Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn toán theo mô hình trường học mới (VNEN) - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHƯƠNG THỊ TỰ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TOÁN
THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)

Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS VŨ QUỐC CHUNG HÀ NỘI, 2015
2


Hà Nội, ngày 5 tháng 1 năm 2015 Khương Thị Tự 4

MỤC LỤC
Lời cảm ơn…………………………………………………………….…… 2
Lời cam đoan………………………………………………………….…… 3
Mục lục……………………………………………………………… 4
Danh mục biểu bảng, Sơ đồ, hình ảnh………………………………… ……8
Danh mục viết tắt………………………………… ………………….….….9
Mở đầu……………………………………………………….…………… 10
1. Lý do chọn đề tài……………………………………….…………………10
2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………… ………11
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu……………………………………….11
4. Nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………… …11
5. Giả thuyết khoa học……………………………………………………….12
6. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………… 12
7. Những đóng góp của luận văn…………………………………………….12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……….……………… 13
1.1. Cơ sở lí luận………………………………………………… ……… 13
1.1.1. Một số biểu hiện của kỹ năng tự học………………………………13
1.1.1.1. Khái niệm và bản chất của tự học……………………… ….13
1.1.1.2. Một số biểu hiện của kĩ năng tự học…………………………16
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa dạy học và tự học…………………………18
1.1.2. Biểu hiện của kỹ năng tự học của học sinh lớp 4……………… 19
1.1.2.1. Kỹ năng tự học của học sinh lớp 4………………….……… 19


1.2.2.5. Về giáo viên………………………………………………….44
KẾT LUẬN CHƯƠNG I………………………………… ……………….46
CHƯƠNG II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA MÔN TOÁN THEO
VNEN…………………………………………………………………… …47
2.1. Vận dụng và phát huy vai trò của hội đồng tự quản để hỗ trợ học sinh tự
học cá nhân………………………………………………………………… 47
2.1.1. Tác dụng của hội đồng tự quản đối với quá trình tự học………… 47
2.1.2. Hoạt động của hội đồng tự quản trong hỗ trợ học sinh tự học cá
nhân……………………………………………………………………… 48
2.2. Vận dụng và phát huy vai trò của hội đồng tự quản để hỗ trợ học sinh tự
học theo nhóm……………………………………………………………….54
2.2.1. Tác dụng của tổ chức học tập theo nhóm đối với quá trình tự học của
học sinh………………………………………………………………………54
2.2.2. Hoạt động của hội đồng tự quản trong hỗ trợ học sinh tự học theo
nhóm ……………………………………………………………………….55
2.3. Vận dụng và phát huy vai trò của hội đồng tự quản để hỗ trợ học sinh tự
kiểm tra, đánh giá……………………………………………………………60
2.3.1. Các loại hình kiểm tra, đánh giá………………………………… 61
2.3.1.1. Kiểm tra, đánh giá thường xuyên…………………………….61
2.3.1.2. Kiểm tra, đánh giá định kì……………………………………62
2.3.2. Hoạt động của hội đồng tự quản trong việc hỗ trợ học sinh tự kiểm
tra, đánh giá………………………………………………………………….62
KẾT LUẬN CHƯƠNG II………………………………………………… 71 7

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM… ………………….……… 72

7 Bảng 1.7: Kết quả khảo sát học sinh 43
8 Hình 2.1: Biểu đồ “Đánh giá hiệu quả của các hình thức học
tập”
55
9 Bảng 3.1. Kết quả kiểm tra học sinh trước thực nghiệm 73
10 Bảng 3.2. Kết quả kiểm tra học sinh sau thực nghiệm 74

9

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT Từ, cụm từ Viết tắt
1 Giáo viên GV
2 Học sinh HS
3 Kiểm tra, đánh giá KT, ĐG
4 Mô hình trường học mới VNEN

cao. Trước nhu cầu tất yếu của xã hội, giáo dục cần đi tìm lời giải cho bài
toán nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, nâng cao các năng lực nhận
thức, thực hành, vận dụng, giao tiếp,… cho học sinh nói riêng.
Để chuẩn bị cho đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục sau năm
2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thí điểm nhiều chương trình dạy
học mới, trong đó có Mô hình trường học mới gọi tắt là VNEN thí điểm ở cấp
Tiểu học. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, VNEN là kiểu mô hình nhà trường
tiên tiến, hiện đại. Mô hình này dựa trên kết quả và thành tựu đổi mới giáo
dục của quốc tế; vận dụng cách làm của giáo dục Colombia một cách sáng
tạo, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam. Mô 11

hình này đã được UNICEF, UNESCO, Ngân hàng Thế giới ủng hộ và đánh
giá cao. Đặc điểm nổi bật của VNEN là chuyển đổi quá trình dạy học trong
mô hình trường học hiện hành theo hướng rèn luyện kỹ năng tự học của học
sinh thông qua việc thay đổi tài liệu học tập và tổ chức quá trình học của học
sinh trong môi trường Sư phạm tương tác giữa học sinh và học sinh, giáo viên
và học sinh, tạo không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện.
Có thể thấy mô hình thực nghiệm Trường mới Việt Nam với định
hướng cốt lõi là học sinh Tự học – Tự quản – Tự rèn luyện được coi là một
trong những giải pháp có ưu thế cho sự thay đổi giáo dục Việt Nam.
Chính vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện kỹ
năng tự học cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn Toán theo mô
hình trường học mới (VNEN)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4
thông qua dạy học môn Toán theo mô hình trường học mới (VNEN).
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

thông qua môn Toán theo VNEN để đảm bảo mục tiêu Tự học – Tự quản –
Tự rèn luyện của mô hình, góp phần nhỏ bé trong việc xây dựng hệ thống căn
cứ khoa học và thực tế để xây dựng VNEN từ mô hình thực nghiệm đi lên mô
hình chính thức. 13

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Một số biểu hiện của kỹ năng tự học
1.1.1.1. Khái niệm và bản chất của tự học
Có nhiều khái niệm khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa
tiêu biểu:
Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự
học. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong
thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh
nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến
tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của
chủ thể.
– Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc
hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy”
– Theo tác giả Lê Khánh Bằng thì tự học (self learning) là tự mình suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một
lĩnh vực khoa học nhất định.
– Theo GS. Đặng Vũ Hoạt và PGS. Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy
học đại học” thì “Tự học là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm
vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp
hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã

Thật vậy, qua theo dõi, quan sát, có thể thấy ngay trong cùng một lớp
học, với các học sinh cùng độ tuổi, tất cả đều không có những bất thường về
tâm sinh lí cùng hoạt động theo một tài liệu hướng dẫn học tập như nhau
nhưng kết quả đạt được của mỗi em là khác nhau. Sự khác nhau này phần
nhiều là do nội lực của từng em. Cụ thể, những em chịu khó đọc, tìm hiểu,
thực hiện các bước học tập đầy đủ như hướng dẫn sẽ có kết quả tốt hơn những
em không tuân thủ nghiêm túc quá trình hoạt động. 15

Sách cũng chính là sản phẩm của các tác giả viết ra, cùng một quyển
sách nhưng sự tiếp thu và kiến thức mỗi người thu nhận được sau khi đọc
xong là không giống nhau. Học với sách thì khó khăn hơn khi học với thầy và
nếu có thắc mắc thì không có người để hỏi. Nhưng có như vậy, thì người học
mới cố gắng động não để tìm hiểu, giải đáp những thắc mắc của mình, thậm
chí tra cứu thêm những tài liệu có liên quan khác. Cách làm việc này có thể
mất thời gian hơn, song phải động não nhiều và người học quen dần với tác
phong “làm việc độc lập với sách”. Có như vậy thì người học mới rèn luyện
cho mình được năng lực tự học, tự học suốt đời vì không phải lúc nào cũng có
thầy bên cạnh.
Vậy nên tự học có thể diễn ra khi có thầy, có sách, cả khi không có thầy,
không có sách. Trong trường hợp này, khả năng đạt hiệu quả cao là khó khăn,
vì người học chỉ có thể học tập nhờ cọ xát và trải nghiệm trong thực tiễn. Đặc
biệt, đối với học sinh tiểu học, mức độ tự học hoàn toàn không thầy không
sách càng khó khăn hơn. Do đó, trước hết phải học một cách có hệ thống với
thầy, sau đó với sách, nắm chắc kiến thức cơ bản một cách có hệ thống, từ đó
tự mình sưu tầm tài liệu và mở rộng kiến thức bản thân một cách có chiều sâu
hơn.
“Tự học hoàn toàn” là mức độ mỗi người học cần đạt đến để có thể “Tự

* Người học biết lập kế hoạch. Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học
xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học. Muốn vậy, người học
phải xây dựng được kế hoạch học tập. Trên cơ sở bộ khung đã được thiết lập
đó, người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ dàng. Trong
quá trình lập kế hoạch người học phải chú ý một số điểm sau:
- Thứ nhất, người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch. Đó
có thể là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng
phần. Kế hoạch phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm,
từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình. 17

- Thứ hai, khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần
xác định được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời
gian công sức cho nó.
* Người học biết xác định nội dung học tập. Trong vô số những kiến
thức cần chiếm lĩnh, người học cần xác định được nội dung nào là cần thiết
cho việc tự học.
* Người học biết lựa chọn tài liệu, đồ dùng, phương tiện học tập. Ngày
nay rất nhiều tài liệu có thể giúp học sinh tự học, tuy nhiên để tự học hiệu quả
người học cần biết lựa chọn tài liệu, đồ dùng cũng như phương tiện phù hợp
với khả năng tiếp nhận, phù hợp với trình độ, phù hợp với điều kiện hoàn
cảnh gia đình.
* Người học biết thu thập thông tin từ các tài liệu đã lựa chọn. Trong
việc tiếp cận các thông tin, người học cần biết lựa chọn và chủ động tiếp nhận
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định
như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, làm thí
nghiệm… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin
một cách thông minh và linh hoạt.

thực hiện việc dạy, trò thực hiện việc học để chiếm lĩnh tri thức. Ba thành tố
này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau. Ở mỗi thời kì, mỗi
quan điểm giáo dục khác nhau thì vai trò của chúng cũng khác nhau. Theo
quan điểm dạy học truyền thống, thầy đóng vai trò trung tâm, truyền thụ tri
thức cho trò. Theo quan điểm dạy học hiện đại, đặc biệt coi trọng và phát triển
tự học thì trò trở thành trung tâm. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tập
trung nghiên cứu mối quan hệ thầy – tri thức – trò theo quan điểm lấy trò
(việc học của trò) là trung tâm.
Như trên đã nói, tự học thực chất là một quá trình mà ở đó trò tự nghiên
cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình. Như vậy, tự học nhấn
mạnh đến vai trò nội lực của trò. Thầy với việc dạy là ngoại lực tác động vào quá 19

trình tự học của trò. Nội lực bao giờ cũng là yếu tố giữ vai trò quyết định đối với
sự phát triển của trò. Sự tác động của thầy dù quan trọng đến mấy vẫn là ngoại
lực hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển và trưởng thành.
(Xem bảng 1.1)
THẦY (DẠY) TRÒ (TỰ HỌC)
Thầy hướng dẫn Trò tự đọc, tìm hiểu tài liệu, sách vở, đồ
dùng dạy học
Thầy tổ chức hoạt động học Trò tự thể hiện hoạt động học, tự trao
đổi, hợp tác đối thoại với bạn, với thầy
Thầy hỗ trợ trò cách tự học, cách
giải quyết vấn đề, cách xử lí tình
huống
Trò tự giải quyết vấn đề, tự xử lí tình
huống
Thầy là chuyên gia về việc học Trò là người tự học.

tập, tạo tiền đề cho quá trình tự tìm hiểu, tự học, tự hành động tìm ra tri thức.
Thứ ba, học sinh tiểu học có khả năng rút kinh nghiệm. Khi gặp một vấn
đề hay một tình huống phải giải quyết có tính tương tự với những vấn đề, tình
huống mà các em đã gặp trong quá khứ, các em có khả năng nhớ lại và giải
quyết nhanh hơn.
Thứ tư, ngôn ngữ của học sinh tiểu học ngày càng phát triển. Càng về
cuối cấp Tiểu học các em càng có kỹ năng biểu đạt rõ ràng về mặt ngữ pháp,
có kỹ năng diễn đạt ý nghĩ của mình một cách mạch lạc. Đây là một trong
những yếu tố để các em có thể đọc sách, trao đổi tương tác với bạn, với thầy
cô trong quá trình tự học.
Thứ năm, học sinh tiểu học có kỹ năng thực hiện các thao tác trí tuệ cơ
bản (so sánh, khái quát hoá, rút ra kết luận) để tự học.
Thứ sáu, học sinh tiểu học ở giai đoạn lớp 1, 2, 3 đã được làm quen và
chuẩn bị cho việc tự học cho nên lên lớp 4 kỹ năng tự học có thể được hình
thành và phát triển.
Với tất cả những điều kiện nêu trên cho phép học sinh tiểu học nói chung
và học sinh lớp 4 nói riêng thực hiện được các hoạt động tự học môn Toán 21

dưới sự hướng dẫn hợp lí của giáo viên và hỗ trợ của các tài liệu, đồ dùng
phương tiện dạy học cần thiết.
1.1.2.2. Một số biểu hiện của kỹ năng tự học của học sinh lớp 4 trong môn
Toán
Biểu hiện của kỹ năng tự học của học sinh lớp 4 trong môn Toán là:
- Biết xác định mục tiêu cho việc học Toán lớp 4.
- Tự đọc sách để nắm bắt kiến thức trong sách giáo khoa.
- Tự làm bài tập trong sách giáo khoa.
- Biết tự đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của mình qua việc đối

kế hoạch dạy và học của bộ môn. (Bảng 1.2)
Nội dung Mục tiêu Nhiệm vụ/ Bài tập Hoạt động cụ thể

Thời gian
1.
2.
3.
…. Bảng 1.2: Bảng kế hoạch học tập mẫu
Thứ ba, GV hướng dẫn cho HS cách tìm và đọc sách hoặc tài liệu liên
quan đến môn học. GV cần nhấn mạnh cho HS thấy rằng, kiến thức môn học
không chỉ gói gọn trong nội dung SGK, trong bài giảng của GV mà đến từ
nhiều nguồn khác nhau. Do đó, GV cần giới thiệu cho HS những cuốn sách
hay, những tài liệu bổ ích liên quan đến môn học và khuyến khích các em tự
tìm kiếm, tự phân tích và tổng hợp kiến thức.
Thứ tư, GV nên dạy cho HS cách ghi chép và nghe giảng vì đây là
những kỹ năng học tập vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình 23

học tập của HS. Trình độ nghe và ghi chép của người học ở mỗi môn học
khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào đặc thù của từng môn học và phương
pháp giảng dạy của từng giáo viên. HS thường mang lối học thụ động, quen
tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều HS chỉ chờ GV đọc
mới có thể ghi chép được nội dung bài học, nếu ngược lại thì bỏ trống vở.
Điều này khiến HS có tâm lí ức chế, ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến
thức. Để khắc phục vấn đề này này, GV nên xây dựng bộ giáo trình mẫu, bên

Ngoài ra, sự định hướng của người thầy đóng vai trò quyết định thúc đẩy sự
thành công trong việc chiếm lĩnh tri thức của người học.
1.1.4. Đặc điểm của mô hình VNEN
1.1.4.1. Mục tiêu và đặc điểm của mô hình VNEN
Dự án Mô hình Trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE–VNEN,
Global Partnership for Education–Vietnam Escuela Nueva) là một dự án về
sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến,
hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của Giáo dục Việt Nam.
a) Mục tiêu tổng thể của Dự án
– Tạo điều kiện cho trẻ em thuộc các nhóm trẻ khó khăn hoàn thành
chương trình giáo dục tiểu học có chất lượng, thông qua việc đổi mới cách tổ
chức các hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học (chuyển việc dạy học từ lối
truyền thụ kiến thức của giáo viên sang hướng dẫn hoạt động học cho học
sinh mà không làm thay đổi chuẩn kiến thức, kỹ năng và kế hoạch dạy học
của chương trình hiện hành) ở trường tiểu học.
– Rút ra những bài học thực tiễn có giá trị về đổi mới việc tổ chức các
hoạt động dạy và học trên toàn quốc (ở cấp Trung Ương và địa phương) nhằm
chuẩn bị cho đổi mới căn bản, toàn diện cả về chương trình, nội dung, phương
pháp và đánh giá cho chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, đồng
thời để đạt được giáo dục có chất lượng và bền vững.
25

b) Quy mô của Dự án (Tính đến năm học 2012 - 2013)
Năm học 2011–2012, tổ chức dạy–học thử nghiệm tại 12 trường của 6
tỉnh khó khăn ở phía Bắc, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
Năm học 2012–2013, tổ chức dạy–học thử nghiệm mở rộng tại 1.447
trường của 63 Tỉnh (TP) trên toàn quốc. Cụ thể :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status