BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PHAN THỊ THU HẰNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƢỚNG DẪN HỌC SINH
XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY
QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
S. NGUYỄN THU HƢƠNG
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PHAN THỊ THU HẰNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƢỚNG DẪN HỌC SINH
XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY
QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
liệu, kết quả nghiên cứu đều là trung thực và chưa có ai công bố trong một công
trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2016
Tác giả
Phan Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
ĐẦU................................................................................................................... 1
1.
do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2.
ục đ ch và nhiệm vụ nghi n cứu ..................................................................... 2
3 Đối tượng và khách thể nghi n cứu..................................................................... 2
4. Phạm vi nghi n cứu............................................................................................ 3
5. Phương pháp nghi n cứu .................................................................................... 3
6. iả thuyết khoa học ........................................................................................... 3
7. Cấu trúc luận văn ............................................................................................... 4
Chương 1. CƠ S LÍ LUẬN ..................................................................................... 5
1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề ................................................................................ 5
1.2. Một số vấn đề về từ láy ................................................................................... 7
1.2.1.Quan niệm về từ láy ................................................................................... 7
trường tiểu học ..................................................................................................... 50
2.4.1. Đối tượng, nội dung và phương pháp khảo sát ....................................... 50
2.4.2. Thực trạng việc xác định từ láy và giá trị của từ láy .............................. 50
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................ 55
Chương 3. BIỆN PHÁP XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ CÁC GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG
QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRON SÁCH IÁO KHOA TIẾNG VIỆT
TIỂU HỌC .............................................................................................................. 56
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp ....................................................................... 56
3.1.1. Căn c vào đặc điểm nh n th c củ h c sinh ......................................... 56
3.1.2. Căn c vào từ loại và đặc trưng ng pháp trong xác định từ láy và giá trị
từ láy ................................................................................................................. 56
3.1.3. Căn c vào các văn bản thơ cho h c sinh trong chương tr nh tiểu h c .. 58
3.2. Các biện pháp ................................................................................................ 60
3.2.1. Các biện pháp giúp h c sinh xác định từ láy .......................................... 60
3.2.2. Các biện pháp giúp học sinh xác định giá trị của từ láy .......................... 68
Tiểu kết Chương 3 ............................................................................................... 87
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 92
PHỤ LỤC
BẢNG CHÚ THÍCH
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT
KÍ HIỆU
DIỄN GIẢI
6.
TH
Tiểu học
7.
Nxb
Nhà xuất bản
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Từ láy trong các văn bản thơ ......................................................... 37
Bảng 2.2. Khuôn vần láy ............................................................................... 38
Bảng 2.3. Giá trị từ láy .................................................................................. 48
Bảng 2.4.Tầm quan trọng của việc xác định từ láy và giá trị của từ láy ....... 51
Bảng 2.5. Hiệu quả của việc xác định từ láy và giá trị từ láy ........................ 51
Bảng 2.6. Khả năng xác định từ láy và giá trị của từ láy của học sinh ......... 52
Bảng 2.7a. Biện pháp dạy học sinh xác định từ láy ....................................... 53
Bảng 2.7b. Biện pháp dạy học sinh xác định giá trị của từ láy ..................... 53
Bảng 2.8. Những khó khăn trong quá trình giảng dạy .................................. 54
Bảng 3.1. Nghĩa của từ láy có nghĩa giảm nhẹ hay tăng mạnh ..................... 63
1
MỞ Đ U
1. L do chọn
của khoa học và khả năng nhận thức của học sinh. So với chương trình cũ,
2
chương trình tiếng Việt sau năm 2000 đã rất chú ý đưa nội dung giảng dạy các
phương thức cấu tạo từ, trong đó có từ láy theo cả hai hướng: cung cấp lý
thuyết và luyện tập kĩ năng nhận diện, cảm thụ. Phục vụ nhiệm vụ này, các
bài thơ sử dụng phương thức láy được tuyển chọn đưa vào giảng dạy trong
chương trình khá nhiều. Tuy nhi n, trong quá trình giảng dạy, đa số giáo vi n
chưa khai thác hết giá trị của từ láy trong mỗi văn bản thơ, cũng như chưa sử
dụng tốt các biện pháp giúp học sinh xác định giá trị của từ láy qua bài thơ đó.
Xuất phát từ những cơ sở thực tế và lý luận tr n, chúng tôi chọn đề tài
Một số biện pháp hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy
qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học.
2. Mục
ch và nhi m vụ nghiên c u
2.1. Mục đích
- Nghi n cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đ ch đưa ra các biện pháp
hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ
trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
2.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc hướng dẫn học sinh xác định từ láy
và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở
tiểu học.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh xác định từ láy
và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở
tiểu học.
5.4. Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Thông qua số liệu các từ láy và giá trị của chúng, thông qua số liệu thống
k thực trạng ở trường tiểu, chúng tôi tiến hành phân t ch, so sánh để đánh
giá những kết quả đó nhằm đưa ra những kết luận phù hợp.
6. Giả thuy t khoa học
Nếu đề xuất được những biện pháp phù hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả khi
dạy học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy trong các văn bản thơ của
sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học.
4
7. C u tr c uận v n
Ngoài phần
ở đầu, Kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận
Chương 2. Thực trạng việc xác định từ láy và giá của trị từ láy qua các văn
bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Chương 3. Biện pháp xác định từ láy và các giá trị của chúng qua các văn bản
thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học.
5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Tổng quan lịch sử v n
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đái Xuân Ninh về lịch sử phát triển
của từ láy tiếng Việt trong cuốn Hoạt động của từ Tiếng Việt [26] thì từ láy
ng nghĩ và việc dùng từ ng trong tác phẩm nghệ thu t của Đỗ Hữu Châu
đăng trong [8]. Từ láy trong tiếng việt và sự cần thiết phải nh n diện nó của
Phan Văn Hoàn đăng trong [17]. Từ láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành
[18]. Về một hiện tượng láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành [16]. Cũng
có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề từ láy trong tác ph m văn học như: Hệ
thống từ láy tiếng Việt trong một số khúc ngâm thế kỉ XIX luận văn thạc sĩ
ngữ văn của Nguyễn Thị Hường Đại học Sư phạm Hà Nội (2004), Từ láy
trong thơ văn Nguyễn Đ nh Chiểu luận văn thạc sĩ ngữ văn của Hoàng Thị
an Đại học Thái Nguy n (2009) …
Từ những tư liệu có được, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều tác giả chú ý
tới vấn đề này. Điển hình như trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt của Hoàng
Văn Hành, [18]. Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra những cách nhìn khác
nhau của từ láy, các kiểu cấu tạo từ láy, cơ cấu nghĩa của từ láy. Ngoài ra, tác
giả còn đưa ra một số cứ liệu về quá trình hình thành và phát triển từ láy tiếng
Việt, giá trị sử dụng của từ láy nói chung.
Trong cuốn Dạy h c từ láy ở trường phổ thông của Hà Quang Năng,
[24] tác giả đã n u được đặc điểm cấu tạo của từ láy, cơ cấu nghĩa của từ láy
đối với hiện tượng láy, bao gồm các quan điểm về từ láy, phân loại từ láy về
mặt ngữ nghĩa và phân loại dựa vào mặt số lượng âm tiết trong từ láy. Tác giả
cũng đề cập tới giá trị nghệ thuật của từ láy trong văn chương nhưng chưa
thực sự đi sâu vào vấn đề đó. Đáng kể nhất là luận văn thạc sĩ của tác giả
Nguyễn Thị an - Từ láy trong thơ Nguyễn Đ nh Chiểu, luận án tiến sĩ của tác
giả Nguyễn Thị Thanh Hà -
iá trị nghệ thu t và phương th c sử dụng hiện
tượng láy trong thơ c Việt N m. Hai tác giả đã nghi n cứu giá trị và cách
7
27]. Trong định nghĩa này, Hoàng Văn Hành coi láy là một cơ chế, chi phối
8
việc tạo ra những từ đa tiết mà các tiếng của chúng nằm trong thế vừa điệp
vừa đối. Tác giả khẳng định t nh chất điệp và đối có quan hệ hữu cơ với nhau
trong cơ chế láy và định nghĩa đã bao quát được cả mặt âm thanh và ngữ
nghĩa của từ láy, âm và nghĩa trong từ láy có quan hệ khăng kh t và hài hòa.
Tác giả Diệp Quang Ban lại cho rằng:
“Từ láy là một kiểu từ ph c (từ đ tiết) được tạo r bằng phương th c
hò
phối ng âm có tác dụng tạo nghĩ . Từ láy có thể là từ đơn tố (cả từ chỉ
là một bộ ph n có nghĩ )” [2; Tr 33]
Định nghĩa của Diệp quang Ban đã n u l n láy là phương thức cấu tạo
từ, phương thức láy, là sự lặp lại có t nh chất hòa phối về mặt ngữ âm toàn bộ
âm tiết ban đầu hay một bộ phận nào đó của âm tiết khác để tạo ra một tổ hợp
nhiều âm tiết làm thành từ láy. Tác giả nhấn mạnh đến nguy n tắc hòa phối
ngữ âm của từ láy và tác dụng tạo nghĩa của từ láy. Tuy nhi n về tác dụng tạo
nghĩa từ láy như thế nào lại chưa được cụ thể.
Hoàng Tuệ định nghĩa “Nên hiểu rằng “láy”, đó là phương th c cấu tạo
nh ng từ mà trong đó có một sự tương qu n âm - nghĩ nhất định”. [30;
Tr23]. Trong định nghĩa tác giả đã thể hiện cách hiểu về từ láy một cách trọn
vẹn và đầy đủ về đặc trưng của từ láy với 2 đặc điểm cơ bản: từ láy là từ có sự
tương quan âm - nhĩa nhất định.
Nguyễn Hữu Quỳnh định nghĩa: “Từ ghép láy (h y còn g i là từ ghép
lắp láy, từ láy) là nh ng từ ghép gồm h i h nh vị kết hợp với nh u chủ yếu là
theo qu n hệ ng âm. Các thành tố củ từ ghép láy có mối tương qu n với
chú ý đến hoạt động của từ mà t chú ý đến nguồn gốc của từ.
1.2.2. Sự phân loại từ láy
1.2.2.1.Phân loại từ láy trên cơ sở ng nghĩ
Cách phân loại này gặp nhiều khó khăn bởi phần lớn các nhà nghiên cứu
thường chỉ chú tâm vào việc phân loại và miêu tả từ láy theo tiêu chí thuộc về
hình thức cấu tạo. Đáng chú ý là cách phân loại của Hoàng Tuệ (1978), Đỗ
Hữu Châu (1999) và của Hoàng Văn Hành (1985).
Căn cứ mà Hoàng Tuệ dựa vào để xem xét và phân loại từ láy là „„Sự
tương quan âm - nghĩa‟‟ trong từ. Với tiêu chí này, tác giả chia từ láy thành 3
nhóm khác nhau:
10
- Nhóm thứ nhất: gồm những từ như: a) oa oa, gâu gâu và b) cu cu „„Nói
chung là những từ mô phỏng, những từ tiếng vang‟‟
- Nhóm thứ hai: gồm những từ như: a) làm lụng, mạnh mẽ và b) lơ thơ,
loanh quanh. Đó là những từ „„bao gồm một âm tiết - hình vị‟‟
Ví dụ: làm và làm lụng (làm lụng = làm + 1 sắc thái, sắc thái này có giá
trị ngữ pháp và biểu cảm).
- Nhóm thứ ba gồm những từ như: lác đác, bâng khuâng…đó là những
từ không bao gồm một âm tiết - hình vị, „„Nhưng lại là những từ có giá trị
biểu cảm rất rõ‟‟ [23, tr.21]
Cách phân loại này khắc phục được tính phiến diện của cách phân loại
không chỉ thuần túy dựa vào cấu trúc và gợi cho ta một hướng suy nghĩ đáng
chú ý.
Cũng dựa tr n cơ sở ngữ nghĩa, Đỗ Hữu Châu đề nghị lấy t nh „„Đột
biến‟‟ hay „„Sắc thái hóa‟‟ về nghĩa làm căn cứ. Tr n cơ sở những căn cứ đó,
ông chia từ láy thành 3 nhóm:
- Nhóm thứ nhất: Những từ láy sắc thái hóa về nghĩa, v dụ: dễ dãi, dễ
mãn được ba yêu cầu:
Nhóm 1: Có t nh đến mối tương quan âm - nghĩa trong từ láy.
Nhóm 2: Có t nh đến vai trò ngữ nghĩa của tiếng gốc và khuôn vần
(trong điều kiện cho phép).
Nhóm 3: Có t nh đến khả năng bộc lộ nghĩa, hay là giá trị ngữ nghĩa của
các kiểu từ láy khác nhau.
Dựa vào tiêu chí này, từ láy được phân chia làm ba nhóm:
1. Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản, đó ch nh là những từ láy mà
chúng ta quen gọi là “tượng thanh”, từ “tiếng vang”, v dụ: tí tách, lộp bộp…
2. Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu, như lênh đênh, lác đác, bâng
khuâng…
3. Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về ngữ nghĩa,
ví dụ: chắc chắn, đỏ đắn… [12, tr.73 - 74]
Khi xem xét nghĩa của ba loại từ láy nêu trên, tác giả nhắc đến vai trò
của khuôn vần. Dựa vào khuôn vần, chúng ta có thể xác định được ý nghĩa
của từ láy một cách có cơ sở khoa học và có khả năng giải th ch nghĩa của
một số lượng lớn các từ láy. Các từ láy có khuôn vần khác nhau sẽ có ý nghĩa
khác nhau, còn nều không khuôn vần sẽ có một nét nghĩa chung, đồng nhất.
12
Cách phân loại từ láy dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa có ưu điểm chỉ ra được
những bước khác nhau trong quá trình diễn biến của từ láy về mặt nghĩa. Tuy
nhiên, theo cách phân loại này thì mối tương quan âm - nghĩa chưa được quan
tâm một cách đầy đủ.
1.2.2.2. Cách phân loại từ láy dự vào số lượng âm tiết
Dựa vào tiêu chí phân loại này, Hoàng Văn Hành chia từ láy ra làm 2
loại, đó là: từ láy bậc 1 và từ láy bậc 2. Trong mỗi loại lớn, tác giả lại chia
làm hai loại nhỏ hơn.
sắc; âm vực thấp có thanh huyền hỏi nặng.
Nếu hình vị gốc là thanh trắc thì khi láy lại sẽ biến thành thanh bằng theo
nguyên tắc cùng nhóm âm vực.
Ví dụ: tối → tôi tối
nhỏ → nho nhỏ
ạt → ào ạt
Từ láy toàn bộ giữa hai tiếng có thêm sự khác biệt về phụ âm cuối: nếu
hình vị là một âm tiết có âm cuối là một âm tắc vô thanh (p, t, k) đến khi láy lại
nó sẽ trở thành âm vang mũi (m, n, ng) theo nguy n tắc cùng cặp tương li n.
Ví dụ: rắp →răm rắp
phớt → phơn phớt
thích → thinh thích
*Từ láy bộ phận
Từ láy bộ phận là những từ láy có bộ phận âm tiết được giữ lại. Đây là
loại từ láy có số lượng nhiều nhất và điển hình nhất của từ láy tiếng Việt.
Căn cứ vào thành phần của âm tiết được giữ lại, người ta chia từ láy bộ
phận ra làm 2 loại: từ láy âm và từ láy vần.
- Từ láy âm:
Từ láy âm là những từ láy trong đó âm đầu được láy lại. Ví dụ: c p kềnh,
tung tăng, ngô nghê, qu nh co, th thầm…
14
Trong từ láy âm, người ta dựa vào hình vị gốc để chia thành hai loại:
+ Các từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước (gốc trước), láy sau.
Ví dụ: ríu rít, ngẩn ngơ, mỏng manh, lạnh lùng, nhẹ nhàng, lạ lùng,
qu nh co…
+ Các từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau (láy sau), gốc trước (loại này
chiếm tỉ lệ t hơn so với loại láy có hình vị cơ sở ở trước).
15
1.2.2.2.2. Từ láy ba
Phương thức láy tác động một lần vào hình vị một âm tiết, cho ta một từ
láy có ba âm tiết, gọi là từ láy ba.
từ láy ba, đặc điểm rõ nhất là hiện tượng hài thanh. Kiểu phối hợp
thanh điều thường gặp là:
- Tiếng thứ 2 của từ láy 3 mang thanh bằng (thường là thanh huyền,
thanh ngang ít gặp hơn).
- Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba phải đối lập nhau về thanh trắc/bằng
hoặc về âm vực cao/thấp
Ví dụ về từ láy ba:
+ Cỏn còn con, dửng dừng dưng, khỏe khòe khoe, tỉnh t nh tinh…
+ Khít khìn khịt, sát sàn sạt, trơ trờ trợ, xốp xồm xộp,…
Tuyệt đại đa số từ láy ba là từ láy hoàn toàn, một số ít là từ láy vần (khác
phụ âm đầu) như: lơ tơ mơ, lờ tờ mờ, tù lù mù…
1.2.2.2.3.Từ láy tư
Do phương thức láy tác động vào những từ láy đôi mà có, cho ta một từ
láy bốn âm tiết - gọi là từ láy tư. Tuy nhi n, cũng có những từ láy tư do
phương thức láy tác động vào những hình vị hai âm tiết không láy (từ ghép).
Từ láy tư khá đa dạng về kiểu cấu tạo. Một số kiểu thường gặp là:
- Láy qua vần a hoặc ơ như:
ấm ớ → ấm a ấm ớ
hì hục → hì ha hì hục
sớn sát → sớn sơ sớn sát
vất vưởng → vất vơ (v ) vất vưởng
- Láy bằng biến thanh, ví dụ:
bồi hồi → bổi hổi bồi hồi
lảm nhảm → lảm nhảm làm nhàm
các tác giả này trên thực tế khi đưa ra chứng minh chưa đủ sức thuyết phục và
có căn cứ rõ ràng. Có một số quan niệm về dạng láy: Dạng láy của từ là kết
quả củ quá tr nh trượt để nhân đôi từ khi sử dụng chúng trong lời nói. Từ
17
dùng để làm cơ sở cho việc tạo dạng láy có thể là từ đơn âm tiết, có thể là
một số kiểu từ láy đôi. Tùy thuộc vào số lượt âm tiết mà chúng ta có dạng láy
đôi, dạng láy ba hay láy của từ. [16; Tr12]
Tác giả Võ Xuân Quế trong bài viết Tìm hiểu về một số kiểu láy trong
Tiếng Việt lại khẳng định những trường hợp như g t gà g t gù, hấp ta hấp
tấp, ngất nga ngất ngưởng...là kiểu láy bốn, chứ không phải là dạng láy bốn.
Các tác giả Nguyễn Tài C n, Hồ
, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thiện iáp, Đỗ
Hữu Châu cũng thừa nhận đây là kiểu láy tư trong Tiếng Việt. Kiểu láy bốn
này đuợc cấu tạo từ các từ láy đôi n n nghĩa của chúng chỉ là nghĩa của từ láy
đôi mức độ cao hơn, nhấn mạnh hơn nghĩa của từ láy đôi cơ sở.
Những từ kiểu như: đo đỏ, tim tím, chầm chậm, ... Hoàng Văn Hành và
một số nhà nghiên cứu lại coi là dạng láy đôi. Tuy nhi n tác giả Hoàng Văn
Hành lại lí giải chỉ nên phân biệt dạng lặp với từ láy vì cái gọi là dạng láy và
từ láy thực chất đều được cấu tạo theo cùng một cơ chế.
Quan niệm truyền thống khi phân biệt từ láy và dạng láy lại cho rằng
dạng láy biểu thị ý nghĩa ngữ pháp còn từ láy biểu thị ý nghĩa từ vựng. Tuy
nhiên ngữ pháp truyền thống lại chưa phân biệt rõ ràng thế nào là ý nghĩa ngữ
pháp, thế nào là ý nghĩa từ vựng nên khó lòng phân biệt được khi nào là từ
láy, khi nào là dạng láy của từ. Truyền thống Việt ngữ học, các nhà tác giả
thường phân biệt dạng láy, dạng lặp và từ láy.