BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
KHOA TIỂU HỌC MẦM NON
Đề Tài: CÂU ĐỐ MỚI TRONG SÁCH GIÁO KHOA VÀ VIỆC DẠY CÂU
ĐỐ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
GVHD: TRẦN VĂN TUẤN
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ Ý
LỚP: ĐHGDTH09
TP Cao Lãnh 11/2010
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN
LỜI PHÊ CỦA THẦY
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG TIỂU LUẬN
A MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
1. Khái niệm về câu đố và câu đố mới
2. Đặc điểm chung của câu đố mới trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu
học
3. Cấu trúc nội dung câu đố trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học ở
từng lớp
4. Tác dụng của câu đố mới đối với học sinh tiểu học.
5. Các bước dạy câu đố cho học sinh tiểu học
6. Các phương pháp chủ yếu dạy học câu đố cho học sinh tiểu học
C KẾT LUẬN
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG
TIỂU LUẬN
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
HS: học sinh
miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hoá để khó đoán
nhận; lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng
từng biết,từng hay”.
Theo từ điển TV, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học: “câu đố là câu văn
vần mô tả người, vật, hiện tượng một cách lắt léo hoặc úp mở, dùng để đố
nhau.”
1.1.2 Khái niệm câu đố mới trong SGK TV ở TH
Câu đố mới là câu văn vần mô tả người, vật, hiện tượng một cách lắt léo, mô
tả một cách xác thực, gần gũi với HSTH do một số nhà biên soạn sách soạn
nhằm phát triển tư duy của trẻ, làm nền tảng cho việc học câu đố dân gian sau
này.
2. Đặc điểm chung của câu đố trong SGK TV ở TH
- Chủ yếu được dạy trong tiết chính tả, ngoài ra còn được dạy ở một số tiết
luyện từ và câu.
- Lớp 1 không có câu đố, lớp 2,3 và học kì I lớp 4 phần lớn câu đố là bài tập tự
chọn. Từ học kì II của lớp 4 trở đi là bài tập bắt buộc.
- Thường có các bức tranh minh họa đặt cạnh bên (nhưng không theo trình tự
câu đố đã cho).
- Thường là các bài tập điền các âm vần, dấu thanh HS dễ nhầm lẫn.
- Thường gắn với chủ đề học của tuần.
3. Cấu trúc nội dung câu đố trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
ở từng lớp
3.1 Lớp 2
Có 4 câu đố.
Cho học sinh làm quen với câu đố, chưa giải câu đố mà chỉ cho HS điền âm
vần dễ lẫn.
Ví dụ: TV2, tập 1, trang 26
(2) Em chọn những tiếng nào trong ngoặc đon để điền vào chỗ
trống? giải câu đố.
- (dì/gì, rẻo/dẻo, ra/da, duyên/ruyên)
Cây …gai mọc đầy mình
Tên gọi như thể bền bồng bay lên.
Vừa thanh, vừa …, lại bền
Làm … bàn ghế, đẹp … bao người.
( Là cây gì?)
3.3 Lớp 4
HS học tương tự nhưng nhiều và nâng cao hơn lớp 3, cụ thể lớp 4 có
thêm: tìm tên vật có chứa âm hoặc vần đã cho, tìm những chữ có trong câu đố
có liên quan đến việc bỏ âm, vần, chữ cái, có trò chơi liên quan đến câu đố.
Ví dụ: tập 1, trang 6
(3) Giải các câu đố sau:
a. Tên vật chứa tiếng bắt đầu là l hoặc n?
Muốn tìm nam, bắc, tây, đông
Nhìn mặt tôi sẽ biết ngay hướng nào.
(Là cái gì?)
Tập 1, trang 12
Bớt đầu thì bé nhất nhà
Đầu đuôi bỏ hết hóa ra béo tròn
Để nguyên mình lại thon thon
Cùng cậu trò nhỏ lon ton đến trường.
(Là chữ gì?)
Tập 2, trang 105 bài tập
4. Trò chơi du lịch trên sông: chọn các tên con sông trong ngoặc đơn để giải
các câu đố dưới đây:
a. Sông gì đỏ nặng phù sa?
Tập 2, trang 58
3. Giải câu đố và viết đúng tên các nhân vật lịch sử trong câu đố
sau:
Ai từng đóng cọc trên sông
Đánh tan thuyền giặc, nhuộm hồng sóng xanh?
Vua nào thần tốc quân hành
Mùa xuân đại phá quân Thanh tơi bời?
Vua nào tập trận đùa chơi
Cờ lau phất trận một thời ấu thơ?
Vua nào thảo chiếu dời đô?
Vua nào chủ xướng hội thơ Tao đàn?
4. Tác dụng của câu đố
4.1. Câu đố có một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội.
Thông qua việc giải câu đố, người giải được rèn luyện năng lực tư duy, óc phán
đoán và óc thẫm mỹ, khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt với sự đa nghĩa của
TV trong những ngữ cảnh nhất định.Đặc biệt đối câu đố giúp trẻ có được một
bộ não phát triển toàn diện.Việc đưa câu đố đến cho trẻ là cách làm tốt để
chúng có điều kiện phát triển nhanh về trí tuệ.
4.2 Câu đố có tác dụng sư phạm và tác dụng giáo dục. Câu đố giúp thoả
mãn óc tò mò, lòng khao khát ham hiểu biết của trẻ nhỏ.
Câu đố được người lớn dùng để giáo dục các em, dạy cho các em những hiểu
biết thường thức trong sinh hoạt hàng ngày, trong học tập, vui chơi. Hơn thế
nữa, câu đố là một phương tiện hữu ích cho trẻ nhỏ và người nước ngoài học
tiếng Việt. Vì việc sử dụng những hình ảnh kiểu ví von trong loại đố chữ giúp
người học dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ mặt chữ.
5. Các bước dạy học câu đố mới cho HSTH
- Cho HS đọc: một HS đọc to, cả lớp đọc thầm.
- Cho HS tìm hiểu câu đố: nội dung câu đố chú ý đến các từ chốt, từ khóa.
5. Giúp HS phải suy nghĩ và suy nghĩ đúng, rồi diễn tả chính xác. Bên cạnh đó,
chúng ta cần phải dự tính xem học sinh sẽ thắc mắc những gì để rồi hiểu ý HS
muốn hiểu.
6.2 Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại là phương pháp người thầy đặt ra một hệ thống câu hỏi để trò trả
lời,qua đó HS trao đổi qua lại với nhau hay với thầy. Qua hệ thống câu hỏi, câu
trả lời trò lĩnh hội được nội dung bài học.
Quy trình vấn đáp tìm tòi ở lớp :
- GV nêu câu hỏi cho cả lớp, yêu cầu học sinh suy nghĩ chuẩn bị trả lời (tuyệt
đối không chỉ định trước học sinh trả lời).
- Cả lớp suy nghĩ 1 đến 2 phút.
- GV chỉ định một học sinh trả lời.
- GV và cả lớp nghe phần trả lời của học sinh.
- Các HS khác nhận xét về ý kiến trả lời của HS được chỉ định phát biểu.
- Giáo viên nhận xét, đánh giá và kết luận.
Phương pháp này được sử dụng nhiều trong việc dạy câu đố mới cho
HSTH. Vì nó đặt cho HS vào tình huống có vấn đề chứ không phải là một tri
thức có sẳn Tuy nhiên nên kết hợp với nhiều phương pháp khác như phương
pháp hội thoại, phương pháp đối thoại, phương pháp thảo luận nhóm…
6.3 Phương pháp thảo luận nhóm
Là phương pháp giáo viên hướng dẫn cho HS thảo luận trong nhóm với
nhau, làm việc cùng nhau mà không cần có sự giám sát trực tiếp.
Khi cần giải các câu đố khó, HS không thể giải quyết một mình, HS có thể trao
đổi với bạn, tham gia với nhiệm vụ được phân công, hoặc tranh luận.
Phương pháp này giúp cho HS:
Rèn luyện, phát triển kĩ năng làm việc và kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện
cho các em học hỏi lẫn nhau.
Góp phần hình thành và phát triển các mối quan hệ qua lại trong HS, tạo
ra không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học tập.
Giúp học sinh nhút nhát, diễn đạt kém,… có điều kiện rèn luyện, tập