SKKN sử dụng đồ dùng trực quan và các phương pháp tích cực trong việc giảng dạy môn GDCD ở trường THCS - Pdf 35

MỤC LỤC
Tóm tắt đề tài …………….………………….…………..Trang 2
A. Phần mở đầu..................................................... Trang 5
I. Lý do chọn đề tài....................................... …Trang 5
II. Đối tượng nghiên cứu.................................... Trang 7
III. Phạm vi nghiên cứu...................................... Trang 7
IV. Phương pháp nghiên cứu............................. Trang 8
B.Phần nội dung.................................................. Trang 10
1. Cơ sở lý luận……………………………………….Trang 9
2. Cơ sở thực tiễn……………………………………..Trang 10
3. Nội dung vấn đề……………………………………Trang 10
4. Kết quả thực hiện…………………………………..Trang 31
C. Phần kết luận............................................ …..Trang 33
- Bài học kinh nghiệm………………………………..Trang 33
- Hướng phổ biến, áp dụng đề tài ……………………Trang 33
- Tài liệu tham khảo …………………………………Trang 35

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
TÊN ĐỀ TÀI: “ Sử dụng đồ dùng trực quan và các phương pháp tích cực


trong việc giảng dạy môn GDCD ở trường THCS”
A – MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
1. Khách quan :
- GDCD là một môn học có tầm quan trọng trong nhà trường THCS.
- Dạy học GDCD là tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, lời nói
và hành vi.
- Môn GDCD góp phần đào tạo ra những công dân có tri thức khoa học có năng
lực hoạt động.
2. Chủ quan:

pháp cụ thể cho tiết thực hành cuối học kỳ II.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Ở đề tài sáng kiến kinh nghiệm sử dụng một số phương pháp và hình thức tổ
chức thực hiện như: Kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan với kỹ thuật khăn trải
bàn và sơ đồ tư duy; Tranh luận ủng hộ - phản đối; Kỹ năng đặt câu hỏi, động
não... cần phải khai thác tình hình thực tế đó để giáo dục cho học sinh xử lý tình
huống thể hiện qua cách (quan sát tranh ảnh, xem băng hình , sưu tầm và quay
chụp hình ảnh ,quay phim…..)
B – NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Nghiên cứu các công văn chỉ đạo chuyên môn của ngành, sở, phòng ban.
Nắm chắc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Công văn chỉ đạo chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và sử dụng các
kỹ thuật dạy học tích cực.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Ý thức bảo vệ môi trường của học sinh.
- Sự quan tâm của phụ huynh, người dân và chính quyền địa phương.
- Bản thân giáo viên với giáo dục môi trường cho học sinh.
- Tình hình cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường với đặc thù bộ môn.
3. Nội dung vấn đề:
3.1. Kỹ thuật động não với tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, bản đồ.
3.2. Kỹ thuật đặt câu hỏi với bảng thống kê, số liệu.
3.3. Tranh luận ủng hộ - phản đối với phim tư liêu, Video clip tình huống.
3.4. Kỹ thuật nêu gương người tốt với những câu chuyện có thật trong cuộc


sống, qua báo chí.
3.5. Lựa chọn kỹ thuật dạy học và đồ dùng theo yêu cầu sách giáo viên có sưu
tầm bổ sung phù hợp.
- Hoạt động giới thiệu bài .

con người Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
và tăng cường khả năng hội nhập trong xu thế phát triển và tiến bộ của thời đại.
Mặt khác dạy học môn GDCD phải nhằm tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và
hành động, giữa lới nói và hành vi. Như vậy, môn GDCD cần phải đảm bảo cung
cấp cho học sinh những phương thức ứng xử về đạo đức, pháp luật, văn hoá
trong cuộc sống, hình thành ở mỗi học sinh sự thống nhất giữa nhận thức và
hành động, hướng học sinh vào việc thực hành trong cuộc sống hàng ngày các
chuẩn mực và mẫu hành vi tích cực mà bài học đặt ra; khơi dậy trong học sinh ý
chí thể hiện sự thống nhất đó.
Cùng với những môn học khác, môn GDCD góp phần đào tạo những người
công dân mới vừa có tri thức khoa học vừa có năng lực hoạt động thực tiễn, có ý


thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước. Từ đó các em thấy rõ trách
nhiệm của mình: Luôn luôn có ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp, Pháp
luật, biết tự rèn luyện bản thân để trở thành người công dân hữu ích cho quê
hương, đất nước.
Vì vậy, để phát huy tính tích cực của học sinh thì việc sử dụng có hiệu quả đồ
dùng dạy học là điều kiện hết sức quan trọng giúp học sinh chiếm lĩnh các giá trị,
các chuẩn mực đạo đức, pháp luật thông qua việc nắm tri thức, thực hành và rèn
luyện trong và ngoài giờ học.
2. Chủ quan:
Những năm gần đây, đạo đức của một bộ phận xã hội đang chiều hướng xuống
cấp, tội phạm của những người chưa thành niên có chiều hướng gia tăng, một
trong những nguyên nhân dẫn đến các em có lối sống buông thả, thiếu văn hoá,
phạm tội là do hiểu biết về các giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và pháp luật của các em còn hạn chế. Vì vậy giáo dục đạo đức, pháp luật trong
nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần quan trọng trong việc giáo
dục và rèn luyện con người ý thức tuân theo những chuẩn mực của đạo đức xã
hội và tuân theo pháp luật.

thực tế cuộc sống. Các em biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, vào
trong vấn đề cụ thể hàng ngày. Cho nên giờ học đạo đức, pháp luật rất sôi nổi,
chất lượng giờ dạy được nâng cao, học sinh nắm bắt các chuẩn mực của đạo
đức, pháp luật chắc và nhanh.
Trong những năm gần đây công tác bồi dưỡng chỉ đạo chuyên môn của
Phòng giáo dục và Đào tạo ngày càng chặt chẽ hơn, các cụm chuyên môn được
quan tâm, sinh hoạt tương đối hiệu quả. Bên cạnh đó, tại đơn vị, công tác chỉ
đạo đổi mới phương pháp được thống nhất từ Ban giám hiệu đến các tổ, nhóm
và từng cá nhân, đặc biệt là sử dụng đồ dùng dạy học có kết hợp các phương
tiện hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy nhiều hơn, mỗi giáo viên
dạy Giáo dục công dân đều xác định rằng:“ Muốn cho giờ dạy đạo đức, pháp
luật không bị khô cứng và tẻ nhạt phải sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại kết
hợp với đồ dùng trực quan” giúp học sinh nắm vững kiến thức theo nguyên lí:“
Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn. Đó là con đường biện chứng của nhân thức chân lý, của sự nhận thức hiện
thực khách quan” (Lê nin).
Mặt khác, trong những năm gần đây nhà trường đã từng bước trang bị các


phương tiện phục vụ cho giảng dạy như máy tính, mạng Internet, máy chiếu nên
việc sưu tầm tư liệu như tranh ảnh rất thuận tiện. Vì vậy, mỗi giáo viên đều suy
nghĩ, tìm tòi để làm sao nâng cao chất lượng sử dụng đồ dùng trực quan trong
giảng dạy bộ môn GDCD nhằm đem lại hiệu quả cao trong việc dạy và học bộ
môn này.
Từ những cơ sở thực tiễn trên đây đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương
pháp dạy học. Muốn làm được điều đó, giáo viên phải là những người tổ chức,
điều khiển các hoạt động học tập, hạn chế tối đa sự độc thoại của thầy bằng
cách sử dụng đồ dùng dạy học một cách trực quan, phong phú, tạo ra sự hấp
dẫn trong tiết học, học sinh chủ động tiếp cận đồ dùng dạy học, phân tích, đánh
giá từ đó rút ra nội dung bài học. Như vậy học sinh có cơ hội tối đa phát triển

giải pháp khắc phục tồn tại và hạn chế của học sinh đồng thời phát huy tối đa
hiệu quả đạt được. Vẽ biểu đồ để so sánh đối chiếu kết quả. Nắm các số liệu
thực tế và khả năng nhận thức của học sinh để đưa ra các biện pháp và giải
pháp cụ thể cho tiết thực hành cuối học kỳ II.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
GDCD là một môn học không chỉ là việc tiếp thu kiến thức mà còn phải biết vận
dụng liên hệ mở rộng ở thực tế, xử lý được các tình huống diễn ra trong đời
sống hằng ngày. Đòi hỏi ở học sinh một quá trình rèn luyện vận dụng thuần thục
và trở thành kỹ năng, hình thành năng lực phẩm chất nhân cách và ý thức cho
học sinh.
Ở đề tài sáng kiến kinh nghiệm sử dụng một số phương pháp và hình thức tổ
chức thực hiện như: Kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan với kỹ thuật khăn trải
bàn và sơ đồ tư duy; Tranh luận ủng hộ - phản đối; Kỹ năng đặt câu hỏi, động
não... cần phải khai thác tình hình thực tế đó để giáo dục cho học sinh xử lý tình
huống thể hiện qua cách (quan sát tranh ảnh, xem băng hình , sưu tầm và quay
chụp hình ảnh ,quay phim…..)

B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Kỹ thuật dạy học tích cực là thông qua các hoạt động của giáo viên và học sinh
nhằm rèn luyện phương pháp tự học, kích thích sự đam mê tăng cường sự hợp
tác, giao tiếp chia sẻ kinh nghiệm đồng thời tạo ra môi trường học tập thoải mái


cho học sinh… Kết hợp sự đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò.
Đồ dùng dạy học ở đây được hiểu là những phương tiện, thiết bị vật chất được
sử dụng trong quá trình dạy học như Tư liệu, tranh, ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ,
bảng thống kê, số liệu, phim tình huống, phim tư liệu, trò chơi… Ngoài ra, ta có
thể sử dụng một số đồ dùng thông thường trong gia đình, trong sinh hoạt: Dùng
để sắm vai, chơi trò chơi; Thông báo hay trình bày thông tin, giới thiệu vào bài,

dụng phương tiện dạy học một cách hợp lý, có hiệu quả, tránh lạm dụng hoặc sử
dụng một cách hình thức, tránh xu hướng sử dụng tràn lan, không có chủ đích rõ
rệt, cần được khai thác một cách triệt để.
2. Cơ sở thực tiễn:
Dạy đạo đức, pháp luật cũng như tất cả các môn học khác là phải sử dụng các
kỹ thuật dạy học và đồ dùng trực quan để minh hoạ cho nội dung bài giảng.
Trong các tiết dạy đạo đức, pháp luật hiện nay rất đa dạng và phong phú trong
giai đoạn hiện nay khi khoa học công nghệ đang phát triển, mạng Intenet dang
được sử dụng ngày càng rộng rãi. Vì vậy, trong một tiết dạy giáo viên có thể sử
dụng nhiều kỹ thuật và đồ dùng trực quan khác nhau vào những mục đích khác
nhau nhằm làm cho bài giảng thêm hấp dẫn, đạt hiệu quả cao. Từ thực tiễn
giảng dạy tôi thấy cần phải chuẩn bị như sau:
Muốn sử dụng các kỹ thuật dạy học và đồ dùng trực quan đạt hiệu quả
cao trong mỗi bài dạy đạo đức, pháp luật, người giáo viên dạy GDCD phải chuẩn
bị rất kỹ. Do những đồ dùng trực quan sử dụng trong các tiết dạy đạo đức, pháp
luật ít có sẵn nên việc chuẩn bị đồ dùng cho một tiết dạy khá công phu đòi hỏi
giáo viên phải có sự đầu tư về mặt thời gian, công sức, trí tuệ và lòng nhiệt tình.
Trước hết người giáo viên phải xác định xem trong tiết dạy này cần sử dụng các
kỷ thuật nào? loại đồ dùng gì? Bảng, phấn, giấy, bút, thước; tư liệu, tranh ảnh,
bản đồ, biểu đồ, sơ đồ; phiếu học tập, bảng phụ…hay các loại phương tiện kỹ
thuật nghe nhìn như máy băng đĩa ghi âm, máy chiếu các bản in, máy băng đĩa
hình, các phương tiện đa chức năng như máy tính, máy chiếu, các phần mềm
dạy học trên máy vi tính…
Khi đã xác định được bài dạy này cần sử dụng những loại nào thì người giáo
viên sẽ bắt tay vào công việc chuẩn bị và tiến hành thực hiện.
3. Nội dung vấn đề:
Mục tiêu của đề tài này là tìm ra những cách thức tổ chức hiệu quả nhất trong
việc thực hiện đề tài:“ Sử dụng đồ dùng trực quan và phương pháp dạy học






Thông tin, số liệu, hình ảnh về tình hình trật tự ATGT.
Từng bài dạy giáo viên cần biết trong phòng đồ dùng của nhà trường đã có
những đồ dùng nào, nếu thiếu thì tiến hành làm và sưu tầm, cố gắng vận động
học sinh cùng tham gia: vẽ tranh, sưu tầm tranh ảnh, tìm số liệu, khi cần có thể
tự quay hoặc nhờ đồng nghiệp quay những đoạn phim tư liệu ngắn hoặc các
tình huống.

Biển báo nguy hiểm
chỉ dẫn

Biển báo cấm

Biển báo


Đi hàng ba, hàng tư

Đá bóng dưới

lòng đường

Tuyên truyền An toàn giao thông

Cảnh sát giao thông

làm nhiệm vụ
Khi đã có những đồ dùng cần sử dụng, tôi tiến hành nghiên cứu thật kỹ phân loại


Hậu quả to lớn của chiến tranh.



Ngày nay chiến tranh vẫn xảy ra nhiều nơi trên thế giới



Trách nhiệm của cộng đồng thế giới, mỗi quốc gia, mỗi con người phải
làm gì để ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình.


Mỹ ném bom nguyên tử Nhật bản

Hậu quả của chiến

tranh

Bảo vệ trật tự xã hội

Bảo vệ Tổ Quốc


Biểu tình vì hòa bình

Vẽ tranh vì hòa

bình
Ví du 2: Khi dạy bài 17: Nhà nước CH XHCN Việt Nam (Lớp 7); bài

- Xác định được vùng trời, vùng biển, những tất đất thiêng liêng của Tổ Quốc
Hình thành ý thức công dân, nghĩa vụ đối với đất nước
Ví dụ 5: Khi dạy bài: Ngoại khóa “An toàn giao thông” giáo viên có thể
giới thiệu “Lược đồ mạng lưới giao thông đường sắt Việt Nam” để :
- Giới thiệu mạng lưới giao thông đường sắt ở Việt Nam và đặc điểm của
đường sắt nước ta: Hầu hết các đường bộ đều giao cắt với đường sắt trên cùng
một mặt phẳng (đoạn đường đó gọi là đường ngang). Ở nước ta có khoảng hơn
1000 đoạn đường như vậy, trên các đoạn đường đó thường xảy ra tai nạn vô
cùng nguy hiểm.
- Tìm những biện pháp đảm bảo an toàn khi đi qua đoạn đường bộ giao cắt với
đường sắt.
- Biết bảo vệ tài sản trên đường sắt, tránh việc ném đá lên tàu, đảm bảo an toàn
tại địa phương nơi tàu đi qua


Đường bộ giao với đường sắt

Bản đồ hành chính

Việt nam
3.2. Kỹ thuật đặt câu hỏi với bảng thống kê, số liệu:
Bảng thống kê, số liệu ấy sẽ là những minh chứng có sức thuyết phục
nhất, sinh động nhất về thực tiễn cuộc sống. Giúp học sinh có cái nhìn thực tế,
thiết thực so với lý thuyết chung chung, Từ đó các em nắm bài vững, hiểu bài
sâu.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Ngoại khóa: “An toàn giao thông” giáo viên có thể
đưa ra “Bảng thống kê tình hình tai nạn giao thông” và đặt câu hỏi cho học sinh:


Tai nan giao thông để lại những tổn thất to lớn như thế nào?

11.449
10.633
6723
Năm 2010

Tỉ lệ tăng, giảm so với năm
trước
Giảm 4,4%
Giảm 4,0%
Giảm 8,1%
Tỉ lệ tăng, giảm so với năm


( TP Đà Nẵng)
trước
Số vụ
158
114
213
Tăng 30,3%
Số người chết
115
105
149
Tăng 17,3%
Số người bị thương
24
68
163
Tăng 41,12%

21.633

3.3. Tranh luận ủng hộ - phản đối với phim tư liêu, Video clip tình huống:
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc tìm những
thước phim tư liệu, phóng sự điều tra, Video clip tình huống không còn qua khó
khăn đối với người giáo viên, những tư liệu này có rất nhiều trên Iternet. Điều
quan trọng là người giáo viên phải biết lựa chọn cho phù hợp với từng bài học,
vừa mang tính giáo dục cao.
Trong quá trình giảng dạy của mình, tôi đã cố gắng sưu tầm, sắp xếp các loại tư
liệu này thành những chuyên mục, các đoạn phim có thể sử dụng dạy nhiều lớp
khác nhau với cùng một chủ đề sau đó trình chiếu cho học sinh xem , học sinh
tranh luận nêu quan điểm ủng hộ hay phản đối..
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Lý tưởng sống của thanh niên” (GDCD 9) tôi sẽ cho học
sinh xem đoạn Video clip hình ảnh về Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Video
clip về “Thanh niên tình nguyện” đi đến vùng sâu, vùng xa, Video clip về thanh
thiếu niên ăn chơi hư hỏng, đánh bạc đua xe…nhằm giúp học sinh:

Năm 2010
180.312
42.399
36.101



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status