảo khả năng thanh toán:
Quản trị nguồn vốn để duy trì ổn định nhằm thực hiện các dự định phát triển
theo định hướng của từng Ngân hàng là hoạt động quản trị rất quan trọng của
Ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ huy động vốn Ngân hàng thương mại
không thể từ chối việc người gửi tiền đến rút nhưng trong nghiệp vụ cho vay
Ngân hàng không thể thu hồi ngay các khoản nợ chưa đến hạn vì nó đang nằm

cơ cấu vốn tiêu chuẩn trong dài hạn.
- Tiết kiệm chi phí vốn: Là quá trình tiết giảm các loại chi phí huy động vốn đối
với từng thành phần vốn, từng kỳ hạn, từng loại tiền nhưng vẫn đảm bảo nguồn
vốn kinh doanh để từng bước giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng.
- Khả năng linh hoạt cao: Là việc lựa chọn các hình thức huy động vốn phù hợp,
có tính linh hoạt cao không những đảm bảo đủ vốn kinh doanh mà còn đáp ứng
được các yêu cầu thay đổi trong môi trường kinh doanh. Quản trị nguồn vốn linh
hoạt thể hiện qua các tiện ích của sản phẩm tiền gửi, hình thức huy động tiền gửi
linh hoạt về lãi suất (điều chỉnh lãi suất theo thị trường, được thanh toán lãi suất
cao khi tất toán trước hạn…), linh hoạt về kỳ hạn (có thể quay vòng, không quay
vòng), linh hoạt trong thanh toán (thanh toán ở mọi nơi…), linh hoạt khi chuyển
đổi hình thức sở hữu (chuyển từ chứng chỉ tiền gửi sang công cụ nợ và ngược
lại…)
1.2.3.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện quản trị nguồn vốn của
Ngân hàng thương mại.
20


a. Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn của Ngân hàng thương mại: là quá trình xem xét
đánh giá quy mô vốn và cơ cấu vốn có phù hợp với quy mô và kết cấu sử dụng
vốn thể hiện qua sự:
- So sánh giữa doanh số cho vay với doanh số huy động vốn để đánh giá mức độ
đáp ứng vốn để cho vay.
- So sánh tỷ trọng kết cấu tài sản ngắn hạn với vốn huy động (để cho vay) ngắn
hạn, trong đó xác định bao nhiêu tiền gửi ngắn hạn được sử dụng bao nhiêu
trong cho vay ngắn hạn để đánh giá mức độ đáp ứng vốn ngắn hạn cho đầu tư
ngắn hạn (xác định chi phí thấp hay cao).
- So sánh tỷ trọng kết cấu tài sản dài hạn với vốn huy động (để cho vay) dài hạn
(gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động dài hạn, một phần vốn ngắn được phép cho

khoảng 80-90% chi phí huy động), còn chi phí phục vụ huy động vốn chiếm tỷ
trọng thấp trong chi phí huy động vốn (khoảng 10-20%). Chi phí phục vụ huy
động vốn thường bao gồm: Chi phí quản lý (phân bổ), chi phí chung, lương cho
bộ phận huy động vốn, chi phí quảng cáo, tuyên truyền, các chi phí thuê ngoài
để phục vụ huy động vốn …
Việc đánh giá hoạt động quản trị nguồn vốn qua chi phí thể hiện bằng việc tiết
giảm tối đa các loại chi phí cấu thành như sau:
Với chi phí lãi suất huy động, do có mặt bằng lãi suất chung nên các Ngân hàng
sẽ không tiết giảm được ngoại trừ sự tồn tại chênh lêch lớn về uy tín giữa các
ngân hàng khi đó các ngân hàng có tín nhiệm cao thì lãi suất huy động thấp hơn
so với ngân hàng có ít tín nhiệm thấp tuy nhiên sự chênh lệch lãi suất này không
lớn. Trong trường hợp này, các Ngân hàng muốn giảm chi phí lãi suất huy động
chỉ có cách xây dựng hình ảnh và nâng cao uy tín với xã hội nhưng để có mức
độ tín nhiệm cao. Các Ngân hàng phải gây dựng trong một thời gian dài.
Với chi phí phục vụ huy động, các Ngân hàng thương mại sẽ xem xét, đánh giá
để tiết giảm từng khoản mục, sẽ quyết định có chi phí hay không và mức độ bao
nhiêu để vẫn đảm bảo đủ vốn kinh doanh nhưng với có chi phí thấp nhất. Điều
này, thể hiện khả năng quản trị về chi phí nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
tốt hay không.
c. Mức độ đáp ứng các yêu cầu của Ngân hàng Trung ương.
Để đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế trong mỗi quốc gia, Ngân hàng nhà
nước (Ngân hàng Trung ương) thường sử dụng các công cụ sẵn có của mình như
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn,
hệ số an toàn vốn, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư tài sản dài hạn, tỷ lệ dự
trích quỹ phòng rủi ro, trần – sàn lãi suất huy động, lãi suất cho vay, tỷ lệ vốn
đầu tư vào tài sản cố định … để điều hành thị trường tiền tệ và kiểm soát hoạt
động của các ngân hàng thương mại, trong đó có rất nhiều công cụ áp dụng đối
với hoạt động huy động vốn và an toàn vốn như:
22



1.3.1.1.

Yếu tố con người.

Trong hoạt động của Ngân hàng, vai trò con người là trung tâm, con người với
suy nghĩa và hành động đã thiết lập nên chủ thể nhân cách, con người quản lý
sắp xếp bộ máy, tổ chức vận hành, lập ra các mục tiêu, điều hành và thực hiện.
Con người lại là nhân tố trực tiếp thực hiện những công việc và tạo ra kết quả
23


công việc. Trong hoạt động ngân hàng, con người đóng vai trò hạt nhân trong sự
thành bại của các Ngân hàng thương mại.
Trong hoạt động huy động vốn, yếu tố con người đóng vai trò quan trọng thể
hiện ở nhiều cấp độ:
- Người lãnh đạo, quản trị hoạt động nguồn vốn: Trong bối cảnh và điều kiện
thực tế cùng với các yêu cầu cụ thể, người lãnh đạo hoạch định chiến lược, mục
tiêu và cũng là người tìm ra các giải pháp cụ thể để đạt được mục tiêu đề ra.
Người lãnh đạo, người quản trị tốt sẽ có phương hướng đúng đắn, có các biện
pháp hữu hiệu sẽ đưa ngân hàng nhanh chóng đến với mục tiêu hơn.
- Người giao dịch trực tiếp: Hoạt động giao tiếp của con người là cầu nối các
quan hệ trong xã hội, giao tiếp thúc đẩy xã hội phát triển tích cực hơn và ngược
lại. Trong hoạt động Ngân hàng, giao tiếp là cầu nối giữa ngân hàng và khách
hàng, giao dịch viên tốt sẽ đem lại nhiều khách hàng cho Ngân hàng và ngược
lại, hành động giao tiếp của cán bộ Ngân hàng đóng vay trò rất quan trọng trong
quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng trong đó có yếu tố con người.
Bên cạnh đó yếu tố con người còn tham gia vào quá trình xử lý công việc, thời
gian xử lý công việc và chất lượng công việc đánh giá mức độ hiệu quả làm việc
và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Cơ sở vật chất và công nghệ thực sự là nhân tố góp phần nâng cao hình ảnh của
Ngân hàng nhất là trong hoạt động huy động vốn, người gửi tiền cũng mong
muốn được giao dịch với các Ngân hàng có cơ sở vật chất và công nghệ cao để
thuận lợi trong giao dịch gửi tiền và các tiện ích giá trị gia tăng khác sau khi đã
gửi như thanh toán chuyển tiền, rút tiền tại nhiều nơi… Để đáp ứng được nhu
cầu cơ bản này, Ngân hàng phải trang bị cơ sở vật chất tốt, công nghệ hiện đại
và đồng bộ mới có thể đáp ứng được.
1.3.1.4.

Quy trình vận hành.

Quy trình vận hành sản phẩn huy động vốn thể hiện quá trình tiếp nhận và xử lý
yêu cầu nhận gửi tiền của giao dịch viên. Quá trình này có ảnh hưởng quan
trọng đối với người gửi vì thông qua việc xử lý tiền gửi, khách hàng có thể cảm
nhận và đánh giá được tính chuyên nghiệp của ngân hàng thông qua thời gian xử
lý và mức độ hài lòng. Điều này cũng là một phần quan trọng trong việc người
gửi có quyết định tiếp tục quay lại giao dịch tại ngân hàng này nữa hay không.
Với ngân hàng, để có một quy trình giao dịch gửi tiền nhanh chóng, chuyên
nghiệp và an toàn, cần nghiên cứu kỹ tâm lý người gửi tiền theo các góc độ về
độ tuổi, trình độ, cấp độ phổ thông hay quan trọng … để thiết lập một quy trình
nhận tiền gửi ngắn gọn, nhanh chóng, an toàn và không chồng chéo nhưng vẫn
phù hợp với từng nhóm khách hàng để đảm bảo khách hàng đến gửi tiền đều
thấy mình được tôn trọng, đều thấy được xử lý nhanh chóng, chính xác, tạo ấn
tượng và lòng tin.
1.3.1.5.

Chính sách lãi suất.

Như đã trình bày ở trên, chính sách lãi suất là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và
quan trọng nhất đến giá trị tiền gửi của ngân hàng vì lãi suất là giá của tiền tệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status