HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRƯƠNG THỊ VÂN HÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CÂY HOA ĐỊA LAN
HOÀNG VŨ (CYMBIDIUM SINENSIS) TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRƯƠNG THỊ VÂN HÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN
SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CÂY HOA ĐỊA LAN HOÀNG VŨ
(CYMBIDIUM SINENSIS) TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng.
Mã số
: 60.62.01.10
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Vũ Quang Sáng
PGS.TS Đặng Văn Đông
HÀ NỘI - 2015
trong thời gian học tập cũng như khi hoàn thành và báo cáo luận văn.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân,
bạn bè những người đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn đọc.
Hà Nội, ngày 8 tháng 1
năm 2016
Tác giả
Trương Thị Vân Hà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
2
Phần 2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
3
2.1
Giới thiệu chung về hoa địa lan
3
2.2
Tình hình sản xuất hoa lan
7
2.3
Tình hình nghiên cứu cây hoa và cây hoa địa lan.
12
Phần 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
22
3.1
Phương pháp theo dõi thí nghiệm
26
3.4.3
Phương pháp xử lý số liệu
28
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
29
4.1
Ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng và phát triển cây địa lan
hoàng vũ
29
4.1.1
Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái tăng trưởng đường kính thân
29
4.1.2
Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài, rộng lá
36
4.2.2
Ảnh hưởng phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều dài, rộng lá
37
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
4.2.3
Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra nhánh
39
4.2.4
Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng ra hoa và chất lượng hoa
39
4.2.5
Ảnh hưởng của phân bón lá đến thành phần sâu bệnh hại
45
Ảnh hưởng của khoảng cách bón phân qua lá Plant Soul đến thành phần
sâu bệnh hại
4.4
46
Ảnh hưởng của độ ẩm giá thể đến sinh trưởng, phát triển cây địa lan
hoàng vũ
48
4.4.1
Ảnh hưởng của độ ẩm giá thể đến động thái tăng trưởng đường kính thân
48
4.4.2
Ảnh hưởng độ ẩm giá thể đến động thái tăng trưởng chiều dài, rộng lá
49
4.4.3
Ảnh hưởng của độ ẩm giá thể đến khả năng ra hoa và chất lượng hoa
Ảnh hưởng của mức che ánh sáng khác nhau đến động thái ra nhánh
56
4.5.4
Ảnh hưởng của mức che ánh sáng đến khả năng ra hoa và chất lượng hoa
56
4.5.5
Ảnh hưởng của mức che ánh sáng khác nhau đến thành phần sâu bệnh
hại đối với cây lan Hoàng Vũ.
58
Phần 5 kết luận và đề nghị
60
5.1
Kết luận
60
5.2
Đề nghị
Ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng chiều dài lá
30
Bảng 4.3
Ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng chiều rộng lá
31
Bảng 4.4
Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái ra nhánh
32
Bảng 4.5
Ảnh hưởng của giá thể trồng đến khả năng ra hoa và chất lượng hoa
33
Bảng 4.6
Ảnh hưởng của giá thể trồng đến thành phần sâu bệnh hại
35
Bảng 4.7
43
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của khoảng cách bón phân Plant Soul đến động thái tăng
trưởng chiều rộng lá
44
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của khoảng cách bón phân qua lá Plant Soul đến động
thái ra nhánh
44
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của khoảng cách bón phân Plant Soul đến khả năng ra
hoa và chất lượng hoa
45
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của khoảng cách bón phân Plant Soul đến thành phần sâu
bệnh hại
47
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của độ ẩm giá thể đến động thái tăng trưởng đường kính
thân
48
Bảng 4.20 Ảnh hưởng độ ẩm giá thể đến động thái tăng trưởng chiều dài lá
Bảng 4.27 Ảnh hưởng của ánh sáng đến động thái tăng trưởng chiều rộng lá
56
Bảng 4.28 Ảnh hưởng của ánh sáng đến động thái ra nhánh
56
Bảng 4.29 Ảnh hưởng của ánh sáng đến khả năng ra hoa và chất lượng hoa
57
Bảng 4.30 Ảnh hưởng của ánh sáng đến thành phần sâu bệnh
59
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1
Phân bố hoa lan ở Việt Nam
Hình 4.1
Động thái tăng trưởng chiều dài lá trên các nền giá thể
34
Hình 4.7
Ảnh hưởng của giá thể trồng đến độ bền hoa
34
Hình 4.8
Động thái tăng trưởng đường kính thân
37
Hình 4.9
Ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ cây ra hoa
40
Hình 4.10
Động thái ra nhánh ở các khoảng cách bón phân qua lá
45
Hình 4.11
Ảnh hưởng của khoảng cách bón Plant Soul đến tỷ lệ cây ra hoa
58
Hình 4.17
Ảnh hưởng của ánh sáng đến độ bền hoa
58
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
4
Page vii
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ bao đời nay, thú chơi lan, thưởng lan đã trở thành một thú vui truyền
thống văn hoá hàng ngàn năm của người Á Đông nói chung và Việt Nam nói
riêng. Những ghi chép sớm nhất về các loài lan là của người Trung Quốc từ trước
thời kỳ đạo Khổng tử (551 - 479 trước công nguyên). Vua Trần Anh Tông (12931314) lập ra Ngũ Bách Lan Viên với rất nhiều những loài lan đây có thể được coi
là những ghi chép đầu tiên về hoa địa lan ở Việt Nam.
Có thể nói hoa lan là loại hoa đẹp nhất trong các loại hoa, hoa có nhiều
màu sắc, cánh hoa cũng đẹp một cách giản dị và thanh cao. Cùng với các loài hoa
địa lan Thanh Ngọc, Cẩm Tố, Thanh Trường, Đại Mặc, Trần Mộng, Bạch Ngọc,
Tứ Thời v.v…Địa lan Hoàng Vũ (thuộc chi Cymbidium, họ lan Orchidaceae) là
một trong những loài hoa địa lan bản địa quý hiếm của Việt Nam, với những đặc
tính ưu việt về vẻ đẹp của cây hoa, dạng lá thanh thoát, hình dáng hoa đẹp quý
phát triển tốt.
- Xác định được hiệu quả của phân bón lá đối với cây địa lan Hoàng Vũ
- Xác định được khoảng cách phun phân bón lá Plant Soul thích hợp nhất
cho cây địa lan Hoàng Vũ sinh trưởng, phát triển tốt.
- Tìm được độ ẩm giá thể trồng cây địa lan Hoàng Vũ phù hợp để cây sinh
trưởng, phát triển tốt nhất.
- Xác định được mức che ánh sáng trực xạ bằng lưới cản quang thích hợp
giúp cây địa lan Hoàng Vũ sinh trưởng tốt, ra hoa nhiều và chất lượng hoa cao.
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN.
1.3.1. Ý nghĩa khoa học.
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ
thuật đến sinh trưởng, ra hoa và chất lượng cây hoa địa lan Hoàng Vũ tại Gia
Lâm, Hà Nội.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm tài liệu tham khảo phục
vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học về cây hoa địa lan.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp vào việc xây dựng quy trình
trồng giống hoa địa lan Hoàng Vũ sinh trưởng tốt, ra hoa nhiều và đúng thời
điểm cho hiệu quả cao làm động lực để phát triển ngành trồng hoa nói chung, cây
hoa địa lan nói riêng tại Hà Nội và các tỉnh ở miền Bắc Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOA ĐỊA LAN
2.1.1. Nguồn gốc, phân bố và vị trí trong hệ thống phân loại thực vật
thường được tìm thấy ở độ cao từ 1000-2000m so với mực nước biển (Nguyen
Van Tien, 2009).
Bảng 2.1 Các vùng phân bố hoa lan chính
Quốc gia (Vùng)
Số lượng ước tính (loài)
Vùng nhiệt đới châu Á
Vùng nhiệt đới châu Phi
6800
3100
Colombia
Braxin
Venezuela
Trung Quốc
8000
2500
1500
1200
Australia
Việt Nam
900
800
2.1.2. Đặc điểm thực vật học của địa lan
Về hình thái bên ngoài địa lan là những cây thân thảo, đa niên, đẻ nhánh
hàng năm tạo thành những bụi nhỏ.
- Rễ: Có loài rễ mọc bám trên vỏ cây, mặt đất (bì sinh hay phụ sinh); có
loài rễ ăn sâu trong bọng cây, trong đất mùn (địa sinh hay thực sinh). Rễ mới
thường chỉ mọc ở cây con, cây mẹ khó ra rễ mới mà chỉ thấy phân nhánh từ củ rễ
(Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng, 2012).
- Thân: thân ngầm của địa lan (căn hành) thường ngắn nối những củ với
nhau. Các củ lan thực chất là những cành ngắn của căn hành, thường có dạng con
quay hay dạng hột xoài, đường kính từ 1 cm đến 15 cm, củ thường tươi và được
bọc trong các bẹ lá. Củ già, khi bị tách khỏi căn hành cũ có thể phát sinh đoạn
căn hành mới, từ đó mọc lên những cây con, do đó người ta xếp Cymbidium vào
nhóm lan đa thân (Trần Duy Quý, 2005)
- Lá: thường có hai dạng, dạng vẩy đính theo một đoạn căn hành và dạng
thực đính trên giả hành. Lá ở dạng thực đính trên giả hành thường có cuống lá,
giữa bẹ lá và cuống lá có một phần phân cách, khi phiến lá rụng vẫn còn đoạn bẹ
ôm lấy giả hành, một số loài không có cuống lá (Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm
Đồng, 2012). Tùy theo từng loài mà hình dáng của phiến lá, gân lá rất khác nhau,
gân dọc nổi rõ khay gân chìm trong thịt lá. Một số loài ít chịu rợp có phiến lá
màu vàng xanh, còn lại thường là màu xanh đậm. Bản lá và độ dày của lá thay
đổi tùy theo từng loài, các loài sống ở trảng trống có lá hẹp và dày hơn các loài
ưa bóng rợp. Lá có dạng dải, dạng mũi mác hay dạng phiến, đầu lá thường là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
nhọn, hay chia thành hai thùy. Kích thước của lá biến động từ 0,5cm - 6cm, chiều
dài thay đổi từ 10cm - 150cm.
- Chồi hoa: Chồi hoa thường xuất hiện bên dưới của giả hành từ các nách
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
so với trồng lúa và một số hoa màu khác. Ngoài ra, nếu lan được dùng cho xuất
khẩu hoặc bán vào dịp tết thì lợi nhuận thu được còn lớn hơn nhiều. Cụ thể, trong
dịp tết nguyên cổ truyền giá trị kinh tế hoa lan được tăng lên rất cao, trung bình
150.000-200.000 đồng/cành đối với lan hồ điệp và từ 500.000 - 1.000.000
đồng/cành đối với hoa địa lan.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan năm 2007, kim ngạch nhập
khẩu hoa lan cắt cành qua đường chính ngạch của nước ta trong tháng 02/2007 là
26,515 nghìn USD, giảm 20,17% so với tháng 01/2007 nhưng vẫn tăng 51,76%
so với tháng 12/2006. Thị trường nhập khẩu lan cắt cành chính của Việt Nam
trong thời gian qua là Thái Lan (với gần 95% lượng lan cắt cành).
Tháng 9 năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hoa lan lại tăng rất mạnh, tăng
21,8% so với tháng 8 năm 2009, đạt 61.000 USD. Nhật Bản là thị trường xuất
khẩu hoa lan tiềm năng của nước ta.
Hiện nay, mỗi năm Việt Nam vẫn phải chi hàng tỷ đồng để nhập hoa lan
từ các nước láng giềng cho nhu cầu nội địa. Thị trường nhập khẩu hoa lan chính
của Việt Nam trong thời gian qua là Thái Lan, Trung Quốc với gần 95% lượng
lan cắt cành. Chính vì vậy không chỉ thị trường xuất khẩu mà thị trường trong
nước cũng rất tiềm năng cho người trồng lan.
2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HOA LAN
2.2.1. Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy, châu Âu là nơi đầu tiên đưa các
chủng loại hoa lan trong đó đại diện là Catlleya trở thành hàng hóa thương mại,
sau đó lan rộng hầu khắp thế giới (Nguyen Van Tien, 2009)
Năm 2000, theo số liệu thống kê của Liên hợp quốc, kim ngạch xuất khẩu
hoa lan cắt cành và hoa lan chậu của toàn thế giới đạt trên 150 triệu USD, trong
chiếm 78,2%, tương đương 116,56 triệu USD, tăng 36% so với năm 2009 (85,91
triệu USD). Trong các loại hoa lan, hoa lan hồ điệp có kim ngạch xuất khẩu đạt
lớn nhất, cụ thể: trong năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 82,55 triệu USD,
chiếm 55% tổng số kim ngạch xuất khẩu của ngành hoa, tăng 32% so với năm
2009 (62,68 triệu USD) (Li Yihang et al., 2011).
Thị trường hoa cắt cành ở Malaysia được xác định là nhóm sản phẩm
ưu tiên có nhiều tiềm năng đáp ứng cho nhu cầu trong nước và thế giới, tạo ra
thu nhập cao hơn cho người sản xuất. Ước tính có ít nhất 1.000 nhà vườn
trong ngành công nghiệp hoa này đóng góp cho nền kinh tế khoảng 370 triệu
RM vào năm 1995. Hoa lan đóng góp 40% tổng giá trị sản phẩm, kế tiếp là
hoa ôn đới (33%) và cây cảnh (27%) (dẫn theo Đặng Văn Đông và cộng sự,
2014). Theo kế hoạch kinh tế Malaysia lần thứ 7 (1996 - 2000) và chính sách
nông nghiệp Quốc gia (1992 - 2010), hoa cắt cành được xác định là nhóm sản
phẩm ưu tiên có nhiều tiềm năng đáp ứng cho nhu cầu trong nước và thế giới,
tạo ra thu nhập cao hơn cho người sản xuất. Malaysia có tổng số diện tích
trồng hoa cắt cành khoảng trên 1.218,0 ha trong đó 580,0 ha trồng hoa lan.
Hoa lan được trồng phổ biến là Dendrobium, Aranda, Oncidium và Mokara
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
đóng góp đến 97,0% hoa lan cắt cành của Malaysia. Nhật Bản là thị trường
hàng đầu của hoa lan cắt cành, Singapore là thị trường hoa cảnh trang trí và
Hồng Kông là thị trường hoa ôn đới.
Ở Singapore, nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên quy mô lớn bắt đầu
năm 1987. Nhà nước đã thấy rõ tiềm năng xuất khẩu loại hoa này trên thị
trường thế giới nên đã mở rộng các trang trại trồng hoa phong lan. Năm 1992,
xuất khẩu đạt hơn 18 triệu USD, năm 1995 đạt 37,0 triệu USD, chiếm 12,0%
thị trường phong lan trên thế giới (dẫn theo Đặng Văn Đông và cộng sự, 2014).
thúc đẩy du lịch, hội nhập và đời sống văn hóa tinh thần của quốc gia. Đã có
những công ty hàng năm sản xuất và tiêu thụ hoa lan doanh thu lên hàng tỷ đồng
như Sài gòn Orchidex, công ty hoa Hoàng Lan..., song các công ty này chủ yếu
buôn bán các giống lan nhập nội.
Ngoài ra, do Công ước quốc tế bảo vệ các giống động vật và cây trồng
hiếm - Convention on International Trade in Endangered Species of wild
fauna and flora (CITIES) đã cấm mua bán một số đặc sản, cho nên hoa lan của
Việt Nam rất khó được chính thức nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Trong khi đó nhiều
lái buôn đã thuê người vào rừng thẳm, núi cao để tìm kiếm lan, bất kỳ lớn,
nhỏ, quý hiếm hay không đều đem bán cho các lái buôn Trung Quốc, Thái Lan
hoặc Đài Loan với giá rẻ mạt: 2 – 3 USD/kg. Những cụm lan rừng vẫn được
bày bán tại các hội hoa lan tại Santa Barbara hay South Coast Plaza có thể là
xuất xứ tại Việt Nam.
Theo thống kê năm 1993 tổng cộng diện tích trồng hoa của Việt Nam là
1.585 ha. Tuy nhiên, diện tích sản xuất hoa lan chỉ chiếm xấp xỉ 10,0%. Vùng
sản xuất hoa lan còn hết sức manh mún, chưa thành hàng hóa, mấy năm gần đây
đã có một số công ty lớn, trong đó có những công ty nước ngoài trồng phong lan
tại Đà Lạt (Lâm Đồng), thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà
Rịa- Vũng Tầu, Hà Nội, Sơn La, Lào Cai... với diện tích khoảng 4 - 5ha/một
doanh nghiệp như công ty Nông Ích, công ty Ánh Dương, công ty Lâm Thăng,
công ty Hoàng Lan, công ty Trường Xuân. Tháng 8/2004 Lâm Đồng đã thành lập
Hiệp hội hoa lan ‘Dalat orchid Association’ với mục đích là tập hợp những
người yêu mến và có kinh nghiệm trồng lan tiến tới phát triển nhân rộng, sản
xuất theo hướng hàng hoá.
Trong những năm gần đây xuất khẩu hoa lan Việt Nam tăng mạnh. Chín
tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan lại tăng 218% so với
tháng 8/2009, đạt 61,0 nghìn USD. Nhật Bản là thị trường xuất khẩu hoa lan
tiềm năng của chúng ta.
Đà lạt ngày từ năm 1978 đã xuất khẩu 3000 cành hoa địa lan sang châu
Âu và với điều kiện tự nhiên của Đà Lạt phù hợp với việc trồng nhiều loài hoa
2006 doanh số đạt được là 400 tỷ đồng, năm 2009 đạt trên 1000 tỷ đồng (Vũ
Thị Phượng, 2005).
Ở miền Bắc, tại một số vùng núi cao như Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh
Phúc), Mộc Châu (Sơn La), Quyết Chiến (Hòa Bình) có điều kiện rất thích hợp
cho việc trồng hoa lan, nhờ đó diện tích trồng lan đã tăng từ 20 ha lên 50 ha trong
các năm từ 2003 - 2005. Công ty TNHH Hoàng Lan (Đông Anh - Hà Nội) có
diện tích trồng lan 3 ha, Công ty TNHH Trường Xuân có diện tích 2ha trồng lan
tại Thanh Trì, Ba Vì (Hà Nội).
Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất, trong các năm 2008-2010,
Viện Nghiên cứu Rau quả đã nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất hoa lan hồ
điệp theo quy mô công nghiệp và đã xây dựng thành công mô hình sản xuất hoa
lan hồ điệp tại Viện Nghiên cứu Rau quả với diện tích 4000m2, công suất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
100.000 cây/năm. Hiện nay Viện đã chuyển giao quy trình sản xuất cho các đơn
vị như: HTX Đan Hoài (Đan Phượng – Hà Nội), Hợp tác xã Như Quỳnh (Văn
Lâm – Hưng Yên), TT Khoa học & Sản xuất Nông lâm nghiệp Quảng Ninh,
Công ty TNHH Cửu Long (Từ Sơn – Bắc Ninh), Công ty cổ phần Vạn Xuân
(Tiên Du – Bắc Ninh), Công ty Cổ phần Giống Vật tư CNC Việt Nam, Hợp tác
xã cây trồng Vũ Chính (Thái Bình), HTX Thụy Hương (Chương Mỹ - Hà Nội)
với quy mô từ 500m2- 4.000m2.
Với hiện trạng sản xuất của ngành xuất hoa lan ở Việt Nam như trên nhìn
chung vẫn đang ở dạng quy mô nhỏ, lẻ, chưa có các vùng quy hoạch trồng lan tập
trung, ứng dụng công nghệ tiên tiến. Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng hoa lan
trong nước ngày càng tăng dẫn đến mỗi năm Việt Nam vẫn phải chi hàng tỷ đồng
để nhập hoa lan từ các nước ngoài cho nhu cầu nội địa. Theo số liệu thống kê
của Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu phong lan cắt cành qua đường
Ngoài việc lai tạo, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến việc tạo các
giống hoa lan mới bằng phương pháp xử lý đột biến. Từ Vệ Huy (1995) cho rằng
sử dụng tia tử ngoại với cường độ thích hợp có tác dụng ngăn chặn sự phân chia
NST trong quá trình giảm phân dẫn đến hình thành tế bào không đầy đủ gây nên
sự biến dị. Khi sử dụng tia tử ngoại với cường độ cao. Còn việc sử dụng tia 60Coγ với cường độ bán tử vong đã cho kết quả biến dị rất rõ ràng và không đồng nhất
(Pen L X và Cs, 2004).
Yang và Cs (1999) thành công chuyển gene kháng virus bằng súng bắn
gen vào thể protocom và mô callus cây hoa lan lai, kết quả thu được tỷ lệ biểu
hiện đạt tương đối cao, do đó đã mở ra hy vọng trong việc tạo giống bằng con
đường chuyển gene. Hiện tại, công nghệ chuyển gene được sử dụng chủ yếu trên
các gene quy định màu sắc hoa.
2.3.1.2. Một số biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lan:
- Giá thể trồng: Giá thể vô cơ có ưu điểm là có thể ổn định một vài năm, đối
với giá thể này, việc quan trọng nhất là sử dụng phân bón hợp lý. Giá thể hữu cơ
chúng phân hủy theo thời gian gây ra sự thối rễ ở đáy bầu do sự đóng kết và tích
lũy nước. Do vậy, cần thường xuyên bổ sung thêm giá thể mới để kích thích, trẻ
hoá bộ rễ cây. Treder và Cs (2013) đã nghiên cứu khi trồng cây trên giá thể gồm
than bùn và perlite có hệ thống rễ phát triển tốt hơn và chiều dài rễ lớn hơn trồng
trên than bùn và xơ dừa. Sử dụng giá thể còn phải chú ý đến điều kiện nhiệt độ,
Theo tác giả Juntima - Pipatpongsa (1992) nhiệt độ tác động ở cây lan thông
qua con đường quang hợp, nhiệt độ còn ảnh hưởng đến sự ra hoa của một số
loài. Như vậy, cây lan chỉ sinh trưởng, phát triển tốt nhất trong khoảng nhiệt
độ gọi là tối thích. Khoảng nhiệt độ này khác nhau tuỳ thuộc vào loài
(Parinda-Sriyaphai, 2002) song nhiệt độ trung bình thích hợp cho sinh trưởng
là 18-250C, nhiệt độ phân hoá là 16-180C. Ở vùng có nhiệt độ thấp 650F
(18,330C) ban ngày và 450F (7,220C) ban đêm với độ ẩm trung bình có thể thêm
vỏ cây linh sam và đá bọt biển (peclit thô) vào hỗn hợp trên. Hỗn hợp này có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
(Jaime A, 2006). Các nghiên cứu cho thấy, đối với cây hoa việc chiếu sáng về
cường độ và chất lượng ảnh hưởng khá rõ đến sinh trưởng và ra hoa cũng như độ
bền hoa. Vì vậy đã và đang được ứng dụng nhiều trong sản xuất nông nghiệp nói
chung và ngành trồng hoa nói riêng (Stutte, 2009). Ứng dụng đèn LED giúp cây
tăng hấp thu ánh sáng bước sóng đỏ (660 nm) nên cây sinh trưởng, phát triển tốt
(Yanagi et al, 2006).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Giống địa lan (Cymbidium) được xếp vào nhóm lan ôn đới, chúng được phân
bố từ vĩ độ 280-400 và nhiệt độ dao động quanh 15oC rất thuận lợi cho quá trình phát
dục mầm hoa, nhưng nhiệt độ lớn hơn 20oC thì hoa nở chậm nên che bớt ánh sáng
bằng lưới đen phản quang là rất cần thiết vì có tác dụng vừa giảm ánh sáng, vừa làm
mát cây để cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn. Khi ánh sáng mặt trời yếu ta chỉ cần
che bằng lưới phản quang 1 lớp, nếu ánh sáng mạnh cần phải che 2 lớp sẽ giúp cây
sinh trưởng tốt (Lin WC và Cs, 2003) và theo nghiên cứu của Stutte (2009) thì
cường độ ánh sáng từ 9.000- 12.000lux là tốt nhất cho cây địa lan sinh trưởng,
phát triển tốt.
- Dinh dưỡng bón gốc và qua lá :
Dinh dưỡng rất quan trọng đối với lan, tuy không đòi hỏi số lượng lớn
nhưng yêu cầu phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng, tuỳ vào từng thời kỳ sinh
trưởng mà nhu cầu dinh dưỡng của cây lan khác nhau và cung cấp hiệu quả dinh
dưỡng cho cây lan là phun qua lá (Supaporn-pornprasit, 2005).
Đối với cây lan từ trong ống nghiệm tới khi ra hoa thì mỗi thời kỳ phát
triển chúng cần có một chế độ dinh dưỡng khác nhau được các nhà khoa học
chia ra làm các giai đoạn:
+ Lan con từ trong ống nghiệm đến 3 tháng tuổi: Thời kỳ này được dùng
chủ yếu là đạm, lân và kali có dùng nhưng rất loãng.
lan có thể chia theo điều kiện sinh thái, quy mô của diện tích trồng...
+ Độ ẩm của vùng: Là độ ẩm của khu vực rộng lớn, nơi mà ta thiết
lập vườn lan. Ẩm độ này do điều kiện địa lý, địa hình nói chung quy định.
+ Độ ẩm của vườn: Là ẩm độ của chính vườn lan, độ ẩm này có thể cải tạo
theo ý muốn của người trồng lan.
+ Độ ẩm trong chậu trồng lan: Gọi là ẩm độ cục bộ, do cấu tạo của giá thể,
thể tích chậu, số lần tưới quyết định. Ẩm độ này phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật
của người trồng lan. Đối với địa lan thì ẩm độ này trong khoảng 50 - 80% và cần
kết hợp che bớt ánh sáng bằng linong đen (Yanagi et al, 2006).
2.3.2. Tình hình nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật cho cây hoa, cây địa lan tại
Việt Nam
Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về lan thời kỳ đầu không rõ rệt, có lẽ
người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - nhà truyền
giáo Bồ Đào Nha, Ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789.
Trong cuốn “Flora cochin chinensis” gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình
đến Nam phần Việt Nam là aerides, Phaius và Sarcopodium...mà đã được
BenTham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera plante rum” (1862- 1883) (dẫn
theo Nguyễn Hữu Duy, Phan Ngọc Cấp, 1995).
Theo Phạm Hoàng Hộ (1972) đã mô tả kèm theo hình vẽ của 289 lòa lan
gặp ở miền Nam Việt Nam trong bộ “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” (quyển II).
Sau năm 1975, các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm
kiếm nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16