giải pháp tăng cường quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGUYỄN ðÌNH DOANH GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ
ðỐI VỚI HỘ KINH DOANH TRÊN ðỊA BÀN HUYỆN
YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO

HÀ NỘI – 2013

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ii

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ cho một học vị nào.
Tôi xin cam ñoan rằng mọi sự góp ý cho việc thực hiện luận văn này
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ghi rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn ðình Doanh
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế iv

MỤC LỤC Lời cam ñoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
1 MỞ ðẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 ðối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU
THUẾ ðỐI VỚI HỘ KINH DOANH 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Lý luận về thuế 5
2.1.2 Hộ kinh doanh 14
2.1.3 Quản lý thuế và thu thuế ñối với hộ kinh doanh 24
2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thu thuế ñối với hộ kinh
doanh ở các ñịa phương 37
2.2.1 Chi cục thuế Quận Long Biên, Hà Nội 37
2.2.2 Chi cục thuế Thị xã Chí Linh, Hải Dương 38
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế v


5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
5.1 Kết luận 97
5.2 Kiến nghị 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế vii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

2.1 Biểu thuế môn bài áp dụng ñối với các ñối tượng 26
2.2 Biểu thuế luỹ tiến từng phần - Thuế TNCN 29
3.1 Tình hình ñất ñai của huyện Yên Mỹ năm 2010- 2012 44
3.2 Tình hình lao ñộng huyện Yên Mỹ năm 2010-2012 46
3.3 Số lượng hộ kinh doanh và số thuế phải nộp của các hộ kinh
doanh phân loại theo ñịa bàn 52
4.1 Số lượng hộ kinh doanh theo ngành nghề 54
4.2 Danh bạ quản lý hộ kinh doanh trên ñịa bàn huyện Yên Mỹ 55
4.3 Kết quả lập bộ Thuế Môn bài 2011; 2012 của hộ kinh doanh Chi
cục thuế Yên Mỹ 56
4.4 Dự toán thu thuế ñối với hộ kinh doanh trên ñịa bàn huyện Yên
Mỹ, 2010 - 2012 57
4.5 Dự toán thu thuế ñối với các hộ kinh doanh theo ñội thuế Năm
2012 58
4.6 Tỷ lệ hộ ñăng ký kinh doanh tại Chi cục thuế huyện Yên Mỹ
2010 – 2012 59
4.7 Cơ cấu hộ kinh doanh theo phương thức nộp thuế và ñịa bàn 60
4.8 Mức thuế ổn ñịnh của các hộ kinh doanh thương nghiệp 2012 61

dân, góp phần ñảm bảo công bằng xã hội và hội nhập quốc tế. Với tầm quan
trọng như vậy, ðảng và Nhà nước ta ñã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế
xã hội cho giai ñoạn 2011- 2015 và tầm nhìn cho ñến năm 2020 cho một số
lĩnh vực chủ yếu. Một trong nhiều chủ trương ñược Bộ Chính trị và Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt ñó là cải cách và hiện ñại hoá hệ thống thuế giai
ñoạn 2011-2020. Do vậy ñòi hỏi ngành thuế phải tập trung nghiên cứu và ñề
ra các biện pháp công tác cụ thể, phải tạo cho ñược sự chuyển biến mới, có
hiệu quả cao trên các lĩnh vực quản lý của ngành.
Trong ñiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện công nghiệp hoá
- hiện ñại hoá ñất nước hiện nay, chính sách thuế ở nước ta nói chung và
huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên nói riêng còn bộc lộ nhiều vấn ñề bất cập.
Thuế chưa trở thành công cụ vừa tăng thu Ngân sách vừa tăng khả năng ñiều
tiết và kích thích nền kinh tế. Các hành vi trốn thuế, lách thuế của các ñối
tượng sản xuất kinh doanh vẫn diễn ra, ñây một mặt phản ánh ý thức chấp
hành của các ñối tượng nộp thuế chưa cao, mặt khác cũng cho thấy các chính
sách thuế và phương pháp tính thuế của cơ quan thuế chưa bám sát thực tế.
Quan ñiểm về thuế còn phiến diện, chủ yếu nhằm tận thu cho Ngân sách mà
coi nhẹ chức năng thứ hai của thuế là kích thích sản xuất.
Huyện Yên Mỹ là một huyện nằm phía bắc của tỉnh Hưng Yên, với 17
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 2

xã, thị trấn và trên 900 hộ kinh doanh nằm tập trung chủ yếu ở 5 ngành nghề
kinh doanh, hàng năm ñã ñóng góp một khoản thu nhất ñịnh cho Ngân sách.
Thời gian qua công tác quản lý thu thuế nói chung và trong lĩnh vực hộ kinh
doanh nói riêng trên ñịa bàn huyện Yên Mỹ ñã có nhiều chuyển biến tích cực
góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các hộ kinh doanh. Tuy
nhiên, trong ñiều kiện thực tế ñịa bàn huyện Yên Mỹ thì khả năng thu thuế
trong lĩnh vực hộ kinh doanh có thể ñạt ở mức cao hơn rất nhiều cả về số hộ
và số thuế. Hiện tại công tác quản lý thu thuế từ hộ kinh doanh của Chi cục
thuế chưa sát thực tế vẫn còn thất thu lớn về hộ và về thuế, ñối với các hộ ñã

- Nguyên nhân thất thu thuế ñối với ñối tượng là hộ kinh doanh do ñâu?
- Mức ñộ thất thu thuế ñối với ñối tượng là hộ kinh doanh trên ñịa bàn
huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên trong những năm gần ñây?
- Công tác thanh, kiểm tra thuế ñối với ñối tượng là hộ kinh doanh trên
ñịa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên?
- Thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý thu thuế trên ñịa bàn
huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên?
- Cần làm gì ñể tăng cường công tác quản lý thu thuế ñối với hộ kinh
doanh trên ñịa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới.
1.4. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. ðối tượng nghiên cứu
- Công tác thu thuế và quản lý thu thuế ñối với hộ kinh doanh huyện
Yên Mỹ;
- Cơ quan thuế và cán bộ thuế trên ñịa bàn huyện Yên Mỹ.
- Các hộ kinh doanh trên ñịa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
Công tác thu thuế và quản lý thu thuế ñối với hộ kinh doanh trong thời
gian qua ở Yên Mỹ; các văn bản chính sách ñể thực hiện cho công tác thu
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 4

thuế ñối với hộ kinh doanh.
- Phạm vi không gian:
ðề tài nghiên cứu trên ñịa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi về thời gian:
+ Số liệu sử dụng phân tích, nghiên cứu ñược thu thập trong năm 2010-2012


Theo Từ ñiển thuật ngữ của Cục Thống Kê Úc (Australia Bureau of
Statistics (ABS), 1996), thuế là một khoản thu bắt buộc của Nhà nước, chủ
yếu là tăng thu nhập. Thông thường không có sự liên kết rõ ràng và trực tiếp
giữa người nộp thuế và việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ của Nhà nước
Từ những khái niệm về thuế trên có thể hiểu thuế theo hai nghĩa, nghĩa
rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng, thuế có thể ñược hiểu là nguồn lực chuyển
giao từ khu vực tư sang khu vực công. Nghĩa hẹp, thuế là một khoản thu bắt
buộc bằng tiền của Chính phủ, không có sự hoàn trả thông qua hàng hóa, dịch
vụ công cộng và ñược thực thi bằng pháp luật.
2.1.1.2 ðặc ñiểm của thuế
a) Thuế là một khoản tiền tệ bắt buộc
Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế ñể phân biệt với các
hình thức ñộng viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước. Nhà kinh tế học
Joseph E.Stiglitz cho rằng: “Thuế khác với ña số những khoản chuyển giao
tiền từ người này sang người kia. Trong khi tất cả những khoản chuyển giao
ñó là tự nguyện thì thuế là bắt buộc”
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 6

ðặc ñiểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền
tệ, ñược hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội ñặc biệt –
việc ñộng viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính
chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của Nhà
nước, theo ñó một bộ phận thu nhập của người nộp thuế ñược chuyển giao
cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào
khác cho người nộp thuế.
Thuế có ñặc ñiểm trên vì hai lý do sau ñây. Thứ nhất, hình thức chuyển
giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể nào của người
nộp thuế, do ñó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển
giao. ðể ñảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, Nhà nước tất yếu phải sử dụng
quyền lực chính trị ñể bắt buộc mọi ñối tượng có thu nhập phải chuyển giao

không có quyền ñòi hỏi ñược thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với
số thuế mà họ phải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ ñã
phải thanh toán cho các khoản chi trả với nguyên tắc này.
2.1.1.3. Phân loại thuế
2.1.1.3.1. Theo cấp chính quyền (phạm vi, thẩm quyền về thuế)
Tùy theo phạm vi và thẩm quyền trong việc ban hành chính sách, chế
ñộ thuế, hệ thống thuế có thể ñược chia thành thuế Trung ương và thuế ñịa
phương. Thuế Trung ương là các hình thức thuế do các cơ quan ñại diện chính
quyền Nhà nước ở Trung ương ban hành, còn thuế ñịa phương là do chính
quyền ñịa phương ban hành. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại thuế Trung
ương ñều nộp hết vào ngân sách Trung ương mà một phần của thuế Trung
ương có thể ñược trích vào ngân sách ñịa phương.
2.1.1.3.2. Theo ñối tượng chịu thuế
Căn cứ vào ñối tượng chịu thuế có thể chia các sắc thuế thành 3 loại:
Thuế tiêu dùng là các loại thuế có ñối tượng chịu thuế là phần thu nhập
ñược mang tiêu dùng trong hiện tại. Trong thực tế loại thuế tiêu dùng ñược
thể hiện dưới nhiều dạng như thuế tiêu thụ ñặc biệt, thuế GTGT…
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 8

Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có ñối tượng chịu thuế là thu nhập
nhận ñược. Thu nhập này ñược hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: thu nhập
từ lao ñộng dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt ñộng sản xuất kinh
doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức, cổ phần… Do vậy, thuế thu nhập cũng có
nhiều hình thức khác nhau: thuế thu nhập cá nhân, thuế TNDN…
Thuế tài sản là các loại thuế có ñối tượng chịu thuế là giá trị tài sản. Tài
sản có nhiều hình thức biểu hiện: tài sản tài chính gồm có tiền mặt, tiền gửi,
chứng khoán, thương phiếu…; tài sản cố ñịnh gồm nhà cửa, ñất ñai, máy móc,
nhà máy, xe cộ…; tài sản vô hình như nhãn hiệu, kỹ thuật và thiện chí. Nói
chung thuế tài sản thường ñánh trên giá trị của tài sản cố ñịnh gọi là thuế bất
ñộng sản, ñánh trên tài sản tài chính gọi là thuế ñộng sản.

trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào bản chất của thị trường, mà trong ñó có
sự tác ñộng của thuế, tức là thị trường ñó là cạnh tranh hay ñộc quyền.
- Thuế gián thu mang tính chất thuế lũy thoái vì mức thuế không phụ
thuộc vào thu nhập mà có khả năng nhận ñược của người nộp thuế. Thuộc
vào loại thuế này có các sắc thuế mà cơ sở ñánh thuế là các khoản thu nhập
dùng ñể tiêu dùng. Ở nước ta, thuế gián thu bao gồm: thuế GTGT, thuế
TTðB, thuế XNK.
2.1.1.3.4. Theo thuế suất
Căn cứ vào thuế suất, thuế có thể ñược chia thành các loại như sau:
- Thuế tính trên ñầu người, mức nộp thuế là cố ñịnh và không có mối
liên hệ nào với cơ sở thuế, ngoại trừ sự tồn tại của người nộp thuế là cá nhân
chịu thuế. Trong lịch sử Việt Nam, loại thuế này có tên gọi khác là thuế thân.
- Thuế tính theo mức thuế tỷ lệ là mức thuế nộp ñược quy ñịnh theo
một tỷ lệ nhất ñịnh như nhau trên cơ sở tính thuế. Dù cho cơ sở tính thuế cao
thấp khác nhau thì người nộp thuế cũng chỉ phải nộp theo một mức thuế suất
không ñổi. Các loại thuế chủ yếu hiện nay thường áp dụng theo mức thuế suất
này: thuế suất thuế TNDN là 25%, thuế GTGT của các mặt hàng phổ biến ở
mức 10%
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 10

- Thuế tính theo thuế suất lũy tiến là mức thuế phải nộp tăng dần theo
mức ñộ tăng của cơ sở tính thuế, có nghĩa là thuế suất trung bình tăng khi thu
nhập của mỗi người tăng. ðể ñảm bảo mức nộp thuế lũy tiến, người ta thiết kế
nhiều mức thuế suất ứng với mỗi bậc thuế của cơ sở tính thuế ñó hình thành
biểu thuế suất gọi là biểu thuế suất lũy tiến. Có 3 loại biểu thuế suất lũy tiến:
Biểu thuế lũy tiến giản ñơn (chia cơ sở tính thuế thành các bậc khác nhau, ứng
với mỗi bậc chịu thuế có quy ñịnh mức thuế phải nộp bằng số tuyệt ñối); Biểu
thuế lũy tiến từng phần (chia cơ sở tính thuế thành các bậc khác nhau, ứng với
mỗi bậc quy ñịnh mức thuế suất tăng dần. Số thuế phải nộp là tổng số thuế
tính theo từng bậc với số thuế tương ứng); Biểu thuế lũy tiến toàn phần (chia

ngân sách Nhà nước.
Cũng như pháp luật nói chung, pháp luật thuế có chức năng ñiều chỉnh
các quan hệ xã hội. Mục ñích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự ñiều chỉnh
quan hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước.
Hầu hết ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy ñịnh ñể
thu ngân sách Nhà nước.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu
nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường, xuất
phát từ phạm vi hoạt ñộng mà ñòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức
thực hiện pháp luật thuế ñể tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước
từ ñó mới ñáp ứng ñược nhu cầu chi ngày càng tăng.
Thuế là công cụ quan trọng nhất ñể phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân theo ñường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Hiện nay nguồn thu từ nước ngoài ñã giảm nhiều, kinh tế ñối ngoại chuyển
thành có vay có trả. Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng ñể góp phần
ổn ñịnh trật tự xã hội, chuẩn bị ñiều kiện và tiền ñề cho việc phát triển lâu dài.
Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới ñược
áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế ñã ñiều chỉnh ñược hầu
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 12

hết các hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng xã
hội. Ðây là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước.
* Thuế là công cụ ñiều tiết vĩ mô của Nhà nước ñối với nền kinh tế và
ñời sống xã hội.
Ngoài việc huy ñộng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật
thuế còn có vai trò quan trọng trong việc ñiều tiết vĩ mô ñối với nền kinh tế.
Ðiều 26 Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế
quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. Là một bộ phận của hệ thống
pháp luật Việt Nam, pháp luật thuế ñóng vai trò là công cụ ñiều tiết vĩ mô của
Nhà nước. Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước

trường tất yếu dẫn ñến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh
nghiệp. Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến
khích, ngoài các quy ñịnh chung, pháp luật thuế còn có các quy ñịnh ưu ñãi,
miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn ñịnh và
phát triển của các doanh nghiệp.
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước
ñể ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.Thông qua pháp luật thuế, Nhà
nước có tác ñộng tích cực trong việc thúc ñẩy sản xuất phát triển trên cơ sở
tận dụng, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực của ñất nước trong
việc ñiều chỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế.
* Pháp luật thuế là công cụ góp phần ñảm bảo sự bình ñẳng giữa các
thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Hệ thống pháp luật thuế mới ñược áp dụng thống nhất chung cho các
ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm ñảm bảo sự
bình ñẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ ñối với mọi thể nhân
và pháp nhân.
Sự bình ñẳng và công bằng ñược thể hiện thông qua chính sách ñộng
viên giống nhau giữa các ñơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 14

những ñiều kiện hoạt ñộng giống nhau, ñảm bảo sự bình ñẳng và công bằng.
Vai trò ñiều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác ñộng của
pháp luật thuế ñối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội.
Sự vận ñộng của nền kinh tế theo cơ chế thị trường ñòi hỏi Nhà nước
phải sử dụng ñồng bộ nhiều công cụ khác nhau ñể khắc phục sự mất cân ñối
về mặt xã hội trong ñó có mất cân ñối về thu nhập. Nhà nước sử dụng pháp
luật thuế làm công cụ ñể ñiều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự ñiều tiết
này thể hiện ở chỗ thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà nước thực
hiện việc ñiều tiết thu nhập của các ñối tượng nộp thuế và các thành viên
trong xã hội. Sự thay ñổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ

trình bày kĩ nhất trong Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 qui ñịnh
“hộ gia ñình” là chủ thể của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng. Căn cứ vào
ñó, có hai vấn ñề cần phải chú ý
Thứ nhất, “hộ gia ñình” không phải là cá nhân và cũng không
phải là pháp nhân, mà là một chủ thể ñặc biệt của pháp luật Việt Nam.
Do ñó hộ kinh doanh cá thể hay hộ kinh doanh không hoàn toàn là thương
nhân thể nhân. Nhưng trước ñây, hộ cá thể và hộ tiểu công nghiệp (hình
thức ñầu tiên của hộ kinh doanh cá thể hay hộ kinh doanh), theo Nghị
ñịnh số 27- HðBT ngày 9/3/1988, là thương nhân thể nhân.
Thứ hai, tập hợp các cá nhân hay các thành viên của “hộ gia ñình”
không dễ xác ñịnh. Dấu hiệu của một “gia ñình” ñược thể hiện qua quan hệ
hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng. Song “hộ gia ñình”
không bao gồm tất cả các thành viên có các mối quan hệ ñó với nhau. ðược
xem là thành viên của hộ gia ñình cần phải có hai ñiều kiện: (1) ðiều kiện
quan hệ (ñiều kiện cần), thể hiện qua việc hoặc có quan hệ hôn nhân, hoặc có
quan hệ huyết thống, hoặc có quan hệ nuôi dưỡng; và (2) ñiều kiện chung
sống (ñiều kiện ñủ), có nghĩa là cùng trú ngụ ở một nơi hoặc cùng kiếm sống
dựa vào cùng một sản nghiệp.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 16

Nghị ñịnh số 88/2006 Nð- CP cho phép “một nhóm người”, không
phải là hộ gia ñình, ñược kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh. Pháp luật
Việt Nam hiện nay phân biệt hộ kinh doanh với doanh nghiệp thông qua việc
sử dụng lao ñộng. Hộ kinh doanh là một tổ chức kinh doanh sử dụng thường
xuyên từ mười lao ñộng trở xuống. Nếu sử dụng hơn mười lao ñộng thì hộ
kinh doanh phải ñăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp
(ðiều 36, khoản 3, Nghị ñịnh của Chính phủ số 88/2006/Nð-CP ngày
29/8/2006). Như vậy có thể hiểu, pháp luật Việt Nam hiện nay quan
niệm hộ kinh doanh và các hình thức công ty không khác gì nhau về hình
thức kết cấu mà chỉ khác nhau về qui mô kinh doanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status