HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
DƯƠNG THỊ LAN ANH
QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------
----------
DƯƠNG THỊ LAN ANH
QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ
: 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TẤT THẮNG
HÀ NỘI - 2016
tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức tại Chi Cục
Thuế thành phố Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn
thành luận văn./.
Bắc Giang, ngày 20 tháng 01 năm 2016
Tác giả
Dương Thị Lan Anh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan...................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ........................................................................................................ iii
Mục lục .............................................................................................................. iv
Danh mục các từ viết tắt ....................................................................................vii
Danh mục bảng ............................................................................................... viii
Danh mục sơ đồ.................................................................................................. ix
PHẦN I MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu .......................................................... 1
2.2.1 Công tác quản lý thuế SDĐPNN ............................................................. 23
2.2.2 Kinh nghiệm trong quản lý thuế SDĐPNN của một số nước trên thế giới .......... 28
2.2.3 Kinh nghiệm quản lý thuế SDĐPNN của một số địa phương trong nước....... 30
2.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Chi Cục thuế thành phố Bắc Giang ................. 33
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................... 34
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .................................................................. 34
3.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang ................................................. 34
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế- xã hội .................................................................... 35
3.2
Giới thiệu về chi cục thuế thành phố Bắc Giang ...................................... 41
3.3
Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 48
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin .............................................................. 48
3.3.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: .................................................. 50
3.3.3. Phương pháp phân tích thông tin ............................................................. 50
3.4
Page v
4.2.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế SDĐPNN
trên địa bàn huyện thành phố Bắc Giang ................................................. 91
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 107
5.1.
Kết luận ................................................................................................ 107
5.2
Kiến nghị .............................................................................................. 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 112
PHỤ LỤC........................................................................................................ 114
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
ĐTNT
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TNCN
Thu nhập cá nhân
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
TT
Thông tư
UBND
Ủy ban nhân dân
XLDL
Xử lý dữ liệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
3.4
Kết quả hoạt động thu NSNN trong 3 năm
47
3.5
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
49
3.6
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
49
4.1
Tổng kết công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế tại Chi cục
thuế thành phố Bắc Giang
4.2
57
Tổng kết những nội dung người nộp thuế hỏi Chi Cục thuế thành
phố Bắc Giang trong công tác tuyên truyền hỗ trợ
73
4.8
Kết quả kiểm tra về thuế SDĐPNN giai đoạn 2012 - 2014
77
4.9
Ý kiến của người nộp thuế SDĐPNN khi điều tra
79
4.10 Số liệu nợ thuế các năm 2012 – 2014
80
4.11 Các biện pháp đôn đốc thu nợ đã áp dụng
80
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Để duy trì sự tồn tại và thực hiện những chức năng về nhiệm vụ kinh tế xã
hội, an ninh, quốc phòng,…. thì Nhà Nước cần phải có những nguồn lực về vật
chất nhất định. Sự ra đời của Thuế gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà
Nước. Thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà Nước mà là công
cụ điều tiết vĩ mô trong quá trình cải cách và đổi mới quản lý kinh tế. Ngành thuế
đã tập trung nghiên cứu, đề ra các biện pháp công tác cụ thể và tạo ra sự chuyển
biến mới có hiệu quả thiết thực trong công tác của mình.
Thuế góp phần thực hiện các mục đích như định hướng sản xuất, tiêu dùng,
điều tiết thu nhập…Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, ngành thuế Việt
Nam đã có những bước tiến vượt bậc. Hệ thống chính sách thuế dần được hoàn
thiện, cơ chế quản lý thuế đang được từng bước cải cách cho phù hợp với quá
trình phát triển của đất nước và thông lệ quốc tế.
Hiện nay, trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, số lượng doanh
nghiệp tăng lên nhanh chóng, đổi mới quy mô, hình thức, cách thức hoạt động
của các doanh nghiệp cũng đa dạng và phức tạp hơn. Do vậy cơ chế quản lý cũ sẽ
không còn phù hợp và theo kịp sự phát triển, đòi hỏi phải chuyển sang cơ chế
quản lý mới. Thời gian qua công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã
góp phần nâng cao ý thức tuân thủ các luật thuế, hạn chế thất thu và tăng nguồn
ngân sách cho Nhà Nước. Tuy nhiên tình trạng thất thu có giảm nhưng chưa nâng
cao ý thức nộp thuế, gian lận né tránh trong việc nộp thuế. Vì vậy vấn đề mang
tính cấp thiết đặt ra cho ngành Thuế là phải tìm ra các giải pháp tối ưu nhất có
thể nhằm tăng cường công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Nguy cơ trốn lậu thuế, thất thoát thuế lớn nếu trình độ dân trí thấp và không
có biện pháp quản lý thuế phù hợp. Nếu không có biện pháp quản lý phù hợp,
chẳng hạn công tác kiểm tra không kịp thời, việc phổ biến các luật thuế kém hiệu
quả, công tác hướng dẫn các đối tượng nộp thuế không đầy đủ chu đáo...Có thể
quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp;
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp trên địa bàn Thành phố Bắc Giang giai đoạn 2012 - 2014;
- Đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp trên địa bàn Thành phố Bắc Giang.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp gồm những nội
dung gì?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả công tác quản lý thuế sử dụng
đất phi nông nghiệp ở Chi Cục thuế thành phố Bắc Giang?
- Những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp ở Chi Cục thuế thành phố Bắc Giang thời gian qua?
- Thực trạng công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trong thời
gian qua được tiến hành như thế nào?
- Để quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp một cách có hiệu quả ở Chi
Cục thuế thành phố Bắc Giang thời gian tới cấn đề xuất những giải pháp gì?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: Việc triển khai thực hiện công tác quản lý thu
thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Bắc Giang do Chi Cục
Thuế thành phố Bắc Giang quản lý.
Đối tượng điều tra, khảo sát để thu thập thông tin là: Cơ quan quản lý thuế
cấp thành phố: Chi Cục Thuế thành phố Bắc Giang quản lý và hộ gia đình cá
nhân là đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế SDĐPNN.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nhà nước ngày càng tăng. Muốn vậy thì nhà nước ngày càng phải hoàn thiện,
hoàn chỉnh chính sách thuế cho phù hợp. Với nhiều sắc thuế ra đời và khi đó Nhà
nước bổ xung công cụ thuế ngày một hoàn hảo hơn, phù hợp hơn, khoa học hơn
để chính sách thuế trở thành công cụ quản lý kinh tế vĩ mô.
Trong mỗi điều kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội của các giai cấp khác nhau
họ có quan niệm về thuế cũng có khác nhau:
Xét về nguồn gốc kinh tế của thuế nhà kinh tế học Ricardo (1772- 1823 )
cho rằng: " Thuế được cấu thành từ phần của Chính Phủ lấy trong sản phẩm đất
đai và lao động trong nước và xét cho cùng thì thuế được lấy từ tư bản hay thu
nhập của người chịu thuế" (Du Doruop và F.I.Poliasuki, 1976).
Nếu xét về quan hệ giữa sự tồn tại phát triển của Nhà nước với thuế hay
xét về góc độ nguồn gốc chính trị xã hội của thuế thì F.Ăng ghen cho rằng: "Để
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của những người công dân
cho Nhà nước, đó là thuế” (Mác - Ăng ghen, 1972).
Hay theo Các Mác cho rằng: "Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước,
là thủ đoạn giản tiện cho Kho bạc thu được bằng tiền hay sản vật mà người dân
phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước" (Mác - Ăng ghen,
1972).
Thuế không phải là sự tự nguyện đóng góp của dân chúng, cũng không
phải sự trả tiền ( trao đổi giữa nhà nước với tổ chức và cá nhân ) để được hưởng
1 lợi ích trực tiếp nào đó mà là có tính chất bắt buộc: V.I.Lê nin cho rằng: " Thuế
là cái Nhà nước thu của dân mà không bù lại" (Lê nin, 1978).
Có 1 số ý kiến cho rằng, thuế là khoản đóng góp mang tính pháp luật của
Nhà nước bắt buộc mọi người dân hoặc các tổ chức kinh tế nộp vào ngân sách
nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước. Khoản nộp về thuế
2.1.1.3 Khái niệm về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế trực thu đánh trên diện tích
đất ở, đất sản xuất kinh doanh của cá nhân, tổ chức trong một khoảng thời gian
nhất định (thường là một năm) (Bộ Tài chính, 2013).
Trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã
hội thì thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là một sắc thuế có tầm quan trọng.
2.1.1.4 Khái niệm quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Quản lý thuế SDĐPNN là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng
trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế SDĐPNN để thay đổi
quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà
nước đặt ra (Bộ Tài chính, 2013).
2.1.1.5 Sự cần thiết của công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Nền kinh tế nước ta phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành các
cuộc cải cách thuế nói chung và hệ thống chính sách thuế SDĐPNN nói riêng,
không ngừng hoàn thiện và kiện toàn hệ thống thuế nhằm đảm bảo tính hiệu lực của
Luật thuế SDĐPNN trong cả nước và tính hiệu quả của công tác quản lý thuế
SDĐPNN. Nhờ vậy, chính sách thuế SDĐPNN đã góp phần tích cực vào nguồn thu
ngân sách nhà nước và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Tuy nhiên, trước
những yêu cầu đặt ra của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, công tác quản lý thuế đối
với thuế SDĐPNN hiện nay đã bộc lộ những hạn chế. Để tạo bộ khung pháp lý về
quản lý thuế hoàn chỉnh, phù hợp với những thay đổi của sự phát triển kinh tế quốc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
tế thì việc hoạch định, cải cách chính sách về quản lý thuế nhằm nâng cao công tác
quản lý của Nhà nước đối với thuế SDĐPNN là rất cần thiết vì:
Công tác quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế SDĐ PNN nhằm góp
thửa đất ở vị trí 1: Đối với đất nằm ở mặt tiền của các đường phố, các trục đường
giao thông chính, có mức sinh lợi cao nhất và có điều kiện kết cấu hạ tầng thuận
lợi nhất phải nộp thuế với mức giá đất cao hơn, người có diện tích đất ở Vị trí 2:
Áp dụng đối với thửa đất nằm ở các làn đường phụ của các đường phố chính; các
ngõ, hẻm của đường phố, mà mặt cắt ngõ có chiều rộng từ năm mét trở lên (≥5)
và có chiều sâu ngõ dưới 200 mét (tính từ chỉ giới xây dựng sát mép vỉa hè
đường chính đến đầu thửa đất < 200m), có mức sinh lợi và có điều kiện kết cấu
hạ tầng kém thuận lợi hơn vị trí 1thì chịu mức giá đất thấp hơn. Người không có
hoặc có một thửa đất không phải nộp thuế hoặc nộp thuế ít, tạo ra môi trường
bình đẳng về pháp luật cho người Việt Nam cũng như người nước ngoài, góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1.1.6 Yêu cầu của công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Trước hết chúng ta cần phải xây dựng Bộ máy quản lý thuế SDĐPNN.
Một đội ngũ cán bộ thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác
quản lý thu thuế SDĐPNN là điều cần thiết nếu như chúng ta muốn thực hiện
tốt công tác quản lý thuế SDĐPNN. Đội ngũ này cần phải tổ chức lại một cách
thống nhất, đồng bộ và có khoa học. Nếu làm được điều này thì chúng ta sẽ vừa
tiết kiệm được chi phí cho công tác quản lý thu thuế đồng thời vẫn đảm bảo
thực hiện tốt công tác thu thuế.
Không những phải xây dựng Bộ máy quản lý thuế SDĐPNN mà còn
phải giám sát chặt chẽ Bộ máy quản lý thuế SDĐPNN .
Công tác quản lý thuế SDĐPNN theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế. Cơ chế tự
khai, tự nộp thuế là một phương thức quản lý thuế được xây dựng dựa trên nền
tảng là sự tuân thù tự nguyện của đối tượng nộp thuế, quản lý thuế dựa trên kĩ
thuật quản lý rủi ro.
Công tác quản lý thuế SDĐPNN đặc biệt quan trọng ở khâu quản lý diện
tích đất thuê, diện tích sử dụng đất của các ĐTNT. Chính vì vậy, chúng ta cần
phải giám sát diện tích đất của tất cả các đối tượng cá nhân và tổ chức. Để từ đó
SDĐPNN. Luật thuế SDĐPNN có hiệu lực ngày 01/01/2012. Luật thuế
SDĐPNN ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hoàn thiện hệ thống
pháp luật về thuế. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ
Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định: “Tiếp tục cải cách pháp
luật về thuế theo hướng ổn định, đơn giản hơn, mức thuế phù hợp, có tính đến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
các chế định kinh tế quốc tế và khu vực cũng như các điều ước quốc tế khác có
liên quan”.
Bên cạnh Luật thuế SDĐPNN còn có các Nghị định, thông tư quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành. Cụ thể là Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày
01/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật thuế SDĐPNN. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2012 và thay thế Nghị định số 94-CP ngày 25 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất và Pháp lệnh sửa đổi, bổ
sung một số điều của Pháp lệnh về thuế nhà, đất. Thông tư số 153 /2011/TT-BTC
ngày 11/11/2011 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về thuế SDĐPNN.
Sự cần thiết của công tác quản lý thuế
Thuế SDĐPNN có vai trò vai trò rất lớn trong việc huy động ngân sách
Nhà nước, do vậy công tác quản lý thuế SDĐPNN là một công tác quan trọng
cần phải được hoàn thiện để nâng cao hiệu quả. Công tác quản lý thuế SDĐPNN
là hoạt động của cơ quan thuế nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế
SDĐPNN cho ngân sách Nhà nước, góp phần phát huy tốt hơn vai trò của luật
thuế SDĐPNN. Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên thuế SDĐPNN được
áp dụng ở các quốc gia cũng có những đặc điểm khác nhau, vì vậy công tác quản
lý thuế SDĐPNN ở mỗi nước có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện của
chính sách thuế đã có. Qua đó, cán bộ thuế có thể nắm chắc được chính sách thuế
từ mục đích, ý nghĩa đến nội dung cụ thể, đủ khả năng chuyên môn và làm tròn
nhiệm vụ như một tuyên truyền viên giỏi về thuế.
Đối với mọi người dân trong xã hội ĐTNT là người trực tiếp tính số thuế
phải nộp vào NSNN, do đó phải có một kiến thức cơ bản để hiểu được các quy
định của các luật thuế. Cơ chế tự khai, tự nộp đòi hỏi sự tự giác cao, ý thức tuân
thủ pháp luật của ĐTNT. Do vây, công tác tuyên truyền phổ biến về nghĩa vụ thuế
và nội dung của chính sách thuế đến mọi tầng lớp dân cư cần phải được tiến hành
đều đặn, thường xuyên, luôn đổi mới và nâng cao hiệu quả (Bộ Tài chính, 2012).
2.1.2.2 Xây dựng kế hoạch quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán trình tờ trình xây dựng kế hoạch quản lý
thuế SDĐPNN lên Chi Cục Trưởng Chi Cục Thuế thành phố Bắc Giang xét
duyệt kế hoạch quản lý thuế SDĐPNN cho từng quý trong một năm. Được Chi
Cục trưởng thành phố Bắc Giang xét duyệt ban hành “Chương trình công tác các
quý của năm” và gửi cho đội quản lý các khoản thu từ đất, đội kê khai và tin học,
các đội thuế ở phường, xã và các bộ phận liên quan.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
Kế hoạch bao gồm:
Đăng ký thuế
Đội thuế cấp tờ khai nộp thuế SDĐPNN và hướng dẫn NNT kê khai nộp
thuế (Để xác định những thông tin trong tờ khai là chính xác thì người cán bộ địa
chính ở các xã, các phường xác nhận thông tin diện tích thửa đất trong tờ khai)
và gửi cho đội thuế quản lý các phường, xã đó. Đội thuế nhận và kiểm tra tờ khai
nộp thuế SDĐPNN. Sau khi nhận tờ khai thì Tổ xử lý dữ liệu nhập tờ khai nộp
thuế vào máy tính và truyền dữ liệu về Cục Thuế. Cục Thuế kiểm tra, xác nhận
nhận thủ tục cấp MST cho từng ĐTNN và chuyển kết quả về Chi cục thuế. Tổ xử
ký cấp mã số thuế tại Chi cục Thuế nơi có hộ khẩu thường trú. Trường hợp có
nhiều người đứng tên đồng sở hữu trên Giấy chứng nhận thì người đại diện theo
uỷ quyền hợp pháp của những người đứng tên đồng sở hữu trên Giấy chứng nhận
được cấp mã số thuế. Mã số thuế của người đại diện được sử dụng để khai, nộp
thuế đối với tất cả các thửa đất thuộc diện chịu thuế trên cùng một tỉnh/thành phố
hoặc khai thuế, nộp thuế đối với tất cả các thửa đất thuộc diện chịu thuế trên địa
bàn tỉnh/thành phố khác cho bản thân người đại diện (Bộ Tài chính, 2011).
Hồ sơ khai thuế
Đối với trường hợp khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp của
năm, hồ sơ gồm: Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho từng thửa đất
chịu thuế theo mẫu số 01/TK-SDDPNN áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân
hoặc mẫu số 02/TK-SDDPNN áp dụng cho tổ chức, ban hành kèm theo Thông tư
153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011, Bản chụp các giấy tờ liên quan đến thửa đất
chịu thuế như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyết định giao đất, Quyết
định hoặc Hợp đồng cho thuê đất, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng
đất, Bản chụp các giấy tờ chứng minh thuộc diện được miễn, giảm thuế (nếu có).
Đối với trường hợp khai tổng hợp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, hồ sơ
gồm: Tờ khai tổng hợp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp mẫu số 03/TKTHSDDPNN ban hành kèm theo Thông tư 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 (Bộ
Tài chính, 2011).
Quản lý thu thuế
Đội thuế phát tờ khai và hướng dẫn hộ kinh doanh kê khai diện tích đất,
giá đất và mức thuế suất và đôn đốc nộp tờ khai theo thời hạn đúng quy định. Đội
thuế nhận tờ khai và các bảng kê theo quy định và kiểm tra tờ khai. Tổ XLDL có
trách nhiệm nhập tờ khai vào máy ngay khi nhận của đội thuế chuyển tới và lưu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
tờ khai thuế theo thời hạn quy định hiện hành. Sau khi đã thông báo đôn đốc
Page 14
chức thành hệ thống bao gồm nhiều cấp. Tại nhiều nước, hệ thống đó không hoàn
toàn phù hợp với hệ thống chính quyền nhà nước và bao gồm: Cơ quan thuế
trung ương, cơ quan thuế cấp huyện, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện
như Trung quốc, Việt Nam…Ngoài ra, ở một số quốc gia thì hệ thống của ngành
thuế còn được tổ chức theo các dạng khác.
Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể được tổ chức theo các mô hình sau:
Mô hình tổ chức theo sắc thuế: Các phòng, ban riêng biệt được thành
lập để quản lý một số loại thuế cụ thể.Mỗi phòng, ban phải thực hiện tất cả các
chức năng, nghiệp vụ quản lý các loại thuế được phân công.Có thể nói đây là
“mô hình quản lý kép kín” đối với mỗi loại thuế.
Mô hình tổ chức theo chức năng: Tổ chức các phòng, ban chức năng
riêng rẽ trong. Mỗi phòng, ban thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên
quan đến tất cả các sắc thuế như phòng kê khai kế toán thuế, phòng kiểm tra
ĐTNT…
Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế: ĐTNT được chia thành các
nhóm dựa trên quy mô hoạt động, hình thức sở hữu hoặc ngành kinh tế… mỗi
phòng, ban chịu trách nhiệm quản lý cung cấp những thông tin đầy đủ về từng
nhóm ĐTNT.
Để đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế, đảm bảo nguồn thu
kịp thời cho NSNN và đảm bảo công bằng, bình đẳng trong xã hội mỗi nước sẽ
lựa chọn một mô hình cụ thể theo điều kiện kinh tế - xã hội. Có những nước lựa
chọn kiểu mô hình pha trộn giữa các kiểu trên.
2.1.2.4 Tổ chức thực hiện quản lý kê khai nộp thuế
Có hai hình thức kê khai, đăng ký, nộp thuế SDĐPNN:
Một là: Người nộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp thuế theo quy định của
pháp luật về quản lý thuế. Hai là: Người nộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại