Kinh nghiệm dạy học môn toán theo mô hình trường học mới VNEN cho lớp 5a3 trường tiểu học hua nguống - Pdf 35

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Kinh nghiệm dạy học môn toán theo mô hình trường học mới VNEN cho
lớp 5A3 trường Tiểu học Hua Nguống”

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

PHẦN I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển
kéo rất nhiều thứ thay đổi trong đó có giáo dục. Giáo dục là bước then chốt tác
động đến mọi mặt xã hội. việc thay đổi hình thức giáo dục để tạo ra một lớp
người mới năng động, tự tin, làm chủ chính mình, biết hợp tác là một xu thế tất
yếu.
Trên thế giới việc thay đổi phương thức giáo dục đã diễn ra từ lâu đã
mang lại nhiều thành công. Hình thức giáo dục mới này chuyển từ cách dạy học
truyền thống thầy dạy trò nghe, ghi chép thụ động sang hình thức giáo dục hiện
đại trò làm việc trải nghiệm chiếm lĩnh kiến thức, thầy quan sát giúp đỡ. Nổi bật
ở hình thức dạy học này còn là cách tồ chức chỗ ngồi, học sinh được ngồi theo
nhóm, được tự do thảo luận đưa ra ý kiến của mình.
Về tới Việt Nam mô hình dạy học mới này có tên gọi VNEN hay mô hình
trường tiểu học mới Việt Nam. Mô hình này coi quá trình tự học của học sinh là
trung tâm hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học
sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Trải qua hơn 2 năm dạy
thực nghiệm tôi nhận thấy không những phụ huynh mà còn nhiều giáo viên vẫn
bỡ ngỡ chưa hiểu rõ bản chất của việc dạy học này. Và đặc biệt rất khó khăn
trong quá trình tổ chức dạy học môn toán. Môn toán là môn học đặc trưng chiếm
thời lượng nhiều trong tất cả các giờ học. Môn toán đòi hỏi tư duy logic và sự
tập trung cao độ. Học sinh gặp nhiều khó khăn trong quá trình trải nghiệm, thực
hành, chiếm lĩnh kiến thức. Xuất phát từ thực tế này và với mong muốn nâng
cao chất lượng dạy học môn toán cho học sinh tiểu học tôi chọn sáng kiến:
1


2. Phương pháp nghiên cứu
2


Để đạt hiệu quả trong quá trình nghiên cứu tôi đưa ra những phương pháp
nghiên cứu sau.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài từ đó tổng hợp, phân
tích hệ thống hóa theo nhiệm vụ nghiên cứu.
Phương pháp quan sát
Quan sát qua trình làm việc trên lớp, đặc biệt là cách thức thảo luận nhóm,
đánh giá trong nhóm, cách thức làm việc cá nhân, cách tổng hợp kiến thức.
nhằm đánh giá thực trạng, cách thức tiếp nhận thông tin để đưa ra giải pháp
nâng cao hiệu quả, chất lượng môn toán.
Phương pháp điều tra phỏng vấn
Thông qua các câu hỏi dạng trắc nghiệm, tự luận cho một số học sinh liên
quan đến cách suy nghĩ tiếp cận kiến thức, nhằm tìm hiểu nguyên nhân đánh giá
thực trạng, đưa ra giải pháp thực hiện. Hoặc là thông qua phỏng vấn trực tiếp
qua đó nắm bắt được thực trạng.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
Thông qua các bài kiểm tra nhằm phân tích quá trình tiếp thu kiến thức để
đánh giá sản phẩm.
Phương pháp so sánh
Thông qua kiểm tra so sánh kết quả giữa nhóm thực nghiệm và nhóm
không được thực nghiệm.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Thông qua hoạt động tổ chức dạy học, giáo viên ghi chép tổng kết, đúc rút
đi đến kết luận
Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm phân tích đánh giá sản

vụ riêng góp phần vào tiến độ làm việc của nhóm. Khác với hình thức hoạt động
nhóm trong phương pháp truyền thống là học sinh được làm việc trong thời gian
nhất định và công việc hầu như học sinh khá giỏi trong nhóm làm hết, còn học
sinh trung bình, yếu không tham gia vào hoạt động hoặc tham gia ít.
2. Cơ sở pháp lí
Căn cứ vào bộ tài liệu hướng dẫn học lớp 5 do bộ giáo dục và đào tạo xuất
bản.
4


Căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng.
Căn cứ vào tài liệu tập huấn do bộ xuất bản
3. Cơ sở thực tiễn
Tài liệu hướng dẫn học môn toán theo mô hình VNEN được biên soạn
dựa theo tài liệu sách giáo khoa cũ. Như vậy là kiến thức không hề thay đổi chỉ
thay đổi hình thức dạy học thuận lợi cho việc chuẩn bị bài của giáo viên.
Tất cả học sinh đều được trang bị tài liệu hướng dẫn học.
Học sinh đươc trải nghiệm qua mô hình.
Là giáo viên chuyên toán và đã trải qua hai năm kinh nghiệm dạy học
theo mô hình VNEN.
Thiết kế tài liệu theo hình thức 3 trong 1
Năm đầu tiên thử nghiệm mô hình VNEN cho lớp 5
V. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT THỰC TIẾN
1. Về tài liệu hướng dẫn
Tài liệu hướng dẫn chia làm 2 tập, mỗi tập gồm 2 phần(tập 1A, 1B, 2A,
2B).
Mỗi bài có thể chia thành 1 tiết hay nhiều tiết phụ thuộc vào nội dung bài
dài hay ngắn
Bài học luôn được bố trí theo thứ tự sau :
- Mục tiêu: Ghi chuẩn kiến thức học sinh cần đạt được sau khi hoàn

đổi, so sánh, khẳng định chân lý. Quá trình làm việc như vậy sẽ giúp học sinh
nhận biết chân lý nhanh hơn, ghi nhớ lâu hơn, đưa ra phương án, cách làm tối ưu
nhất. Ở chương trình cũ người học không biết bài hôm nay cần học những gì,
đích đến ở đâu. Chỉ sau khi tiết học kết thúc hoặc sau phần lý thuyết học sinh
mới biết mình đang tìm hiểu nội dung gì. Vì vậy đã làm giảm, hạn chế tư duy
của học sinh.
Ở hình thức dạy học mới đã khắc phục được nhược điểm của hình thức
dạy học cũ. Thứ nhất là học sinh được làm việc theo nhóm, hoạt động theo
nhóm có thể trao đổi bài với bạn ngay trong giờ học. với cách viết sách mới thì
học sinh được biết mục tiêu của bài học, biết mình cần đạt được điều gì sau bài
học như vậy sẽ kích thích học sinh học tập mạnh dạn hơn, tư duy chủ động, sáng
tạo hơn. Cách viết sách mới giúp học sinh tự học dễ dàng hơn, hiểu bài đơn giản
hơn so với sách cũ trừu tượng. Có thể nói sách giáo khoa cũ là sách dành cho
giáo viên giảng dạy còn để tự học sinh làm việc là rất khó. Với hình thức dạy
học mới giáo viên không phải nặng về giáo án nhưng nếu không tìm hiểu bài
trước khi lên lớp thì có thể gặp nhiều tình huống khó xử nếu kiến thức không
vững bởi môn toán lớp 5 không dễ, có rất nhiều bài toán trìu tượng. Trong quá
trình dạy học môn toán theo chương trình VNEN nếu giáo viên không quan sát
6


rộng, không chú ý đến những học sinh yếu, không chuẩn bị đồ dùng chu đáo thì
hiệu quả tiết học rất thấp, học sinh yếu sẽ rất yếu do bị lệ thuộc vào học sinh khá
giỏi dẫn đến hiệu quả tiết học thấp.
2. Đưa ra giải pháp
Khi khắc phục được những yếu điểm trên thì hiệu quả học môn toán sẽ
được nâng lên.
2.1. Hình thức tổ chức dạy môn toán
Cũng giống hình thức tổ chức dạy học các môn khác đặc trưng dễ nhận
biết đầu tiên là việc sắp xếp chỗ ngồi. Học sinh được bố trí ngồi theo nhóm tùy

Trong quá trình tổ chức như vậy vai trò của giáo viên hết sức quan trọng
tiết học có thành công hay không chính là khâu tổ chức của giáo viên. Giáo viên
là người gợi động cơ, tạo hứng thú, cho học sinh trải nghiệm dựa vào vốn kiến
thức sẵn có của học sinh trước tiết học mới. Giáo viên là người hướng dẫn giúp
đỡ học sinh khi học sinh gặp khó khăn. Động viên khuyến khích các em làm các
em tự tin vào bản thân, phát huy được hết năng lực, sở trường của mình. Người
giáo viên đóng vai trò là người đánh giá chính quá trình chiếm lĩnh kiến thức
hướng các em đến đáp án tối ưu nhất. Đồng thời cũng là người chốt lại kiến thức
cơ bản của bài để các em không xa rời mục tiêu của bài.
Để giúp đỡ được học sinh kịp thời trong tiết học thì vị trí đứng của giáo
viên cũng rất quan trọng. Giáo viên cần chọn vị trí phù hợp sao cho vừa giúp đỡ
được nhóm này đồng thời vẫn quan sát được nhóm khác hoạt động, tránh tình
trạng trong khi giáo viên đi giúp đỡ nhóm này thì nhóm khác không hoạt động
hoặc hoạt động xong rồi ngồi chơi, giáo viên cần phát hiện và kịp thời cho học
sinh chuyển sang hoạt động khác. Theo tôi các nhóm cần được bố trí sao cho
giáo viên có thể đi lại thuận tiện xung quanh và các học sinh nhận thức chậm sẽ
được bố trí ngồi ngoài để giáo viên thuận tiện giúp đỡ và quan sát.

Sơ đồ tổ chức lớp học 30 học sinh mỗi nhóm 6 học sinh
B

n
g
8

l



Vị trí giáo viên nên chọn trong quá trình quan sát giúp đỡ các nhóm


- Thực hành : Cho học sinh vận dụng những kiến thức vừa học để làm
những bài tập cơ bản. Giáo viên quan sát giúp đỡ học sinh nhận ra khó khăn của
mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện. Đồng thời giáo viên tiếp
tục ra các bài tập khó hơn phù hợp với khả năng của học sinh, tiếp tục giúp các
em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ với kiến thức cơ bản. Có thể giao bài
cho cá nhân, hoặc theo nhóm…
- Vận dụng : Giáo viên cần giúp học sinh thấy được ý nghĩa thực tế của
toán học từ đó khắc sâu kiến thức. Khuyến khích học sinh diễn đạt theo ngôn
ngữ cách hiểu của chính các em. Khuyến khích học sinh tập phát biểu, diễn đạt
có lí lẽ, có lập luận logic.
Lưu ý: Trong quá trình giảng dạy để đạt hiệu quả cần vận dụng linh hoạt,
mềm dẻo không phải hoàn cảnh nào cũng vận dụng dầy đủ các bước trên.
Cơ bản trong mọi tình huống giáo viên cần chuẩn bị kiến thức, nhiệt tình
với học sinh, nghiêm túc trong dạy học, luôn động viên khuyến khích kịp thời,
cần chú ý quan tâm đến học sinh nhận thức chậm.
2.3. Cách ghi nhớ kiến thức
Ghi nhớ kiến thức rất quan trọng bởi trong môn toán kiến thức của bài sau
thường liên quan đến kiến thức bài trước. Không nhớ được kiến thức bài trước
học sinh không thể vận dụng vào hoạt động bài sau. Đặc biệt mô hình VNEN
chủ yếu là học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức. Để ghi nhớ hiệu quả cần
làm như sau :
Việc học toán phải chú trọng vào tư duy phân tích hơn là học thuộc lòng
đơn thuần.
Ví dụ : Ghi nhớ cách đổi 1m2 = 100 dm2
Cho hs hiểu 1m2 là diện tích hình vuông có cạnh 1m, mà 1m = 10dm.
Diện tích hình vuông có cạnh 1m bằng diện tích hình vuông cạnh 10dm.
Diện tích hình vuông cạnh 10dm là: 10
Vậy 1m2 = 100 dm2


dam
m
dm
cm
m
Không
học
để

đi
chăn
mèo
Tức là gắn chữ cái đầu của mỗi đơn vị với 1 từ và tạo thành một câu ấn
tượng. Câu này đọc thì vô lý nhưng học sinh rất ấn tượng vì vậy chắc chắn học
sinh sẽ không bao giờ quên bảng đơn vị đo độ dài và sẽ không bị nhầm lẫn khi
đổi.
Và một cách ghi nhớ nữa là dựa vào sơ đồ tư duy của bộ não: sơ đồ này
giống như một cái cây có 1 gốc và nhiều cành nhánh, mỗi cành nhánh là một
mảng kiến thức, công thức giúp học sinh hệ thống lại kiến thức theo cách lôgic
Ví dụ:

S=axa
Hình vuông
11


p=ax4
S=axb

Hình chữ nhật

c) Em và bạn cùng đọc rồi giải thích cho nhau nghe dung sau:
12


Để tính 9,8 × 5,3 = ?, thông thường ta đặt tính rồi làm như sau :
9,8
×

• Thực hiện phép nhân như nhân các số tự nhiên.
• Hai thừa số có tất cả hai chữ số ở phần thập

5,3
294

phân, ta dùng dấu phẩy tách ở tích ra hai chữ số
kể từ phải sang trái.

490
5 1,9 4
d) Đặt tính rồi tính : 25,8 × 1,4.
Giáo viên quan sát, giúp đỡ học sinh làm, chốt kiến thức trong nhóm cần
lưu ý lại cách nhân hai số thập phân. Đó là nhân giống như nhân các số tự nhiên,
đếm xem có tất cả bao nhiêu chữ số ở đằng sau dấu phẩy của hai thừa số thì tích
sẽ có bấy nhiêu chứ số đằng sau dấu phẩy. Bởi nhiều học sinh sẽ không hiểu hết
nghĩa của phần đọc thông tin.
HĐ 2 Làm việc cả lớp
a) Làm việc cá nhân nêu cách đặt tính và thực hiện phép tính 8,74 × 6,9.
Đổi vở trao đổi với bạn.
b) Em và bạn đọc rồi giải thích cho nhau nghe nội dung cách nhân hai số
thập phân.

b
a×b
2,36
4,2
3,05
2,7
b) Em và bạn đọc rồi giải thích cho nhau nghe nội dung :

b×a

Nhận xét
Phép nhân các số thập phân có tính chất giao hoán :
Khi đổi hai thừa số của một tích thì tích không thay đổi.
a× b=b× a

c) Em vận dụng viết ngay kêt quả tính:
4,34 × 3,6 = 15,624

9,04 × 16 = 144,64

3,6 × 4,34 = .............

16 × 9,04 = ..............

HĐ 3 Thực hiện lần lượt các hoạt động sau.
a) Đặt tính rồi tính :
Các em hoạt động cá nhân, so sánh kết quả
142,57 × 0,1

531,75 × 0,01


Đánh dấu phẩy ở
tích

Nhân số thập
phân

Nhân số thập
phân với 0,1 ;
0,01 ; 0,001...

Đếm số chữ số ở
phần thập phân các
số 0,1 ; 0,01 ;
0,001...

15

Dịch dấu phẩy ở
tích


C. Hoạt động ứng dụng
Các em đọc yêu cầu hoạt động ứng dụng, yêu cầu các em về nhà đo thực
tế rồi tính diện tích của nền căn phòng.
Giáo viên nhận xét và ghi nhận kết quả học tập của học sinh
Với bài học trên học sinh đã được làm việc theo đúng quy trình, trong bất
cứ hoạt động nào học đều được làm việc cá nhân trước khi hoạt động cặp đôi,
hoạt động nhóm, hoạt động cả lớp. Học sinh được được khắc sâu kiến thức qua
sơ đồ tư duy hoặc cũng có thể giáo viên gợi ý để học sinh tự vẽ sơ đồ kiến thức,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status