HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------------------
NGUYỄN THỊ NGA
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN LẠNG GIANG,
TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------------------
NGUYỄN THỊ NGA
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN LẠNG GIANG,
TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành
: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.01
và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Hồ Ngọc Ninh đã tận tình hướng dẫn, dành
nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và
thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn kế hoạch và đầu tư, Khoa kinh tế và phát triển nông thôn - Học viện Nông
nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức bệnh viện đa
khoa huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn
thành luận văn./.
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Nga
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
2
1.2.1
Mục tiêu chung
2
1.2.2
Mục tiêu cụ thể
2
1.3
Câu hỏi nghiên cứu
3
1.4
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
Tổng quan về bệnh viện và hoạt động của bệnh viện
15
2.1.3
Quản lý dịch vụ khám chữa bệnh
18
2.1.4
Nội dung của quản lý dịch vụ khám chữa bệnh
20
2.1.5
Nguyên tắc của quản lý dịch vụ khám chữa bệnh
23
2.1.6
Hệ thống quản lý dịch vụ khám chữa bệnh
26
2.1.7
Bài học kinh nghiệm quản lý dịch vụ khám chữa bệnh của một số
bệnh viện Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang
2.2.4
35
Bài học kinh nghiệm quản lý dịch vụ khám chữa bệnh cho bệnh
viện đa khoa huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
37
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
38
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
38
3.1.1
Tình hình phát triển kinh tế xã hội và y tế của huyện Lạng Giang
38
3.1.2
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu.
45
3.3.1
Chỉ tiêu phản ánh thực trạng hoạt động dịch vụ khám chữa bệnh
45
3.3.2
Chỉ tiêu phản ánh thực trạng quản lý dịch vụ khám chữa bệnh
45
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1
46
Thực trạng quản lý dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện đa khoa
huyện Lạng Giang
46
4.1.1
Quy trình khám chữa bệnh
59
4.2.2
Đánh giá của cán bộ nhân viên bệnh viện về quản lý dịch khám
chữa bện của bệnh viện
4.3
65
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dịch vụ khám chữa
bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang
73
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
4.3.1
Chủ trương chính sách của đảng, nhà nước trong quản lý dịch vụ
khám chữa bệnh
73
4.3.2
80
Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa
huyện Lạng Giang
4.4.2
81
Tăng cường năng lực quản lý dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh
viện
84
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
88
5.1
Kết luận
88
5.2
Kiến nghị
89
KCB
Khám chữa bệnh
TTBYT
Trang thiết bị y tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Một số thông tin chung về bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang
42
3.2
Lao động của bệnh viện thống kê theo khoa phòng
4.5
Kỹ năng mềm và trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ
54
4.6
Tình hình lao động của bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang theo
thâm niên công tác
4.7
55
Hoạt động khám chữa bệnh ở bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang
năm 2012 đến 2014
4.8
56
Tình hình phân bố nhân lực theo giường bệnh và tỷ lệ y tá/bác sỹ của
bệnh viện
4.9
57
Kết quả điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang
4.16 Đánh giá của cán bộ về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện
71
4.17 Dự kiến đội ngũ cán bộ năm 2016
82
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HỘP
Sơ đồ 2.1
Mô hình cơ cấu tổ chức của bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang
Sơ đồ 4.1
Quy trình khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện
Lạng Giang
41
47
Biểu đồ 4.1 Đánh giá của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về thái độ đón
tiếp của nhân viên y tế khi đến khám bệnh tại khoa khám bệnh
59
Hộp 4.2
Nhận xét về thái độ ứng xử
76
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc sống hiện đại kéo theo sự xuất hiện của nhiều loại bệnh khác nhau,
và cũng tăng cao nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. cùng với sự phát triển
KT – XH, nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ của nhân dân ngày càng tăng lên. Để
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên đó, đòi hỏi phải phát triển nhanh các dịch vụ
y tế dự phòng, y tế chữa trị, mạng lưới các cơ sở y tế. Đời sống người dân được
nâng cao, họ tìm đến các cơ sở khám chữa bệnh để thăm khám, một là để chữa trị
bệnh tật, hai là để phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc sức khỏe bản thân tốt hơn. Bên
cạnh các cơ sở y tế Nhà nước thì các cơ sở y tế tư nhân thành lập ngày càng
nhiều với dịch vụ thăm khám và chăm sóc bệnh nhân rất chu đáo, tận tình. Điều
này đồng nghĩa với việc các cơ sở khám chữa bệnh thuộc mô hình quản lý của
Nhà nước sẽ phải nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của đơn vị, nếu
muốn người dân tin tưởng sử dụng dịch vụ của cơ sở.
Việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của các cơ sở y tế có hiệu quả
hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu cơ sở y tế thiết lập được một quy
trình quản lý dịch vụ khám chữa bệnh hiệu quả, đó là tiền đề để nâng cao chất
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý dịch vụ
KCB tại các cơ sở khám chữa bệnh nói chung, nhìn nhận khách quan công tác
này tại bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, đồng thời mong
muốn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ khám
chữa bệnh tại đây vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Tăng cường quản lý dịch vụ
khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh
viện đa khoa huyện Lạng Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường quản
lý dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc
Giang trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý dịch vụ khám chữa
bệnh tại các bệnh viện.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện
đa khoa huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2014.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ khám chữa bệnh tại
bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý dịch vụ khám chữa bệnh tại
bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1) Thực trạng công tác quản lý dịch vụ khám chữa bệnh ở bệnh viện đa
khoa huyện Lạng Giang hiện nay như thế nào?
1.4.2.3 Phạm vi không gian.
Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang, tỉnh
Bắc Giang.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ khám chữa bệnh
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Quản lý
chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát
triển. Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác
nhau (Đoàn Thi Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2004a).
C. I. Barnarrd (1866-1961) tiếp cận quản lý từ góc độ của lý thuyết hệ
thống, là đại biểu xuất sắc của lý thuyết quản lý tổ chức cho rằng: Quản lý không
phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn để duy trì và phát
triển tổ chức. Điều quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức đó
là sự sẵn sàng hợp tác, sự thừa nhận mục tiêu chung và khả năng thông tin (Đoàn
Thi Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2004a).
Harol Koontz (1909 – 1984) đã cho rằng: "Quản lý là một nghệ thuật nhằm
đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng
dẫn hoạt động của những người khác" (Harol Koontz và CS., 1993).
Bên cạnh đó, Nguyễn Minh Đạo cho rằng "Quản lý là sự tác động chỉ huy,
điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
hướng và đồng thời ứng phó với sự bất định của môi trường.
Thứ hai: Vai trò thiết kế
Để thực hiện mục tiêu với các phương án và các nguồn lực đã được xác
định thì cần phải có "kịch bản". Chính vì vậy, thông qua chức năng tổ chức mà
các hoạt động quản lý sẽ thực hiện vai trò thiết kế của nó. Vai trò thiết kế liên
quan tới các nội dung: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định biên chế, phân công
công việc, giao quyền và chuẩn bị các nguồn lực khác. Thực hiện tốt những nội
dung này là tiền đề và điều kiện đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả của hoạt
động quản lý (Đoàn Thi Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2004b).
Thứ ba: Vai trò duy trì và thúc đẩy
Vai trò duy trì và thúc đẩy được thể hiện qua chức năng lãnh đạo của quy
trình quản lý. Nhờ có hệ thống nguyên tắc quản lý (nội quy, quy chế) mới có thể
bắt buộc chủ thể quản lý và đối tượng quản lý hoạt động trong giới hạn quyền
lực và thẩm quyền của họ. Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên
kỷ luật, kỷ cương tính ổn định, bền vững của một tổ chức (Đoàn Thi Thu Hà và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2004b).
Thông qua hệ thống chính sách về nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực phù hợp
và phong cách quản lý hợp lý, hoạt động quản lý là tác nhân tạo ra động cơ thúc
đẩy từ đó phát huy cao nhất năng lực của người lao động và tạo điều kiện cho họ
khả năng sáng tạo cao nhất.
Thứ tư: Vai trò điều chỉnh
Thông qua chức năng kiểm tra mà hoạt động quản lý thể hiện vai trò điều
chỉnh của nó. Với hệ thống các tiêu chí được xây dựng để đo lường các kết quả
hoạt động của tổ chức để đưa ra các giải pháp nhằm điều chỉnh những sai lệch,
sửa chữa những sai lầm, từ đó đảm bảo cho tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu
thành viên trong đơn vị.
(ii) Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là sự tác động tới lợi ích vật chất của tập thể hay cá
nhân nhằm làm cho họ quan tâm tới kết quả hoạt động và chịu trách nhiệm vật
chất về hoạt động của mình. Phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất là động lực
cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội. Lợi ích cá nhân người lao động phải được
coi là cơ bản và tác động nhất đến hoạt động của con người. Vi phạm nguyên tắc
khuyến khích lợi ích vật chất và trách nhiệm vật chất sẽ thủ tiêu động lực kích
thích người lao động. Ănghen đã nhấn mạnh rằng lợi ích vật chất là cái làm
chuyển động quảng đại nhân dân lao động, đồng thời lợi ích vật chất cũng là chất
kết dính các hoạt động riêng lẻ theo một mục đích chung (Đoàn Thi Thu Hà và
Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2004b).
Sử dụng các đòn bẩy kinh tế là nội dung chủ yếu của phương pháp kinh
tế. Các đòn bẩy như tiền lương, tiền thưởng... có tác động lớn tới người lao động.
Nó có tác dụng kích thích hay hạn chế động lực làm việc của mỗi người. Bên
cạnh việc sử dụng hệ thống đòn bẩy kinh tế cũng phải sử dụng đòn hãm như phạt
vật chất và trách nhiệm vật chất khác.
(iii) Phương pháp tuyên truyền giáo dục
Phương pháp tuyên tuyền giáo dục và sự tác động tới tinh thần và năng
lực chuyên môn của người lao động để nâng cao ý thức và hiệu quả công tác.
Phương pháp tuyên truyền bao gồm những nội dung cơ bản như sau (Đoàn Thi
Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2004b):
- Qua hệ thống thông tin đa chiều tác động tới toàn bộ hệ thống quản lý
và người lao động. Động viên khích lệ những tư tưởng tốt tiến bộ và uốn nắn kịp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
thời những tư tưởng thiếu lành mạnh. Khơi dậy ý thức trách nhiệm và lòng tự tôn
Page 10
- Theo cách phổ biến: Dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô
hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do khách
hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu.
- Theo cách hiểu khác: Dịch vụ là một hoạt động xã hội mà hoạt động này
đã xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của công ty
cung ứng dịch vụ .
Theo ISO 8402: “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa
người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để
đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Nguyễn Đình Phan, 2005).
Dịch vụ bao gồm 3 bộ phận hợp thành:
- Dịch vụ căn bản là hoạt động thực hiện mục đích chính, chức năng,
nhiệm vụ chính của dịch vụ.
- Dịch vụ hỗ trợ là hoạt động tạo điều kiện thực hiện tốt dịch vụ căn bản
và làm tăng giá trị của dịch vụ căn bản như du lịch biển, dịch vụ căn bản là tắm
biển nhưng dịch vụ hỗ trợ là ăn, ở khách sạn, các hoạt động tham quan du lịch,
vui chơi, giải trí và hoạt động văn hoá.
- Dịch vụ toàn bộ bao gồm dịch vụ căn bản và dịch vụ hỗ trợ.Với một hoạt
đông nhất định, nhiều khi khó tách bạch giữa sản phẩm và dịch vụ và sản xuất.
Cụ thể muốn cung cấp một dịch vụ cần có các yếu tố sau:
- Khách hàng đang nhận dạng dịch vụ và các khách hàng khác. Đây là yếu
tố căn bản và tuyệt đối cần thiết để có dịch vụ. Không có khách hàng thì không
có dịch vụ tồn tại.
- Cơ sở vật chất bao gồm phương tiện, thiết bị, môi trường như địa điểm,
khung cảnh…
- Nhân viên phục vụ, hoạt động dịch vụ. Dịch vụ là mục tiêu của hệ thống
dịch vụ và cũng chính là kết quả của hệ thống.
- Sản phẩm đi kèm.
bệnh, khai thác bệnh, thăm khám thực thể và sử dụng các phương pháp chuyên
môn để điều trị, phục hồi chức năng…cho người bệnh.
Với tính chất quan trọng của công tác khám bệnh và chữa bệnh, Đảng và
nhà nước ta luôn xác định:
i) Ưu tiên bố trí ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh
cơ bản của nhân dân. Quan tâm giành ngân sách cho việc chăm sóc sức khoẻ đối
với người có công với cách mạng, trẻ em, người nghèo, nông dân, đồng bào dân
tộc thiểu số, nhân dân ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn và vùng có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. ii) Tăng cường phát triển nguồn nhân
lực y tế, đặc biệt là nguồn nhân lực y tế ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó
khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Thực hiện chế độ
luân ohiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
từ tuyến trên xuống tuyến dưới, từ vùng có điều kiện kinh tế - xã hội không khó
khăn đến vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn. iii) Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh. iv)Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong khám bệnh, chữa
bệnh (Quốc hội, 2009).
2.1.1.4 Dịch vụ khám chữa bệnh
Dịch vụ khám chữa bệnh là một là một loại hình của dịch vụ y tế. Dịch
vụ khám chữa bệnh bao gồm dịch vụ khám bệnh khi có yêu cầu của cộng đồng
hoặc cá nhân và dịch vụ chữa bệnh đối với cộng đồng và cá nhân khi được phát
hiện là có bệnh cần chữa trị và có thể chữa trị bằng các biện pháp kỹ thuật, thủ
thuật có trong ngành y (Bộ Y Tế, 2013a).
Có thể hiểu, dịch vụ khám chữa bệnh là dịch vụ có những đặc thù riêng
đó, người chữa cho mình chứ không lựa chọn được phương pháp chữa bệnh cho
mình. Mặt khác do dịch vụ khám chữa bệnh là dịch vụ gắn liền với tính mạng
con người nên mặc dầu không có tiền nhưng vẫn cần phải khám chữa bệnh. Đặc
điểm này không giống các loại hàng hóa khác ( Nguyễn Văn Bách, 2012).
Dịch vụ KCB là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chất
nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế. Muốn
cung ứng dịch vụ KCB phải được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo
những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác trong thị trường
y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo (Bộ Y Tế, 2013a).
Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ.
Trên thực tế bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các chỉ định điều trị, do vậy
hầu như ngườu bệnh hoàn toàn phải phụ thuộc vào quyết định của thầy thuốc
trong việc lựa chọn dịch vụ y tế. Nếu vấn đề này không kiểm soát tốt sẽ dẫn tới
tình trạng lạm dụng dịch vụ từ phía cung cấp dịch vụ, đẩy cao chi phí y tế
(Nguyễn Văn Bách, 2012 ).
Dịch vụ KCB là hàng hóa công cộng vì nó mang tính không cạnh tranh.
Mọi người ai cũng biết đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh không phân biệt bất kỳ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
ai. Nó cũng mang tính không loại trừ vì mọi người đều được hưởng dịch vụ (Bộ
Y Tế, 2013a).
Mang tính ngoại lai. Khái niệm “ngoại lai” ở đây là lợi ích không chỉ giới
hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kê cả những người không trả
tiền cũng được hưởng dịch vụ này ( Nguyễn Văn Bách, 2012 ).
Do vậy để đảm bảo cung ứng đầy đủ cho nhu cầu cần có sự can thiệp của
nhà nước trong cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh mang tính cộng cộng.