luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự đổi mới kinh tế – xã hội, Đảng và nhà nước ta xác định
“Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Giáo dục luôn là động lực quan trọng thúc
đẩy sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội. Ở nước ta từ sau khi đổi mới,
giáo dục đạt được những thành tựu cơ bản cả về quy mô và chất lượng. Đại
hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần IX khẳng định: “Tiếp tục nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của
học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề,
đẩy mạnh phong trào tự học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo
dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả
nước trở thành một xã hội học tập”[44, 109]. Trong những năm qua, ngành
giáo dục đã có những sự thay đổi về chương trình, nội dung, sách giáo khoa ở
các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học. Sù đổi mới về
chương trình, nội dung, sách giáo khoa ở giáo dục phổ thông đòi hái phải đổi
mới cách dạy, cách học ở cao đẳng, đại học đồng thời cũng đặt ra vấn đề phải
đổi mới trong cách dạy, cách học đối với sinh viên sư phạm.
Mục tiêu giáo dục của nước ta là phát triển nhân cách con người toàn
diện về đức, trí, thể, mỹ, lao động. Từ luận điểm trên, chúng tôi cho rằng để
nâng cao chất lượng giáo dục trước tiên phải nâng cao hiệu quả học tập mà
cách học là một trong những yếu tố cơ bản quyết định chất lượng học tập.
Học cách học để học suốt đời “học nữa, học mãi”, học tất cả những gì cần
thiết cho cuộc sống trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong dạy
học nói chung và ở trường phổ thông nói riêng.
Chóng ta đang sống trong thời đại mà lượng thông tin tăng theo cấp số
nhân, chất lượng thông tin được đặt lên hàng đầu. Nhà trường không thể đưa
tất cả những kiến thức cần thiết cho cuộc sống vào dạy cho học sinh trong
1
thời gian ngồi trên ghế nhà trường và cũng không có nhà trường nào có thể
dạy cho học sinh tất cả những kiến thức đó. Kiến thức trong sách giáo khoa
luôn lạc hậu so với thực tiễn. Mặt khác, nhu cầu học tập của các cá nhân là

năng sống trong thế kỷ XXI.
Trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu về vấn đề
tự học của Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Phan Trọng Luận, Phan Trọng
Ngọ, Vũ Quốc Chung, Thái Duy Tuyên và nhiều tác giả khác Các công
trình đã đề cập đến các khái niệm cơ bản, lợi Ých, giá trị của hoạt động tự
học; kỹ năng học tập; phân loại các kỹ năng; hình thành kỹ năng học tập. Cã
một số luận văn nghiên cứu về hoạt động tự học của học sinh, sinh viên và
đều quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người
học, đưa ra các nhóm biện pháp rèn luyện cho người học những kỹ năng học
tập. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu mà các tác giả đưa ra còn mang
tính khái quát. Các môn học đều có các phương pháp đặc trưng khi làm việc
với các nguồn tri thức khác nhau. Vì thế cần phải có những nghiên cứu để
hình thành và rèn luyện những kỹ năng học cơ bản, hình thành phương pháp
học cho sinh viên.
Theo kết quả khảo sát của chúng tôi tại trường Cao đẳng Cần Thơ
(CĐCT) cho thấy, kỹ năng học những môn nghiệp vụ sư phạm, đặc biệt là
môn Giáo dục học của sinh viên ở mức thấp. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
tình trạng này. Một trong những nguyên nhân cơ bản là sinh viên chưa nhận
thức đúng đắn về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tự học môn Giáo dục
học (GDH), chưa nắm được quy trình hành động của các kỹ năng học để có
thể tự học; nhà trường, giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc dạy kỹ
năng học cơ bản môn GDH cho sinh viên. Như vậy, muốn nâng cao chất
3
lượng học tập nói chung và nâng cao chất lượng học tập môn GDH nói riêng
thì vấn đề quan trọng hiện nay là cần có những biện pháp cụ thể nâng cao chất
lượng tự học môn GDH cho sinh viên trường Sư phạm.
Từ những lý do trên, chúng tôi đã lùa chọn nghiên cứu “BIỆN PHÁP
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TÙ HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC CHO SINH
VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ”.
2. Mục đích nghiên cứu

cơ bản.
Các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, các tạp chí, tài liệu
liên quan.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát theo dõi thực tế và diễn biến về học tập, hoạt động tù
học môn GDH của sinh viên.
Sử dụng phiếu thăm dò thực trạng nhận thức, phương pháp học
môn GDH của sinh viên trường CĐCT.
Thăm dò ý kiến giáo viên về tính khả thi của các biện pháp rèn
luyện kỹ năng học môn GDH.
Phân tích thực trạng nhận thức cũng nh thực trạng phương pháp
học môn GDH của sinh viên các líp sư phạm K31: Địa - Sử, Toán - Lý,
Văn - sử, Thể dục.
7.3 Phương pháp thống kê
Chúng tôi sử dông phương pháp thống kê bằng phần mềm SPSS để xử
lý kết quả đã điều tra.
5
8. Cấu tróc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba
chương.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỌC
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu vấn đề dạy và học cách học
1.1.2 Nghiên cứu vấn đề kỹ năng và kỹ năng học tập
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Môn GDH trong chương trình đào tạo giáo viên CĐSP
1.2.2 Hoạt động dạy học
1.2.3 Hoạt động học
1.2.4 Kĩ năng học môn GDH

KẾT LUẬN VÀ KHUYÕN NGHỊ
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỌC
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, trong khoa học giáo dục có nhiều công trình đã nghiên cứu
về vấn đề tự học, kỹ năng học ở các cấp độ khác nhau tạo nên sự đa dạng về
thể loại và sự phong phú về nội dung tri thức trong lĩnh vực này.
1.1.1 Nghiên cứu vấn đề dạy và học cách học
Khi trình độ xã hội phát triển ngày càng cao, tính tự chủ, năng động,
sáng tạo ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nhân
cách cá nhân. Để đáp ứng yêu cầu đó trong cải tiến dạy học cần phải chuyển
từ quan điểm hoạt động dạy truyền thô kiến thức là chủ yếu sang hoạt động
học tự chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng của người học là chủ yếu.
Dạy và học cách học có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử giáo dục của
nhân loại. Tự học không phải là vấn đề mới mẻ trong lý luận và thực tiễn dạy
học. Có nhiều tác giả nghiên cứu tự học từ nhiều góc độ khác nhau. Nhiều tác
giả xem xét tự học nh mét hình thức tổ chức dạy học gắn với sự tổ chức định
hướng chỉ đạo của giáo viên trong quá trình hoạt động nhận thức của người
học. Nghĩa là, khi người học tự giác, tích cực, chủ động trong hoạt động
chiếm lĩnh tri thức bằng các thao tác hành động bên ngoài và các thao tác tư
duy được gọi là tự học. Học theo quan niệm này đồng nghĩa với tự học.
Một số tác giả quan niệm tự học chỉ xảy ra khi người học độc lập hoạt
động không có sự hỗ trợ của người khác. Nhưng các tác giả đều thống nhất
quan niệm các kỹ năng học tập (kỹ năng cơ bản) là điều kiện quan trọng đảm
bảo tự học có kết quả.
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, trong quá trình truyền thụ kinh
nghiệm xã hội cho thế hệ sau, các nhà khoa học đã rất quan tâm đến tính tích
8
cực, chủ động, sáng tạo của người học. Điều đó được thể hiện qua quan điểm

Tinh thần đó tiếp tục được phát huy và ngày một nâng cao hơn. Khi
trình độ xã hội ngày càng phát triển, xã hội thông tin buộc mỗi cá nhân phải
luôn thích ứng nhanh với cuộc sống đầy biến động. Vì vậy, mỗi người phải
trang bị cho mình những kỹ năng sống cơ bản. Một trong những kỹ năng đó là
kỹ năng tự học, tự đào tạo.
Các nhà tâm lý học hoạt động đã chứng minh hoạt động giữ vai trò
quyết định trực tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách. Mặt khác,
mục đích cuối cùng của giáo dục, dạy học là phát triển trí tuệ và các phẩm
chất nhân cách của người học. Để có được tri thức thật sự, người học phải tích
cực, chủ động, nhập cuộc vào hoạt động để tạo nên sản phẩm giáo dục của
chính mình. Nhờ đó mà có thể tiếp thu được những kiến thức mới, những kỹ
năng mới và phương pháp học mới. Cái mới đó sẽ bồi dưỡng được cho người
học có cách nhìn đúng đắn về tự nhiên, xã hội, con người, công việc và bản
thân.
1.1.2 Nghiên cứu vấn đề kỹ năng và kỹ năng học tập
Từ lâu vấn đề kĩ năng đã được các nhà tâm lý học và Giáo dục học
quan tâm nghiên cứu theo nhiều cấp độ khác nhau: một là, nghiên cứu kĩ năng
ở mức độ lý thuyết mang tính khái quát; hai là, nghiên cứu kĩ năng cơ bản với
các nguồn tri thức và ở mức độ cụ thể khi học với các bài của từng môn học.
Hướng thứ nhất, nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát. Đại diện cho
hướng nghiên cứu này có Ia Ganperin ,V. A Crutexki, P. V Petropxki,
L.F.Kharlamov, P. Ia Ganperin, Ilina
Hướng thứ hai, nghiên cứu kỹ năng cơ bản có các tác giả như D B.
Elkonin, V. V Davưdốp, A. K. Markova, Vũ Trọng Rỹ, Đặng Thành Hưng,
10
Vũ Thị Tường Vi, Nguyễn Văn Đản, Nguyễn Thị Tươi, Nguyễn Văn Hoan,
Bùi Thị Toan, Nguyễn Văn Hoan, Vò Quốc Chung các tác giả nghiên cứu
kỹ năng trong các dạng hoạt động cụ thể như: kỹ năng lao động, kỹ năng sư
phạm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng học tập, kỹ năng đọc sách Các tác giả đã
xây dùng các hệ thống kỹ năng cơ bản tương ứng với từng dạng hoạt động.

trường sư phạm. Dạy môn GDH nhằm trang bị cho sinh viên sư phạm các tri
thức về GDH đại cương, lý luận dạy học, lý luận giáo dục và phương pháp
nghiên cứu khoa học. Mục đích cuối cùng của việc học môn GDH là nhằm
trang bị cho sinh viên một hệ thống các kiến thức, kỹ năng, phương pháp và
hệ thống các chuẩn mực thái độ, hành vi cần thiết để làm nghề dạy học.
Trường sư phạm là loại trường đào tạo sinh viên làm nghề dạy học. Vì
vậy ngoài những mục tiêu kiến thức, kỹ năng thực hành bộ môn còn có mục
tiêu hình thành cho sinh viên năng lực làm nghề dạy học, đặc biệt là năng lực
giáo dục con người. Một khóa đào tạo kém chất lượng, những sinh viên ra
trường yếu kém sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của 30, 40 thế hệ học
sinh. Đó là lý do vì sao nhiều nước đặc biệt quan tâm đến chất lượng đào tạo
đội ngò giáo viên.
Đầu thế kỷ XXI tổ chức UNESCO đã đề xướng mục tiêu phát triển cá
nhân là: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học để làm
người. Đó cũng là mục tiêu phấn đấu của các sinh viên sư phạm. Theo cách
tiếp cận này học môn GDH nhằm đạt những mục tiêu như sau:
* Học để biết
12
Học để biết đối với sinh viên sư phạm là biết các kiến thức, kỹ năng về
chuyên môn nghiệp vụ bao gồm:
Biết lợi Ých, giá trị của việc học môn GDH đối với nghề dạy học;
Biết mục tiêu chương trình, các kiến thức, kỹ năng cơ bản về giáo dục
học đại cương, lý luận dạy học, lý luận giáo dục;
Biết các kiến thức cơ bản về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học, giáo dục, phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục;
Biết cách điều tra, phát hiện, chẩn đoán khả năng phát triển của cá
nhân, tập thể líp do mình phụ trách;
Biết các kiến thức về giao tiếp sư phạm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi
học sinh, với đồng nghiệp và cha mẹ học sinh;
Biết các kiến thức cơ bản về tổ chức dạy học, tổ chức các hoạt động

Tự khẳng định được mình khi sinh viên đã thực hiện được tốt mục tiêu
học để biết, học để làm. Sinh viên chỉ có thể tự khẳng định mình khi hiểu sâu
sắc về giá trị của nghề dạy học. Học để tự khẳng định mình thể hiện:
Tự hào về nghề dạy học;
Tù tin vào sự hiểu biết về nghiệp vụ, kỹ năng thực hành dạy học, giáo
dục của mình;
Năng lực tự đánh giá mình, đánh giá học sinh và mọi người, biết học
hỏi, hợp tác trong công việc, giúp đỡ bạn bè đồng nghiệp trong tập thể;
Tích cực, chủ động trong học tập, trong thực hành nghề dạy học
* Học để làm người
Học để làm người thông qua môn GDH thể hiện:
Làm một công dân tốt, thực hiện tốt các quyền lợi, nghĩa vụ trách
nhiệm của công dân, của một giáo viên;
14
Hình thành những phẩm chất nhân cách của người thầy giáo;
Luôn cố gắng học hỏi, nâng cao trình độ nghiệp vụ, làm tốt nghề dạy
học để đem lại lợi Ých cho bản thân và xã hội;
Có lòng khoan dung, yêu nghề, yêu học sinh ;
Luôn có tinh thần trách nhiệm trong khi thực hành nghề dạy học…
Tóm lại, làm sáng tỏ mục tiêu học để biết, học để làm, học để tự khẳng
định mình, học để làm người trong quá trình dạy và học môn GDH là cơ sở
quan trọng để giáo viên, sinh viên hoàn thành mục tiêu và nâng cao chất
lượng học tập môn Giáo dục học.
1.2.2 Hoạt động dạy học
1.2.2.1 Quan niệm về hoạt động dạy học
Dạy học là một hoạt động kép bao gồm hoạt động dạy và hoạt động
học. Mỗi hoạt động đều có mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ
chức và kết quả. Các yếu tố trong từng hoạt động có mối quan hệ biện chứng
lẫn nhau. Giữa các yếu tố của hoạt động dạy với hoạt động học còng có các
mối quan hệ biện chứng với nhau (mục đích dạy với mục đích học ; nội dung

huống dạy học, người dạy luôn là người chỉ đường, gợi mở, dẫn dắt người
học khám phá, tìm kiếm, kiến thức, kỹ năng, phương pháp học cho chính
mình. Người dạy là người hướng dẫn người học cách chiếm lĩnh và vận dụng
tri thức. Vì vậy giáo viên phải biết cách tổ chức hoạt động dạy của mình theo
mét quy trình hợp lý sao cho khi thực hiện đạt kết quả mong muốn. Có thể nói
tổ chức hoạt động dạy thực chất là đưa người học vào quá trình thực hiện các
hành động học bằng hệ thống các thao tác theo mét quy trình cụ thể.
Mét trong những mục tiêu cơ bản của dạy học ngày nay là dạy cách
học. Vì thế người thầy trước hết phải là người biết cách học, biết cách nghiên
16
cứu khoa học, biết thu thập, xử lý và vận dụng thông tin. Nếu như trước đây
vai trò chính của người thầy là truyền đạt tri thức (còn người học tiếp thu tri
thức chủ yếu từ thầy) thì ngày nay vai trò của dạy là sự hướng dẫn, là cố vấn,
là người “châm mồi” gợi mở cho sù học, còn người học tiếp thu tri thức chủ
yếu thông qua tự học, phát triển các năng lực sở trường của cá nhân. Vì vậy,
dạy học không đơn thuần cung cấp tri thức mà quan trọng hơn là dạy cho học
sinh con đường tìm kiếm tri thức. Nói cách khác phương pháp dạy chủ yếu là
thông qua dạy các kiến thức cơ bản để dạy cách chiếm lĩnh tri thức, tức là dạy
cách học, dạy phương pháp tự học. Đây là chiếc “chìa khóa” hữu hiệu mà
người học cần có để tự học tất cả những gì cần cho cuộc sống nghề nghiệp.
Ngày nay có rất nhiều phương pháp dạy học khác nhau. Mỗi phương pháp
đều có thể phát huy tính tích cực nhận thức của người học trong từng tình
huống cụ thể tùy thuộc vào nội dung, đặc điểm của người học, khả năng của
giáo viên và các điều kiện dạy học Do đó người dạy cần biết phát huy tối đa
những ưu điểm của các phương pháp dạy học để hình thành cho người học
phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập,
phương pháp giải quyết vấn đề.
1.2.2.3 Lùa chọn phương án tối ưu cho từng bài học
Lùa chọn tối ưu được hiểu là sự lùa chọn tốt nhất nhằm đem lại hiệu
quả cao nhất. Lùa chọn phương án tối ưu cho từng bài học có thể hiểu là trong

Căn cứ vào kết quả phân tích của các bước 1,2,3,4 để lùa chọn những
phương pháp dạy học cụ thể.
Phương pháp dùng trực quan theo nhóm hoặc cả líp.
18
Phương pháp học với các văn bản, tự đọc từng phần theo nhóm nhỏ
hoặc cá nhân để thảo luận trên líp.
Chọn phương pháp làm bài tập, giải quyết vấn đề.
Chọn phương pháp dùng lời: diễn giảng, vấn đáp, thảo luận nhóm, nêu
vấn đề, liên hệ thực tế
Bước 6: Biểu đạt kế hoạch bài học (giáo án) bằng văn bản.
Xác định mục tiêu, các yêu cầu cơ bản của bài.
Những đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo, các kiến thức kỹ năng đã
học liên quan đến bài này.
Cách đặt vấn đề kích thích hứng thó học tập.
Hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh trên líp.
Rèn luyện kỹ năng, củng cố hệ thống kiến thức, hướng dẫn tự học ở
nhà.
1.2.3 Hoạt động học
1.2.3.1 Quan niệm về hoạt động học và tự học
Theo Brown, Bull và Pendlebury, “Học là một sự thay đổi về kiến
thức, cách hiểu, kỹ năng và thái độ thông qua quá trình nhận thức và suy
nghĩ về quá trình nhận thức đó” [45]
Theo lý thuyết thông tin “học là quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi
mình, tự làm phong phú mình bằng cách xử lý thông tin lấy từ môi trường
sống xung quanh mình”. [20, 230]
Lý thuyết sư phạm tương tác thì coi việc học nh là sự tương tác giữa bộ
ba người dạy – người học – môi trường. Trong đó người học là “người thợ”
của quá trình tìm kiếm tri thức; người dạy giúp đỡ, là người phục vụ người
học; môi trường ảnh hưởng đến hoạt động của người dạy và hoạt động học
của người học và chính họ cũng có thể làm thay đổi môi trường.

hành vi, nhờ đó mà nhân cách ngày càng phát triển. Như vậy, hoạt động học
đã bao hàm nghĩa tự học.
Tự học (self – learning) theo Nguyễn Cảnh Toàn “là tự mình động não,
sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của
mình để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực
đó thành sở hữu của mình”. [35]
Nguyễn Quang Huỳnh thì cho rằng: “tự học là một hình thức hoạt
động nhận thức nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản
thân người học tiến hành ở trên líp hoặc ở ngoài líp” [20, 241].
Đối với sinh viên, tự học là hình thức người học tự tổ chức hoạt động
học tập, tự điều khiển hoạt động nhận thức của chính mình. Tự học không chỉ
giúp sinh viên mở rộng, đào sâu những điều đã học mà còn là con đường chủ
yếu để rèn luyện các kỹ năng, vận dụng, hình thành phẩm chất năng lực cá
nhân. Nếu như người thầy, nội dung, chương trình… là ngoại lực của quá
trình học tập thì người học, động cơ học tập, khả năng tự học chính là nội lực
của quá trình tạo nên chất lượng học tập. Nội lực là yếu tố chính quyết định
trực tiếp chất lượng của việc học. Hai yếu tố nội lực và ngoại lực của quá
trình học tập nếu được tổ chức hợp lí sẽ tạo nên chất lượng học tập. Học và tự
học được định nghĩa như thế nào thì đều có bản chất giống nhau là người học
phải luôn tập trung chó ý, tích cực, chủ động lĩnh hội các tri thức. Giáo sinh
sư phạm là những giáo viên tương lai, có kỹ năng tự học là mục đích và cũng
là phương tiện để họ hình thành năng lực nghề nghiệp và cũng là cơ sở quan
trọng để họ biết cách tổ chức dạy cho học sinh cách tự học.
Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng: tự học là quá trình cá nhân
tập trung chó ý, tự giác, tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức
nhằm đạt được mục đích học tập của mình.
21
1.2.3.2 Đặc điểm của hoạt động học
Bản chất của hoạt động học hay tự học được thể hiện qua những đặc
điểm cơ bản như sau:

hướng vào việc tiếp thu về cách thức tổ chức hoạt động học, hay nói
cách khác là học cách học.
Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học
(phương pháp học) nghĩa là phải có tri thức về bản thân hoạt động học. Học
cách học có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập, hình thành năng
lực nghề nghiệp đồng thời đó là một trong những con đường cơ bản giúp
người học không ngừng bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp.
Hoạt động học bao giê cũng mang cái mới đến cho người học.
Các kiến thức học sinh có được trong hoạt động học không là mới đối
với khoa học nhưng là mới đối với bản thân. Các kỹ năng, phương pháp học
sinh tiếp thu được không là mới với các nhà sư phạm nhưng là mới đối với
học sinh. Nhờ có cái mới đó mà học sinh luôn cảm thấy hứng thó trong học
tập.
Nhu cầu động cơ học tập được người học tiếp nhận trở thành
động lực thúc đẩy hoạt động học.
“Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của
hành vi”[41, 206]. Trong hoạt động học tập động cơ là những yếu tố cơ bản
thúc đẩy sự nỗ lực học tập của học sinh. Có nhiều loại động cơ khác nhau và
cũng có nhiều cách chia động cơ khác nhau: động cơ gần và động cơ xa, động
cơ quá trình và động cơ kết quả, động cơ bên ngoài và động cơ bên trong
Trong quá trình học tập, người học có thể chi phối bởi nhiều động cơ khác
nhau. Mức độ tích cực của người học chịu sư chi phối bởi động cơ chủ đạo.
23
Ví dụ: học ngành sư phạm vì yêu thích chính nghề dạy học là chủ yếu người
học sẽ vượt qua mọi khó khăn trở ngại để trở thành giáo viên. Ngược lại, nếu
học ngành sư phạm do sù Ðp buộc của gia đình (không yêu thích) thì khi gặp
khó khăn trong học tập thì mức độ nổ lực sẽ không cao và người học dễ nản
lòng. Có thể tồn tại nhiều động cơ khác nhau trong cùng hoạt động nhưng
hoạt động học tập phải được kích thích bởi những động cơ phù hợp. Tức là
những động cơ đó phải gắn liền với nội dung học tập (hệ thống tri thức).

không chỉ giúp người học lĩnh hội hệ thống tri thức xã hội mà sâu xa hơn là
giúp người học “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Học đại
học chủ yếu là học phương pháp, học cách tư duy. Sinh viên sư phạm là
những giáo viên tương lai (những kỹ sư tâm hồn). Muốn trở thành giáo viên
giỏi người giáo sinh phải biết cách học, cách tổ chức hoạt động nhận thức của
bản thân để sau khi tham gia công tác giảng dạy, có thể tổ chức hoạt động
nhận thức cho học sinh.
1.2.3.3 Hình thức tổ chức hoạt động học
Hoạt động học bao giê cũng được tiến hành thông qua những hình thức
cơ bản như sau:
Hoạt động học có sự điều khiển hướng dẫn của giáo viên.
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn có mối quan hệ thống nhất biện
chứng. Giáo viên – chủ thể của hoạt động dạy luôn tổ chức, hướng dẫn, điÒu
khiển hoạt động học; Học sinh – chủ thể thể của hoạt động học dưới sù hướng
dẫn, điều khiển của giáo viên tự điều khiển hoạt động học của mình.
Hình thức tự điều khiển hoạt động học tập.
Đây là hoạt động mà người học độc lập, tự giác hoàn toàn trong quá
trình tổ chức chiếm lĩnh tri thức. Hình thức tổ chức này đòi hỏi tính tự giác
25

Trích đoạn Thực trạng nhận thức của sinh viên về tự học môn Giáo dục học Thực trạng về cách học môn Giáo dục học của sinh viên Thực trạng mức độ nắm vững quy trình học môn Giáo dục học của sinh viên Mức độ nắm quy trình học với các tài liệu đọc Thực trạng nắm vững quy trình học của sinh viên với nguồn tri thức là phương tiện trực quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status