HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
--------------
HỒ XUÂN VÕ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT SẢN XUẤT HẠT LAI F1 VÀ
THƯƠNG PHẨM GIỐNG LÚA BẮC ƯU 253 TẠI HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
--------------
HỒ XUÂN VÕ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT SẢN XUẤT HẠT LAI F1
VÀ THƯƠNG PHẨM GIỐNG LÚA BẮC ƯU 253
TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH
: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ
: 60.62.01.10
thành đề tài luận văn này
Một lần nữa xin cảm ơn tất cả.
Hà nội, ngày 12 tháng 12 năm 2015
Tác giả
Hồ Xuân Võ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục viết tắt
vi
2
1.4.1
Ý nghĩa khoa học của đề tài
2
1.4.2
Ý nghĩa thực tiễn
2
Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1
Tình hình sản xuất lúa lai trên thế giới và Việt Nam
3
1.1.1
Tình hình sản xuất lúa lai của một số nước trên thế giới
3
1.2.4
Nghiên cứu về mối tương quan giữa phân bón và mật độ cấy
19
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
2.1
Vật liệu
22
2.2
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
22
2.2.1
Địa điểm
22
2.2.2
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và mật độ đến
năng suất con lai Bắc ưu 253 tại huyện Chí Linh và huyện Tứ Kỳ
tỉnh Hải Dương.
24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1
30
Ảnh hưởng của nồng độ và thời điểm phun GA3 tới dòng bố (R253)
và dòng mẹ (BoA) tổ hợp Bắc ưu 253 tại Chí Linh vụ Xuân 2015.
3.1.1
30
Ảnh hưởng của thời điểm phun và liều lượng GA3 tới chiều cao
cây dòng R253 và dòng BoA tại Chí Linh vụ Xuân 2015.
3.1.2
30
Ảnh hưởng của thời điểm phun và liều lượng phun GA3 tới chiều dài
các lóng của dòng R253 và dòng BoA tại Chí Linh vụ Xuân 2015.
3.1.3
37
Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến thời gian sinh
trưởng của giống Bắc ưu 253 tại Chí Linh và Tứ Kỳ vụ Mùa 2014.
3.2.2
37
Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến động thái tăng
trưởng chiều cao cây giống lúa Bắc ưu 253 tại Chí Linh và Tứ Kỳ
vụ Mùa 2014.
3.2.3
39
Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh
của giống lúa Bắc ưu 253 tại Chí Linh và Tứ Kỳ vụ Mùa 2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
42
Page iv
3.2.4
58
Kết luận.
58
Đề nghị
58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
59
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
: Nghĩa của từ
CCC
: Chiều cao cây cuối cùng
CMS
: Khối lượng 1000 hạt
LAI
: Chỉ số diện tích lá
LSD0,05
: Giới hạn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05
NHH
: Nhánh hữu hiệu
NSLT
: Năng suất lý thuyết
NSSVH
: Năng suất sinh vật học
NSTT
: Năng suất thực thu
PHĐ
: Phân hóa đòng
5
kỳ 2001-2012.
8
1.4
Diện tích sản xuất lúa lai thương phẩm qua các năm
10
3.1
Ảnh hưởng của GA3 đến chiều cao cây dòng R253 và dòng BoA tại
Chí Linh vụ Xuân 2015.
3.2
30
Ảnh hưởng của thời điểm phun và liều lượng GA3 tới chiều dài 3
lóng dưới cổ bông dòng R253 và dòng BoA tại Chí Linh vụ Xuân
2015.
3.3
32
Ảnh hưởng của thời điểm phun và lượng GA3 tới chiều dài cổ bông
39
Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến động thái tăng trưởng
chiều cao của giống lúa Bắc ưu 253 tại Chí Linh vụ Mùa 2014.
3.7b
40
Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến động thái tăng
trưởng chiều cao của giống lúa Bắc ưu 253 tại Tứ Kỳ vụ Mùa
2014
3.8a
41
Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến động thái đẻ
nhánh của giống lúa Bắc ưu 253 tại Chí Linh vụ Mùa 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
43
Page vii
4.8b
Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến động thái đẻ
3.11b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống Bắc ưu 253 tại Tứ Kỳ vụ mùa 2014
51
3.12a Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của giống Bắc ưu 253 tại Chí Linh vụ Mùa 2014
52
3.12b Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của giống Bắc ưu 253 tại Tứ Kỳ vụ Mùa 2014
53
3.13a Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến năng suất và các
yếu tố cấu thành săng suất của giống lúa Bắc ưu 253 tại Chí Linh
vụ mùa 2014.
54
3.13b Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến năng suất và các
yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Bắc ưu 253 tại Tứ Kỳ
54
3.14a Hiệu quả kinh tế từ các công thức thí nghiệm mang lại khi áp dụng
sản xuất hạt thương phẩm Bắc ưu 253 tại Chí Linh vụ Mùa 2014.
14b
một số tỉnh phía Bắc với diện tích nhỏ. Đến năm 2012 diện tích lúa lai thương phẩm
đạt 613 nghìn ha (Cục Trồng trọt, 2012).
Hiện nay tỉnh Hải Dương diện tích đất trồng lúa là 63.000 ha, hệ thống giống
lúa và cơ cấu mùa vụ tương đối hợp lý cho sản xuất do vậy trong 10 năm gần đây
năng suất lúa có tính ổn định cao. Bên cạnh những thành tựu đó sản xuất lúa tỉnh
nhà còn những tồn tại: Hiệu quả sản xuất lúa thấp không kích thích được người sản
xuất do vậy người nông dân bỏ ruộng nhiều, các giống lúa lai năng suất đa phần
không tự sản xuất được phải nhập từ Trung Quốc giá thành cao. Giống lúa lai 3
dòng Bắc ưu 253 do công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên giống cây trồng
Hải Dương sản xuất đã được Sở Khoa học và công nghệ tỉnh đưa vào đề tài sản xuất
trình diễn từ năm 2010 đến 2013 và được người dân chấp nhận. Tuy nhiên, do năng
suất sản xuất hạt lai thấp cùng với chưa có quy trình thâm canh thích hợp nên hiệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
quả sản xuất giống chưa cao. Để nâng cao hiệu quả sản xuất cho người dân cũng
như phát triển giống Bắc ưu 253 trong cơ cấu sản xuất lúa của tỉnh chúng tôi thực
hiện đề tài : “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng
suất sản xuất hạt lai F1 và thương phẩm giống lúa Bắc ưu 253 tại tỉnh Hải
Dương”.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
- Xác định liều lượng đạm và mật độ cấy phù hợp cho sản xuất thương
phẩm giống lúa Bắc ưu 253 tại Hải Dương.
- Xác định liều lượng GA3 và thời điểm phun phù hợp cho sản xuất hạt lai
F1 giống lúa Bắc ưu 253 tại Hải Dương.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển dòng R253 và dòng BoA ở các
liều lượng và thời điểm phun GA3 trong vụ Xuân 2015.
Việt Nam cũng là nước đã và đang phát triển tiến bộ kỹ thuật này trong sản xuất
lương thực. Dưới đây là một số kết quả về tình hình sản xuất lúa lai của một số
nước trên thế giới.
Trung Quốc
Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và sử dụng lúa lai
trong sản xuất đại trà từ những năm 1976. Năng suất trung bình của cây lúa
Trung Quốc từ 3,49 tấn/ha/vụ (1976) đã tăng lên 6,71 tấn/ha/vụ (2013) trong khi
năng suất lúa trung bình của thế giới chỉ đạt 4,49 tấn/ha/vụ (FAOSTAT, 2014).
Trong giai đoạn 1976-1999 diện tích lúa lai Trung Quốc cộng lũy tiến được
233 triệu ha và sản lượng gia tăng thêm 350 triệu tấn lúa., trung bình mỗi ha tăng
1,5 tấn (20%). Năng suất lúa lai của Trung Quốc trong giai đoạn 2007-2010 là
7.200 kg/ha/vụ. Ngoài lượng hạt giống lúa lai cung cấp cho nhu cầu trong nước.
Hàng năm Trung Quốc xuất khẩu trên dưới 30.000 tấn hạt giống lúa lai cho trên
40 nước trên thế giới.
Trung Quốc là nước phát triển lúa lai lớn nhất thế giới. Năm 2010 trồng
20 triệu ha, chiếm 70% tổng diện tích trồng lúa ở Trung Quốc.Vào ngày
19/9/2011 Tân Hoa xã đã thông báo giống siêu lúa lai thế hệ III DH2525 (Y2
cao cấp số 2) trồng thực nghiệm tại Longhui ở tỉnh Hồ Nam Trung Quốc đã
đạt năng suất 13.830 kg/ha. Năm 2011 Trung Quốc có 29 triệu ha trồng lúa,
năng suất trung bình toàn quốc đạt 6,3 tấn/ha/vụ. Trong đó 70% diện tích được
trồng lúa lai, năng suất bình quân 7,2 tấn/ha/vụ. Năng suất lúa lai tăng trung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
bình 20% so với giống thường. Riêng chỉ phần tăng năng suất do lúa lai hiện
nay nuôi sống khoảng 70 triệu người ăn hàng năm.
Ấn Độ
Theo Siddiq (1996) ở Ấn Độ nỗ lực để phát triển và sử dụng công nghệ
PBH 71 từ Công ty nước ngoài Pioneer được khuyến cáo phát triển. Bên cạnh đó,
6-8 giống lúa lai khác được bán trên thị trường bởi các công ty kinh doanh hạt
giống tư nhân. Đến năm 2008, diện tích trồng lúa lai ở Ấn Độ đã tăng lên
1.400.000ha, năm 2010 là 2.500.000ha. Dự kiến năm 2015 diện tích trồng lúa lai
của cả nước lên đến 4.000.000ha (Hari Prasad, 2012).
Bảng 1.1. Các giống lúa lai phát triển thành công ở Ấn Độ
Năng suất thử
Giống
Dòng bố/mẹ
lai F1
Thời
nghiệm
Lợi thế so
gian (ng
(tấn/ha)
với đối
ày)
Lúa
44,2
Mgr-1
IR62829A / IR10198-66-2 R
110-115
6,08
5,23
16,2
KRH-1
IR58025A / IR9761
120-125
6,02
4,58
31,4
125-130
7,49
trung bình 5,44 tấn/ha, năm 2008 là 6,06 tấn/ha. Đến năm 2010, năng suất lúa lai
cũng chỉ đạt 6,68 tấn/ha (Manuel Jose Regalado, 2012).
Malaysia
Năm 1984 bắt đầu nghiên cứu lúa lai và đã thu được năng suất cao hơn giống
truyền thống như IR5852025A/IR54791-19-2-3R đạt năng suất 48,6 tạ/ha so với
giống lúa MR84 là cao hơn 58,6%; IR62829A/IR46R có năng suất cao hơn MR84
26,1%, đã chọn tạo được một số dòng CMS địa phương như MH805A, MH1813A,
MH1821A. Đến năm 1999, Malaysia đã xác định được 131 dòng phục hồi để sản
xuất hạt lai (Đỗ Bích Phượng, 2014).
*Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI tham gia phát triển lúa lai
IRRI nghiên cứu việc sử dụng lúa lai để tăng sản lượng từ năm 1979. Đến năm
1989, hai dòng thương mại CMS là IR58025A và IR62829A với kiểu bất dục đực
WA, được tạo ra tại IRRI và chia sẻ với các chương trình quốc gia trên toàn thế giới.
IR58025A bất dục ổn định ở các nước nhiệt đới, trong khi IR62829A có khả năng kết
hợp tốt nhưng tính bất dục của nó là không đủ ổn định để sản xuất hạt giống lai ở nhiệt
độ cao hơn.Trong những năm gần đây, IRRI đưa ra mỗi năm từ 10-20 dòng CMS mới
để cung cấp dòng đầu nguồn cho các nước trồng lúa lai (Trần Thị Huyền, 2014).
1.1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa lai ở Việt Nam
1.1.2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở nước ta.
Từ năm 1990 đến nay, sản lượng lúa gạo Việt Nam liên tục tăng nhờ biện pháp
kỹ thuật canh tác tốt, tăng năng suất và một phần nhờ mở rộng diện tích canh tác hàng
năm. Sản lượng lúa ở nước ta chỉ dừng lại ở 19,23 triệu tấn (năm 1990) nhưng đến
năm 2000 đã đạt được 32,51 triệu tấn. Sơ bộ năm 2013 sản lượng lúa cả nước đạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
44,07 triệu tấn. Trong đó vùng đồng bằng sông hồng đạt 6,69 triệu tấn, vùng trung du
Page 7
lai F1 có thể đạt hơn 2,5 tấn/ha. Tại Quảng Nam và một số tỉnh Tây nguyên có
thể sản xuất hạt F1 hai dòng ở vụ xuân muộn cho lúa trỗ từ 15-25/4, có thể đạt
năng suất cao > 35 tạ/ha. Tuy nhiên do biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến bất
thường nên việc xác định thời vụ sản xuất hạt lai F1 còn gặp nhiều khó khăn.
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng hạt lai F1 sản xuất
tại Việt Nam thời kỳ 2001-2012.
Diện
Năng
Sản
Lượng hạt
Tỷ lệ hạt F1
tích
suất
lượng
F1 nhập
SX trong nước
12682
30,28
2003
1.700
21
3.485
12113
28,77
2004
1.500
22
3.225
14392
22,41
2005
12700
25,8
2008
1.200
22
2.640
14600
21,5
2009
1.525
25
3.812
13300
20,7
2010
12900
26,3
Năm
Nguồn: Cục Trồng trọt, 2012
Về kỹ thuật sản xuất hạt F1 nhiều vùng sản xuất có kỹ thuật thành thạo do:
+ Quy trình nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt F1 được bổ sung hoàn thiện nên
năng suất hạt lai tăng, giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh với giống nhập nội.
+ Xu hướng xã hội hóa trong nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất hạt lai bắt đầu
xuất hiện, cụ thể là trong 3- 4 năm gần đây, bên cạnh các đơn vị sự nghiệp khoa
học kỹ thuật của Trung ương và của tỉnh, các Doanh nghiệp giống thuộc các thành
phần kinh tế ngày càng quan tâm đến nghiên cứu chọn tạo và phát triển sản xuất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
hạt giống lúa lai, xu hướng tiến bộ này cần được khuyến khích vì có thể huy động
được nhiều nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển lúa lai tại Việt Nam, đồng thời
tạo điều kiện đa dạng hóa cơ cấu giống lúa lai cho các vùng sinh thái khác nhau tạo
động lực cạnh tranh, hạn chế tình trạng độc quyền trong thị trường hạt giống.
Việc mở rộng diện tích sản xuất hạt lai F1 trên quy mô lớn tại các tỉnh
Quảng Nam, Đắc Lắk đã mở ra triển vọng về sản xuất hạt giống tại các tỉnh
miền Trung, Tây Nguyên, nơi có điều kiện khí hậu phù hợp cho việc sản xuất
hạt lai F1.
- Khả năng cạnh tranh:
Nhu cầu lượng hạt giống F1 cho sản xuất mỗi năm cần khoảng 15-18 nghìn
tấn/năm, tự sản xuất hạt lai trong nước mới đạt 4.000-5.000 tấn, đáp ứng được
Mau 10% (Cục Trồng trọt, 2012).
Bảng 1.4. Diện tích sản xuất lúa lai thương phẩm qua các năm
(từ 2001 – 2012)
Cả năm
Năm
Vụ Xuân
Vụ Mùa
Diện tích
NS
Diện tích
NS
Diện tích
(ha)
(tạ/ha)
(ha)
(tạ/ha)
(ha)
600.000
59,1
350.000
64,5
250.000
51,5
2004
577.000
60,6
350.000
64,5
227.000
54,6
2005
553.000
390.000
63,9
230.000
56,0
2008
560.000
61,7
305.000
66,0
255.000
56,6
2009
709.816
62,1
404.160
276.200
56,0
2012
613.117
64,6
387.967
69,0
225.150
58,7
TBNS
61,9
66,5
NS (tạ/ha)
54,9
Nguồn: Cục Trồng trọt, 2012
* Về cơ cấu giống lúa lai:
thuận lợi hơn
- Tăng thời gian mở hoa và góc mở của hoa
- Tăng góc lá đòng giảm phần nào sự cản phấn của bản lá, lợi cho cây thụ
phấn chéo.
- Điều chỉnh chiều cao cây của dòng bố mẹ
- Làm cho các dảnh phụ phát triển nhanh hơn và trở thành bông hữu hiệu.
- Tác dụng tổng hợp của GA3 đã làm tăng tỷ lệ giao phấn và kết quả là
năng suất hạt lai F1 tăng lên Yuan and Fu, (1995); Kumar (1996)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
* Liều lượng và cách phun GA3:
Lượng GA3 dùng trong sản xuất hạt lai tổ hợp lúa lai hai dòng TH3-3 như
sau: Khi dòng mẹ trỗ 20-30%, bố trỗ 5-10% dùng lượng GA3 từ 60-100 g/ha cho
dòng mẹ phun 1- 2 lần tùy theo mức độ trùng khớp của mẹ. Lần 1 pha 60g trong
600 lít nước phun cho 1ha, lần 2 pha 20 -30g trong 200 lít nước phun riêng cho
1ha hàng bố (Nguyễn Thị Trâm và cs, 2005).
Tác giả Hoàng Bồi Kính (1993) cho rằng, muốn đạt năng suất hạt F1 hệ 3
dòng siêu cao, lượng GA3 cần dùng là 270 g/ha, được chia làm 2 lần phun:
- Lần1: 90-120g với nồng độ 240-320 ppm, phun khi lúa trỗ 15-20%.
- Lần 2: 150-180g với nồng độ 400-480 ppm phun khi lúa trỗ 60-70%.
Tại Ấn độ lượng GA3 được dùng tương đối thấp là 45-60g/ha (Kumar,,
1996).
Ở Việt Nam, lượng GA3 được sử dụng trong sản xuất giống lúa lai F1 từ
120 – 200 gram/ha và được chia làm 3 lần:
Lần 1: Phun 40 g + 300 -400 lít nước/ha
Lần 2: Phun 60 - 70 g + 600 – 800 lít nước/ha
Lần 3: Phun 80 - 90 g + 600 – 800 lít nước/ha
Ở những ruộng lúa năng suất cao, chất lượng dinh dưỡng cây trồng lấy đi
nhiều, vì vậy cần phải bổ sung các nguyên tố đa lượng và vi lượng. Lúa yêu cầu một
lượng dinh dưỡng khá cao, để đạt 1 tấn thóc cần từ 15 – 24kg N; 2 – 11 kg P2O5 16 –
50 kg K2O (Yoshida, 1981).
Sự ra đời của các giống lúa mới, giống lúa cao sản, đặc biệt là các giống
lúa lao có tiềm năng năng suất cao đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng rất cao, gấp 3 lần
các giống lúa cũ (De Datta, 1986). Những giống lúa có năng suất đạt 5 tấn/ha và
lượng rơm rạ tương đương lấy đi 110 kgN, 45 kg P2O5, 130 kg K2O, 14kg Ca, 12
kg Mg, 5 kg S, 1 kg Fe, 2 kg Mn, 0,2 kg Zn, 0,15 kg Cu, 0,15 kg Bo, 250 kg Si
và 25 kg Cl từ đất.
Kobayashi (1995), khi nghiên cứu khả năng cạnh tranh của 2 giống lúa
Hokuriki 52 và Yamakogame về phả ứng với điều kiện phân bón khác nhau cho thấy,
cấy lúa có tính thích ứng cao trong điều kiện tự nhiên ít phân và tăng số lượng cây con
ở mỗi đối tượng, trong khi đó các giống cạnh tranh yếu bị thất bại nghiêm trọng trong
điều kiện trồng trọt bình thường, điều đó có ý nghĩa là giống (Hokuriki 52) sẽ gây ảnh
hưởng nhiều cho giống cạnh tranh yếu (Yamakogame) khi có đủ phân bón.
Nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Hồ Nam Trung Quốc
chỉ rõ, nếu áp dụng bón phân theo kiểu truyền thống là nặng đầu nhẹ cuối thì khó đạt
được năng suất tối đa. Kết luận này rút ra từ kết quả nghiên cứu của (Zheng
Shengxian et al., 1992).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
1.2.2.2. Các nghiên cứu về đạm cho lúa trên thế giới
Theo Yoshida (1981), các giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau thì
yêu cầu phân bón cũng khác nhau. Trong các yếu tố thì đạm là yếu tố quan trọng nhât
cho lúa. Đạm có phản ứng rõ so với lân và kali. Hơn 2/3 lượng đạm của Việt Nam là
bón cho lúa.
cao, ngay cả trong điều kiện yếm khí hay hảo khí ở ruộng nước thì bón đạm cũng
nhanh chóng chuyển thành NO3-. Đây cũng là con đường mất đạm do quá trình nitrat,
phản nitrat hoặc cả 2.
1.2.2.3. Các nghiên cứu về đạm cho lúa ở Việt Nam
Theo Nguyễn Như Hà (2006), đạm có vai trò quan trọng trong phát triển
bộ rễ, thân, lá, chiều cao và đẻ nhánh của cấy lúa. Tuy nhiên theo Sarker (2002),
lượng đạm càng cao thì lúa đẻ nhánh càng nhiều và lụi đi càng nhiều. Việc cung
cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa vừa đẻ nhánh nhanh lại tập trung, tạo được
nhiều dảnh hữu hiệu, là yếu tố cấu thành năng suất quan trọng nhất đối với lúa.
Đạm có vai trò quan trọng trong việc hình thành đòng và các yếu tố cấu
thành năng suất khác: Số hạt/bông, trọng lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt trắc. Đạm
còn làm tăng hàm lượng protein trong gạo nên làm tăng chất lượng gạo. Lượng
đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc từ 17 đến 25 kg N. Trung bình 22,2 kg N. Ở
các mức năng suất cao, lượng đạm tạo ra 1 tấn thóc ngày càng cao (Phạm Văn
Cường và cs., 2005)
Theo Phạm Văn Cường (2005), trong giai đoạn đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ,
hàm lượng đạm trong thân lá cao, sau đó giảm dần, nhưng cần tập trung đạm vào
giai đoạn này.
Bón lượng đạm cao (120 kgN/ha, 90 kgN/ha) cho số nhánh hữu hiệu, sự
tích luỹ chất khô và các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu cao hơn
so với lượng đạm 60 kgN/ha (Phạm Văn Cường, 2005).
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Cường và Trần Thị Vân Anh (2006)
chỉ ra rằng khi tăng lượng đạm bón thì năng suất hạt của các giống lúa thuộc cả
nhóm lúa lai, lúa cả tiến và lúa địa phương đều tăng, đặc biệt tăng mạnh ở các
giống lúa lai do tăng chủ yếu số bông/khóm, số hạt/ bông và tỷ lệ hạt chắc.
Phân đạm đối với lúa lai là rất quan trọng. Lúa lai có bộ rễ khá phát triển,
khả năng huy độ từ đất là rất lớn nên ngay trường hợp không bón năng suất lúa
lai vẫn cao hơn lúa thuần. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã kết luận: Cùng
một mức năng suất, lúa lai hấp thu đạm cao hơn lúa thuần 4,8%. Với ruộng lúa
cao sản thì lúa lai hấp thu đạm cao hơn lúa thuần 10% (Phạm Văn Cường, 2005).