LỜI CẢM ƠN
Khóa luận với đề tài: “Văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt
Nam” của em được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới sự
động viên, khích lệ của các thầy cô, gia đình và bạn bè.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử đã
dạy dỗ, quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian học
tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Nhân đây, em xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu, cảm ơn ban lãnh
đạo và toàn thể cán bộ Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, Phòng
Văn hóa - Thông tin huyện Thanh Sơn và huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ, cảm
ơn các vị cao niên, gia đình và bạn bè tâm huyết đã giúp đỡ em trong quá
trình thực hiện đề tài.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô
giáo -Thạc sỹ Nguyễn Thị Bích, người trực tiếp hướng dẫn, đã tận tình chỉ
bảo em suốt thời gian qua để em có thể hoàn thành khóa luận.
Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế, trong quá trình thực
hiện khóa luận, em không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em kính mong
nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy, các cô và sự đóng góp ý kiến của
các bạn để khóa luận của em có thể hoàn thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Nguyệt
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận này là do sự cố gắng nỗ lực tìm hiểu
nghiên cứu của bản thân với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Thị Bích.
Công trình này không trùng lặp với các kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác.
2.2.1. Đồ ăn ............................................................................................. 27
2.2.2. Đồ uống ......................................................................................... 34
2.3. Ẩm thực của người Mường vào dịp lễ tết ............................................ 37
2.3.1. Giới thiệu đôi nét về lễ tết của người Mường ............................... 37
2.3.2. Ẩm thực của người Mường vào dịp lễ tết ..................................... 41
2.3.2.1. Đồ ăn ...................................................................................... 43
2.3.2.2. Đồ uống .................................................................................. 56
2.4. Đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam ....... 61
2.5. Các biện pháp bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực của người Mường
ở Việt Nam .................................................................................................. 67
2.5.1. Sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy ........................................... 67
2.5.2. Các biện pháp để bảo tồn và phát huy .......................................... 70
Tiểu kết chương 2........................................................................................ 72
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 76
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân tộc Mường là một trong 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đây là
một dân tộc có lịch sử hình thành từ lâu đời với những phong tục tập quán
riêng biệt. Trong quá trình sinh sống, người Mường đã sáng tạo ra được
nhiều sản phẩm văn hóa phong phú và đa dạng. Sản phẩm n ày không chỉ thể
hiện ở các lĩnh vực như âm nhạc, hội họa, điêu khắc,… mà còn thể hiện
ngay trong ẩm thực.
Ẩm thực vốn là một nhu cầu thiết thực trong cuộc sống sinh tồn của loài
người. Ẩm thực không đơn thuần chỉ đáp ứng nhu cầu “ăn no mặc ấm, ăn
chưa có cái nhìn cụ thể về văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam.
Tự hào là đứa con được sinh ra và lớn lên trên quê hương có dân tộc
Mường sinh sống. Bản thân tôi muốn khám phá những nét độc đáo của dân
tộc Mường mà ẩm thực là lĩnh vực không ngoại lệ. Bởi lẽ nó vừa đơn giản,
mộc mạc mà giản dị, không cầu kỳ nhưng mang trong mình những nét độc
đáo và rất đỗi chân thực.
Với những lý do trên, tôi xác định chọn “Văn hóa ẩm thực của người
Mường ở Việt Nam” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa ẩm thực từ lâu nay đã là đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu
của nhiều học giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam và được nghiên cứu dưới
nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau về ẩm thực của từng dân tộc.
Viết về văn hóa ẩm thực ở Việt Namcó cuốn: “Văn hóa ẩm thực Việt
Nam - Các món ăn miền Bắc” của tác giả Trần Quốc Vượng, Băng Sơn, Mai
Khôi (NXB Thanh niên, Hà Nội, 2001); “Bước đầu tìm hiểu văn hóa ẩm thực
Việt Nam”của tác giả Phan Văn Hoàn (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2006); “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” (NXB Giáo dục, Hà Nội,
1998); “Văn hóa ẩm thực Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Khánh (NXB Lao
2
Động, Hà Nội, 2002),… Nhìn chung những tác phẩm trên đã đưa ra cái nhìn
bao quát, từ đó rút ra đặc điểm chung của văn hóa ẩm thực Việt Nam, so sánh
với ẩm thực thế giới. Tuy nhiên, nội dung các công trình nghiên cứu trên chỉ
đưa ra bức tranh toàn cảnh và giới thiệu sơ lược về văn hóa ẩm thực của một
số dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam, mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ
thể văn hóa ẩm thực của từng dân tộc, đặc biệt là dân tộc Mường. Song các
tác phẩm trên lại có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở nền tảng giúp tôi thực hiện
đề tài này.
Tỉnh mà còn nghiên cứu tất cả các lĩnh vực có liên quan đến văn hóa như:
phong tục tập quán, lễ hội, văn học, âm nhạc và đặc biệt là ẩm thực. Trong tác
phẩm, tác giả đã đề cập đến văn hóa ẩm thực của đồng bào các dân tộc thiểu số
mà dân tộc Mường được tác giả chú trọng hơn cả. Thông qua việc giới thiệu
đôi nét về các món ăn truyền thống của dân tộc Mường nhằm góp phần quảng
bá, giới thiệu du khách thập phương về tinh hoa văn hóa của miền đất cội
nguồn. Công trình góp một tiếng nói vào công cuộc bảo vệ chấn hưng nền văn
hóa cổ truyền đất Tổ.
Tuy nhiên, những tác phẩm viết về văn hóa ẩm thực ở hai tỉnh Hòa Bình
và Phú Thọ chỉ được tác giả nghiên cứu ở từng vùng cụ thể, chưa có cái nhìn
bao quát chung về ẩm thực dân tộc Mường ở Việt Nam. Ẩm thực dân tộc
Mường trong cuộc sống hàng ngày và trong dịp lễ tết nét độc đáo còn được
thể hiện mờ nhạt mà chỉ đi sâu vào trình bày những món ăn truyền thống.
Mặc dù vậy song đây cũng là một trong những nguồn cung cấp tư liệu quan
trọng giúp tôi hoàn thành bài khóa luận của mình.
Bên cạnh những cuốn sách viết về văn hóa ẩm thực của dân tộc Mường
còn có những bài báo, tạp chí đề cập vấn đề này như: “Ăn tết xứ Mường” của
Đức Tuyền (Tạp chí ngân hàng, số2+3/2008); “Sinh hoạt rượu cần xứ
Mường”của Lưu Huy Chiêm (Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 117/2008); “Độc
đáo ẩm thực cỗ lá của người Mường Yên Lương” của Phùng Huyền Trang (Tạp
chí xây dựng đời sống văn hóa, tháng 2/2016). Nhìn chung các bài viết mới chỉ
4
tìm hiểu một góc nhỏ trong văn hóa ẩm thực của người Mường, chưa đi sâu
vào tìm hiểu cụ thể.
Như vậy có thể thấy, văn hóa ẩm thực Việt Nam nói chung và ẩm thực
của người Mường nói riêng là một đề tài phong phú, hấp dẫn thu hút nhiều tác
giả quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu. Ẩm thực đã góp phần không nhỏ làm
ngày và vào dịp lễ tết thông qua một số món ăn và đồ uống tiêu biểu. Từ đó để
thấy được nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam.
Đưa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực của
người Mường ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa ẩm thực của người Mường ở
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài đó là ẩm thực của người Mường
trên địa bàn tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, tỉnh Phú Thọ được tôi
chú trọng hơn cả, bởi lẽ nơi đây cũng là một trong những nơi mà người
Mường sinh sống lâu đời và cũng là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Việc lựa chọn
này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên cứu được sát sao hơn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích khóa luận đề ra, tôi sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập xử lý thộng tin: Đây là phương pháp nghiên cứu
của đề tài qua việc thu thập các tài liệu sẵn có thông qua các tài liệu văn bản,
sách báo, tạp chí, báo cáo, website, truy vấn thông tin qua internet và tư liệu
do địa phương cung cấp có liên quan tới đề tài nghiên cứu.
Phương pháp khảo sát thực địa: Đây là phương pháp nghiên cứu giúp
tiếp cận vấn đề một cách chủ động, trực quan kiểm tra, đánh giá một cách xác
thực để có cái nhìn toàn diện về đối tượng nghiên cứu. Cụ thể trong đề tài
này, phương pháp nghiên cứu được thể hiện ở việc trực tiếp nhìn quá trìnhchế
biến các món ăn và đồ uống để có những nghiên cứu và kết quả xác thực,
6
7
NỘI DUNG
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƢỜI MƢỜNG
Ở VIỆT NAM
1.1. Nguồn gốc
Về tên gọi, hiện nay Mường đã trở thành tên gọi chính thức của một dân
tộc. Thực ra đó là từ dùng để chỉ một địa phương, một khu vực, một vùng
(như Mường Bi, Mường Vang, Mường Ống). Trước đây, người Mường tự gọi
mình là Mol hoặc Mon, Moi, Muan, Mual,… tùy theo từng địa phương. Mol
nghĩa là người, còn từ Mường dùng để chỉ một dân tộc cụ thể có lẽ xuất hiện
tương đối muộn. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không phải từ khi có tên
Mường để chỉ tên dân tộc thì mới xuất hiện dân tộc Mường, thực ra đã trở
thành một dân tộc từ lâu.
Về nguồn gốc lịch sử, theo nhiều nhà nghiên cứu và căn cứ vào các tài
liệu khác nhau đã đi đến nhận định: Người Việt và người Mường vốn có
chung nguồn gốc, có những đặc điểm chung về ngôn ngữ, tiếng Việt và tiếng
Mường có một gốc chung. Nếu so sánh, đối chiếu về mặt ngữ pháp, ngữ âm
và từ vựng cơ bản giữa hai ngôn ngữ có quan hệ khá gần gũi.
Về nhân chủng, hai nhóm Mường - Việt cùng chung những đặc điểm
nhân chủng trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit phương Nam.
Trong phong tục tập quán giữa người Mường và người Việt có nhiều điểm
giống nhau.
Về mặt tôn giáo, tín ngưỡng cũng như văn học dân gian có thể thấy được
nhiều quan hệ thân thuộc.
Tuy vấn đề nguồn gốc người Việt - Mường hiện nay còn đang tiếp tục
nghiên cứu, song hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng họ là những cư dân
bản địa.Ý kiến được nhiều người tán đồng cho tổ tiên người Việt - Mường là
người Lạc - Việt, một chủ nhân của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng hay nói rộng
9
tỉnh và 14,5% tổng số người Mường tại Việt Nam, tập chung đông đảo ở các
xã vùng cao huyện Thanh Sơn, Tân Sơn. Ở các tỉnh khác,người Mường phân
bố dân cư thưa thớt hơn như: Sơn La (81.502 người), Hà Nội (49.339 người),
Ninh Bình (22.614 người), Đắc Lắc (15.510 người), Yên Bái (14.619 người),
Bình Dương (10.227 người) [26].
Như vậy, người Mường tập chung đông đảo nhất ở ba tỉnh Hòa Bình,
Phú Thọ và Thanh Hóa.
1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.3.1. Kinh tế
Người Mường biết làm ruộng từ lâu đời và sống định canh định cư.
Nghề nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và cây lúa là cây
lương thực chủ yếu. Lúa nếp được trồng nhiều hơn lúa tẻ. Người Mường
trồng lúa khá nhiều trên ruộng bậc thang, có nhiều mảnh ruộng vì chiều ngang
quá hẹp nên phải dùng cuốc thay cày.
Về mùa vụ, trước đây chủ yếu là một vụ.Vụ chiêm không phải mùa nào
cũng có và chiếm một tỉ lệ tương đối thấp so với vụ mùa. Ở những nơi đã cấy
hai vụ lúa thường có đời sống kinh tế sung túc hơn. Những vùng giáp miền
xuôi số lượng ruộng làm hai vụ tương đối nhiều.
Kỹ thuật canh tác ở từng vùng có những nét khác nhau nhưng nhìn
chung còn thấp. Sau khi gặt, người ta thường cày vỡ để chuẩn bị cho vụ sau.
Có những nơi, ở ruộng sâu người ta không cày mà chỉ bừa rồi cấy. Một số
vùng còn đưa trâu xuống giẫm ruộng cho chết cỏ và nhuyễn đất. Cách thức
làm đất nói chung chưa kỹ, thường chỉ làm độ một hai lần, sau đấy bừa rồi
cấy. Công cụ lao động như cày, bừa còn thô sơ, phổ biến dùng cày chìa vôi
nên không có khả năng cày sâu. Bừa kiểu nhỏ, răng làm bằng gỗ hoặc bằng
tre, bừa răng sắc là loại tương đối hiếm. Cào cỏ ít được dùng, việc làm cỏ chủ
hoặc măng là thức ăn hàng ngày. Cây ăn quả chưa nhiều.
Người Mường chăn nuôi trâu bò chủ yếu để làm sức kéo trong nông
nghiệp, trong nghề rừng và một phần để lấy phân bón ruộng. Trâu được nuôi
11
nhiều hơn bò và còn được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cưới xin để
trao đổi hay bán cho miền xuôi. Lợn cũng được nuôi phổ biến mỗi gia đình
đều có một vài con hầu như gia đình nào cũng nuôi gà và vịt. Nhiều nơi đồng
bào có nghề nuôi ong lấy mật và sáp, mỗi gia đình nuôi đến vài ba tổ. Mật
ong dùng để ăn nhưng chủ yếu dùng để trao đổi hoặc bán.
Săn bắn là một hoạt động thường gặp trong đời sống của người Mường
nhưng không phải là nguồn sống quan trọng. Săn bắn còn kết hợp với sản
xuất để chống thú rừng, bảo vệ mùa màng, nó không những là một nguồn lợi
là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui. Trong làng xóm, chưa có
những người chuyên sống về săn bắn, nhưng người đàn ông nào cũng biết đi
săn và gia đình nào cũng có nỏ và súng. Người Mường có nhiều kinh nghiệm
làm nỏ và tên thuốc độc. Cùng với săn bắn, đồng bào còn dùng các loại bẫy
để đánh cầy, cáo, chim, chuột,… Có nhiều lại bẫy khác nhau nhưng phổ biến
là loại bẫy sập.
Đánh cá cũng là một nghề phụ trong gia đình, tương đối phát triển ở
những khu vực ven các con sông và suối lớn. Ở vùng thấp xung quanh làng
xóm phần lớn đều có ao, đầm, sông suối nên dễ kiếm cá hơn. Hầu như nam
giới người nào cũng biết đánh cá, biết đan chài, lưới và gia đình nào cũng có
đồ đánh cá. Các công cụ đánh cá khá đa dạng, ngoài những thứ như chài, lưới,
vó, có nhiều loại khác nhau như đơm, đó, đăng,… Vào những ngày cuối năm,
để chuẩn bị cho thức ăn ngày Tết người ta hay đi đánh cá. Những dịp này cá
kiếm được tương đối nhiều. Một số nơi còn lấy một số loại lá hoặc rễ cây đem
giã ra rồi thả xuống nước. Đánh cá kiểu này tuy kiếm được nhiều nhưng cá
chung là xóm và mường. Ở đó được hình thành một bộ máy quản lý, điều
hành theo luật tục, mọi thành viên trong cộng đồng xóm, mường phải tuyệt
đối tuân thủ. Nơi cư trú của người Mường được gọi bằng từ quêl hoặc xóm
(đều có nghĩa là làng). Làng là đơn vị của xã hội Mường gồm nhiều tiểu gia
đình phụ quyền mà tế bào gia đình là cha mẹ và con cái, trong đó quyền thế
13
tục thuộc về con trưởng. Mỗi làng của người Mường thường quần tụ nhiều
dòng họ.
Cụ thể ở Hòa Bình các dòng họ nắm quyền thống trị lâu đời là Đinh,
Quách, Bạch, Hoàng, Hà,… Trong số đó họ Đinh và họ Quách có thế lực
mạnh nhất.
Ở Phú Thọ trung bình mỗi làng có bốn đến năm dòng họ. Chẳng hạn ở
làng Vèo xã Kiệt Sơn có các họ Hà, Bùi, Phùng, Xa; làng Dẹ thuộc xã Văn
Miếu có các họ Hoàng, Đinh, Bùi, Hà, Phùng.
Thổ lang hay quan lang là những người thuộc tầng lớp quý tộc trong các
dòng họ kể trên. Lang đạo theo chế độ thế tộc. Lang cun là con trưởng của chi
trưởng, trên danh nghĩa đứng đầu, nhưng chủ yếu cai quản “xóm chiềng” đây
thường là xóm lớn nhất, ruộng rất nhiều. Còn con thứ hoặc con trưởng ngành
thứ hai cai quản các xóm nhỏ gọi là lang xóm hay đạo. Nhìn chung các thổ
lang giữ địa vị thống trị, nắm quyền quản lý, phân phối ruộng đất trong
Mường, trong xóm. Giữa lang và dân có sự tách biệt nghiêm ngặt.
Thổ lang có một số người giúp việc (gọi là ậu, có nơi gọi là cai) để điều
hành các công việc trong mường trong xóm. Có đến hàng chục chức ậu khác
nhau. Họ có nhiệm vụ như lo thu thóc, thu hiện vật, bắt phu, bắt phen, lo việc
cúng bái, cưới xin, ma chay, đốc thúc dân đến làm xâu, làm nõ (xâu là hình
thức làm tập đoàn trên một diện tích ruộng của lang, nõ phân theo từng bộ và
làm trên diện tích hẹp hơn) và nhiều công việc khác.
nhà sàn. Nhìn bề ngoài không khác gì nhiều với nhà sàn của người Tày hay
người Thái, nhưng đi vào chi tiết ngôi nhà của người Mường cũng có những
đặc điểm nhất định. Chẳng hạn như, trong bộ kèo gồm hai kèo mỗi kèo còn
được lắp một cái“pa wac” hay còn gọi là “cu” để giữ cho mái nhà thêm vững
chắc, bộ phận này không thấy trong ngôi nhà sàn của các dân tộc khác ở miền
Bắc. Nhà làm theo cách tạm gọi là “gác gỗ làm nhà”, không có những mộng
để lắp ghép vào nhau mà chủ yếu là những cây gỗ gác lên nhau. Cột nhà phần
15
lớn là cột chôn. Nhà có bốn mái, hai mái lớn và hai mái nhỏ đầu hồi. Mái nhà
khá dốc và thấp, điềm mái che lấp một phần cửa sổ. Cách bố trí trong nhà
giữa các vùng tương đối thống nhất.
Dưới sàn là nơi nhốt trâu bò, đặt chuồng lợn, chuồng gà, chuồng vịt.
Ngoài ra đó còn là nơi để cối giã gạo, để các công cụ sản xuất như cày,
bừa,… Hiện nay, qua các cuộc vận động nếp sống mới, vệ sinh phòng bệnh,
chuồng gia súc được đưa ra khỏi gầm sàn.
Trước kia, xung quanh nhà đều có hàng rào bằng tre nứa hoặc xương
rồng phòng trộm cắp, thú dữ. Cổng ra vào hẹp, ban đêm được đóng cẩn thận.
Thứ hai: Trang phục
Tuy có nét giống nhau mang tính chất địa phương, trang phục của người
Mường cơ bản là thống nhất. Đồng bào biết trồng bông, dệt vải nên trước đây
đã tự túc được một phần quan trọng trong may mặc. Ở những vùng giáp ranh
với người Việt, Thái, người Mường đã chịu ảnh hưởng trang phục của họ.
Trang phục nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, có hai túi dưới hoặc thêm
túi trên ngực trái, đây là loại áo cánh phủ kín mông. Quần lá tọa ống rộng.
Trong lễ hội dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác áo
choàng đen dài tới gót, cài cúc sườn phải.
Y phục của phụ nữ có phần đa dạng hơn và còn được giữ những nét độc
cũng mang cho mình những đặc trưng riêng độc đáo của dân tộc mình. Bởi
vậy, mỗi người cần có ý thức bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực của dân
tộc Mường.
Trên đây là những nét khái quát chung, để có cái nhìn sâu sắc hơn khi đi
vào chương hai nội dung của bài được tôi trình bày một cách rõ nét về văn
hóa ẩm thực người Mường ở Việt Nam.
Thứ tư: Phương tiện vận chuyển
Xưa kia hầu hết đồng bào Mường đều đi bộ là chính, chỉ có vùng ven
sông thì mới dùng thuyền để đi lại. Hàng ngày, khi vận chuyển đồ đạc, hàng
17
hóa thì thường gánh, đeo sọt trên vai, trên trán. Nước sạch được chứa trong
ống mương to, dài hơn một mét vác vai từ bến nước về đựng dùng dần. Ngày
nay, phương tiện vận chuyển của người Mường gần giống như người Kinh,
họ đi lại chủ yếu bằng xe máy, xe đạp.
1.4.2. Văn hóa tinh thần
Bên cạnh văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần với những đặc trưng riêng
góp phần tạo nên nét độc đáo trong văn hóa của người Mường.
Thứ nhất: Tín ngưỡng và tôn giáo
Trước cách mạng tháng Tám, một số người vì muốn thoát khỏi ảnh
hưởng của lang đạo nên đã dựa vào thế lực của cha cố. Tuy theo công giáo,
song lòng tin của họ chưa sâu sắc lắm, vẫn mời thầy mo về cúng ma nhưng
vẫn thờ cúng tổ tiên. Sau cách mạng ảnh hưởng của công giáo nhạt dần. Vùng
Mường trước kia cũng có thờ phật (gọi là chùa thờ bụt) nhưng không có sư
sãi, không cầu kinh niệm phật, việc cúng bái đều do ông từ tự đảm nhiệm. Có
nơi cũng gọi là chùa, song lại thờ bà chúa rừng.
Trong các gia đình người Mường đều có thờ cúng tổ tiên, họ tin rằng
người chết sang thế giới bên kia vẫn có cuộc sống tương tự như ở trần gian.
cúng cơm mới,…
Trước Cách mạng tháng Tám, do đời sống kinh tế và văn hóa thấp kém,
con người phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên mê tín dị đoan khá nặng nề.
Thứ hai: Hôn nhân gia đình
Gia đình người Mường mang tính chất phụ quyền rất rõ rệt, quyền lực
của đàn ông - chủ gia đình được xác lập một cách vững chắc. Hình thức phổ
biến chủ yếu là tiểu gia đình, hiếm những gia đình gồm ba bốn thế hệ cùng ở
với nhau. Người chủ gia đình có quyền hành rộng rãi và quyết định mọi công
việc quan trọng trong nhà. Quyền con trưởng được coi trọng, con trai trưởng
là người kế vị trực tiếp các chức vụ của cha, con trai trong gia đình là người
chính thức được thừa kế gia sản trong đó người con trai trưởng thường được
phần nhiều hơn.
19
Địa vị của người phụ nữ thấp kém, họ không được tham gia vào những
cuộc họp bàn của làng xóm, không được hưởng quyền thừa kế. Sự bất bình
đẳng giữa nam và nữ còn tương đối rộng. Tuy nhiên khi chưa lấy chồng người
con gái phần nào cũng được tự do trong sinh hoạt, được quyền làm một mảnh
nương riêng, thu hoa lợi sử dụng theo ý mình. Mặt khác, trong sản xuất người
phụ nữ đóng vai trò đáng kể nên trong gia đình họ cũng được tham gia bàn
bạc công việc. Nhiều việc trong nhà người đàn ông cũng phải hỏi ý kiếm
người phụ nữ.
Hôn nhân của người Mường là hình thái hôn nhân một vợ một chồng và
cư trú bên nhà chồng. Do tính chất phụ quyền của gia đình kiểu gia trưởng,
nên việc hôn nhân của con cái chủ yếu do cha mẹ quyết định. Hôn nhân đã
mang tính chất mua bán, nhà trai phải mang đến cho nhà gái một món tiền và
một số hiện vật nhất định. Người Mường còn tồn tại chế độ đa thê (chủ yếu
trong tầng lớp lang đạo và những nhà giàu có). Những người chung một họ
lấy miếng vải trắng che mặt lại. Họ luộc một quả trứng, nấu ít gạo nếp, một
chai rượu làm cỗ Thắt Nghỉ (tắt thở). Lúc đó họ cầm dao lên cửa voóng gõ
lưng dao xuống ngưỡng cửa ba cái và kêu gọi: “Khổ lắm nhà mình đằng này
bố (hay mẹ) ơi!”. Tục này, có nơi do con cả thắt dao gọi. Động tác này thể
hiện là dòng họ này có một người ra đi, tách lìa khỏi dòng máu, tổ tiên bắt
đầu nhận lấy hồn này.
Tiếp theo gia đình phải cho đầu họ chiếc khăn trắng thắt lên đầu, cầm
chiêng đánh báo động có người chết để mọi người chạy về. Lúc đó mới
được khóc. Nhưng đối với người chết phải giờ xấu phải lui tới giờ tốt mới
báo động.
Các việc trên xong hoặc đồng thời là việc tắm rửa, khâm liệm cho người
quá cố. Trước hết phải nấu nồi lá bưởi để tắm rửa cho thi hài. Sau đó họ mặc
quần áo, quấn khăn, đặt nằm trên chiếu, trên chăn kép, đắp chăn, căng màn để
chờ giờ vào áo quan.
21