TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
NGUYỄN THỊ THU
NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG CỦA
NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa
Người hướng dẫn khoa học
ThS. TRẦN THỊ THU HÀ
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Lịch Sử đã quan tâm,
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình làm khóa luận. Đặc biệt, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Trần Thị Thu Hà – người đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình chu đáo để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 5năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thu
LỜI CAM ĐOAN
1.1.3.Điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội ......................................................16
1.2.KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI HUYỆN TUẦN GIÁO ......................18
1.2.1.Quá trình hình thành người Thái ở huyện Tuần Giáo ..........................18
1.2.2.Đời sống vật chất người Thái huyện Tuần Giáo ..................................24
1.2.3.Đời sống tinh thần.................................................................................27
Chương 2: NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN TUẦN
GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN ..................................................................................33
2.1. Nghề dệt ..................................................................................................33
2.1.1. Nguyên liệu ..........................................................................................34
2.1.2. Công cụ sản xuất ..................................................................................37
2.1.3. Quy trình sản xuất ................................................................................42
2.1.4. Sự phân công lao động.........................................................................46
2.1.5 Màu sắc hoa văn và các loại sản phẩm .................................................48
2.1.6. Thị trường tiêu thụ ...............................................................................52
2.2. Nghề đan lát ............................................................................................53
2.2.1. Nguyên liệu ..........................................................................................54
2.2.2 Kỹ thuật.................................................................................................56
2.2.3. Sự phân công lao động.........................................................................56
2.2.4 Các loại sản phẩm của nghề đan lát ......................................................57
2.2.5. Thị trường tiêu thụ ...............................................................................61
2.3. Nghề rèn ..................................................................................................61
2.3.1. Nguyên liệu ..........................................................................................62
2.3.2. Công cụ ................................................................................................62
2.3.3. Sự phân công lao động.........................................................................63
2.3.4 Các loại sản phẩm .................................................................................63
2.3.5.Thị trường tiêu thụ ................................................................................64
2.4. Vai trò của các nghề thủ công truyền thống trong đời sống kinh tế,
văn hóa – xã hội .............................................................................................64
hai dòng Thái Đen và Thái Trắng. Ngoài công việc chính là làm nương rẫy thì
họ còn có các nghề phụ (nghề thủ công) như nghề dêt, đan lát, rèn…để tăng
thu nhâp, cải thiện đời sống của mình. Họ sinh sống gần gũi với các dân tộc
1
khác như người Kinh, Tày… nhưng người Thái vẫn luôn giữ được những nét
riêng độc đáo của mình trong từng sản phẩm, đồng thời cung cấp các mặt
hàng cho các dân tộc khác, bên cạnh đó hiện nay hoạt động du lịch ngày càng
phát triển vì vậy các mặt hàng thủ công rất được ưa chuộng.
Xuất phát từ những lý do trên mà tác giả lựa chọn đề tài: “Nghề thủ
công truyền thống của người Thái ở huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên” làm
đề tài khoá luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quá trình nghiên cứu về dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung và hoạt
động kinh tế thủ công của người Thái ở Tuần Giáo, Điện Biên nói riêng đã đề
cập qua một số tài liệu tham khảo.
Từ thời kỳ phong kiến ở Việt Nam đã có các nhà Nho nói tới những
vấn liên quan đến người Thái như Nguyễn Trãi trong cuốn “Dư địa chí”,
“Kiến văn tiểu lục” của Lê Qúy Đôn, “Hưng Hóa xứ phong thổ lục” của
Hoàng Bình Chính,…miêu tả về phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của
người Thái ở Tuần Giáo và các vùng xung quanh.
Từ Cách Mạng Tháng 8/1945 đến nay các công trình “Sơ lược về sự
thiên di của các bộ tộc Thái vào Tây Bắc Việt Nam”, (1965), “Tư liệu về lịch
sử và xã hội dân tộc Thái” của giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, tác phẩm nêu
tường tận từ nguồn gốc, phong tục tập quán, luật lệ bản mường Thái Tây Bắc.
Bên cạnh đó là tác phẩm “Lịch sử Đảng bộ huyện Tuần Giáo”, Nxb,
nhà in tỉnh Lai Châu xuất bản năm 1995, 2006 đã cho thấy được khái quát về
đời sống văn hóa vật chất, tinh thần, các nghề phụ của gia đình…của người
cách cụ thể hơn về lịch sử, văn hóa đặc biệt là một số nghề thủ công truyền
thống của dân tộc Thái ở huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
3
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm khái quát và đi sâu vào nghiên
cứu một số nghề thủ công truyền thống của người Thái ở huyện Tuần Giáo,
tỉnh Điện Biên. Qua đó đánh giá vai trò của các nghề thủ công này trong đời
sống kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện.
3.2. Nhiệm vụ
Qua việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, dựa vào các nguồn
tài liệu đề tài tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng bức tranh toàn cảnh về nghề thủ công truyền thống của
người Thái ở huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Trình bày cụ thể rõ nét về nguồn gốc, nguyên liệu, quy trình sản xuất,
sự phân công lao động, các sản phẩm, thị trường tiêu thụ của các nghề dệt,
đan lát, rèn.
- Nhận xét và đánh giá về vai trò của các nghề thủ công truyền thống
của người Thái trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở huyện Tuần Giáo,
tỉnh Điện Biên.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Người Thái ở huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên nơi
tập trung sinh sống của người Thái đen và người Thái trắng.
Về mặt thời gian: nghề thủ công hiện nay vẫn được lưu truyền từ 1945
đến nay
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu.
Thứ ba, khóa luận mong muốn làm phong phú thêm vào việc nghiên
cứu vào các nghề thủ công của nước ta nói chung và người Thái nói riêng và
tài liệu có ích trong việc giảng dạy lịch sử địa phương.
5
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì khóa luận có 2 chương:
Chương 1: Khái quát về người Thái huyện Tuần Giáo, Tỉnh Điện Biên
Chương 2: Nghề thủ công truyền thống của người Thái huyện Tuần
Giáo, Tỉnh Điện Biên.
6
NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI HUYỆN TUẦN GIÁO,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
1.1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TUẦN GIÁO
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và dân cư
Vị trí địa lý:
Huyện Tuần Giáo nằm ở vùng Tây Bắc nước ta, là huyện cửa ngõ phía
Nam tỉnh Điện Biên, cách thủ đô Hà Nội 405km về phía Đông Nam, cách
thành phố Điện Biên Phủ 80km về phía Đông, Phía Đông huyện giáp với
Thuận Châu, Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La); phía Tây giáp với thành phố Điện
Biên Phủ và huyện Mường Chà; phía Nam giáp tỉnh Sơn La, huyện Điện
Biên; phía Bắc giáp huyện Mường Chà, huyện Tủa Chùa.
Huyện Tuần Giáo có quốc lộ 6 và quốc lộ 279 chạy qua (trong đó quốc
lộ 6 là tuyến đường giao thông nối liền Hà Nội – Hòa Bình- Sơn La- Tuần
Vùng thung lũng hẹp huyện Tuần Giáo chiếm 10% diện tích tự nhiên,
địa hình bị chia cắt, nằm rải rác ở các xã nhưng tập trung vào bốn khu vực
chính: khu Ba Ẳng, khu Búng Lao- Chiềng Sinh, khu Ba Quài – thị trấn, khu
Phình Sáng – Pú Nhung. Đất ở đây màu mỡ, thích hợp cho cây trồng và vật
nuôi. Đặc biệt là vùng Phình Sáng- Pú Nhung, Ba Ẳng và Tòa Tình có khả
năng thích ứng với sự sinh trưởng của hoa màu (ngô, đậu tương), phát triển
cây công nghiệp (chè, cà phê).
Vùng đồi thoải chiếm 25 – 27% diện tích toàn huyện.
Đất lâm nghiệp Tuần Giáo có 55.126,65 ha (trong đó đất có rừng tự
nhiên phòng hộ là 51.186,17 ha; đất có rừng phòng hộ là 3.940,48 ha). Trong
rừng có nhiều gỗ quý như: nghiến, lát, dổi, pơ mu… và nhiều dược liệu quý
hiếm. Đất rừng ở đây thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp có giá trị cao
(quế, hồi, trẩu, thảo quả, bông, lạc…) nhiều đồi cỏ, bãi bằng thích hợp cho
8
chăn nuôi gia súc (trâu, bò, ngựa, dê) góp phần thỏa mãn nhu cầu về thực
phẩm, sức kéo. Nghề trồng rừng và khai thác lâm sản đang từng bước được
thực hiện có hiệu quả.
Hệ thống sông suối của huyện Tuần Giáo khá dày đặc nhưng lưu lượng
và khối lượng dòng chảy không lớn đủ phục vụ tưới tiêu và không gây lụt lội
vào mùa mưa. Suối Tông Ma bắt nguồn từ đèo Pha Đin (xã Tòa Tỉnh) qua
Quài Nưa nhập thành dòng Nậm Mu(xã Mùn Chung) hòa vào sông Nậm Mùn
đổ ra sông Nậm Mức giáp với Mường Chà là một trong những cánh Hữu
Ngạn sông Đà ở phía Đông Bắc Tuần Giáo. Ba con suối Bản Phủ (xã Quài
Cang), Tòa Tỉnh và Tênh Phông qua Quài Tở gặp nhau ở thị trấn cùng với
suối Nậm Pùa, Nậm Cô hình thành một trong những nhánh chính của Thượng
nguồn sông Mã. Sông suối Tuần Giáo đã tưới tiêu cho hàng ngàn hecta lúa
màu, phục vụ sinh hoạt là nguồn thủy năng dồi dào với các trạm thủy điện
loại đất này rất thích hợp với những nhóm cây lương thực, thực phẩm, đặc
biệt là ngô, đậu…và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, bông, gai…
Khoáng sản: So với toàn tỉnh, huyện Tuần Giáo có tiềm năng khoáng
sản ít hơn về trữ lượng và thành phần, bao gồm chủ yếu là khoáng sản, vật
liệu xây dựng, khoáng kim loại nước khoáng và nước nóng
Vật liệu xây dựng: Tại Tuần Giáo có một số điểm đã đáp ứng cho yêu
cầu sản xuất xi măng song chưa được kiểm tra thăm dò.
Về khoáng sản kim loại: Chủ yếu là quặng sắt và bô xít. Quặng sắt có ở
Nậm Din, Đề Sấu, Háng Chua, Phàng Củ; quặng booxxit có ở Nậm Din (xã
Phình Sáng). Ngoài ra còn có chì, kẽm ở Phình Sáng, Mùn Chung.
Về nước khoáng: Nhóm nước khoáng bicobonat có ở bản Mu (xã quài
Quang); nhóm nước khoáng hỗn hợp có ở bản Sáng (xã quài Quang); nước
khoáng nóng có ở Ta Pao (xã Mường Mùn).
Hệ thống giao thông của Tuần Giáo khá thuận lợi. Đường quốc lộ số 6
(trước là đường số 41) là trục giao thông chính của huyện cùng nhiều đường
10
liên tỉnh, liên huyện nối địa phương với Sơn La – Hà Nội, thị xã Mường Lay.
Quốc lộ 279 (trước là đường số 42) nối Tuần Giáo với Điện Biên. Hệ thống
đường dân sinh liên bản, liên xã từ trung tâm huyện đi các xã Mường Đăng,
Pú Nhung, Phình Sáng…giữ một vị trí trọng yếu trong đời sống kinh tế - xã
hội của Tuần Giáo. Đến hết năm 2006 đã có 17 xã có đường nhựa, 4 xã có
đường cấp phối đến trung tâm. Một số tuyến đường liên huyện, liên xã được
khởi công, mạng lưới giao thông của huyện phát triển mạnh.
Dân cư: Trước năm 1954, huyện Tuần Giáo có dân cư thưa thớt quần tụ
trong các bản nhỏ. Tổng số dân chưa tới 12000 người.
Đến năm 1954, số dân toàn huyện là 18.129 người [27; 11]. Cuối năm
2005 đã tăng lên 108.500 gồm 21 dân tộc anh em. Trong đó Thái chiếm
châu. Theo “phong thổ lục” của Hoàng Bình Chính thì đầu triều Lê, ba Châu
Sơn La, Tuần Giáo, Mai Sơn được gọi là 3 động đều thuộc về Châu Thuận.
Họ Cầm từ đời này qua đời khác đều giữ chức vụ phụ đạo. Sự kiện chứng tỏ
Lai Châu (cũ) được nhà Lê quy vào bản đồ hành chính là 1431 (năm Lê Thái
Tổ trên đường kéo quân đánh đèo Cát Hãn, đã hành quân qua và ghi lại bài
thơ ở vách núi Huồi Chò gần thị xã Lai Châu: “Sơn xuyên nhập bản đồ, đề
thơ khắc đá núi trấn giữ Tây Việt ta”. Thời Lê Cảnh Hưng châu Tuần Giáo có
tên là Tuần Giáo, có nghĩa là “tuân theo giáo hóa của triều đình” vốn là một
động của Châu Thuận.
Dưới thời Lê, Mường Quài được chia làm 6 vùng (địa danh trong
ngoặc là tương đương với tên gọi hiện nay)
- Chiềng Cùn, Chiềng Khoang (Vùng ba quài: Quài Cang, Quài Tơ,
Quài Nưa và thị trấn Tuần Giáo)
- Chiềng On (Búng Lao, Lịch Lạn, Chiềng Sinh, Nà soy)
- Chiềng Ban (khu vực Ba Ẳng: Ẳng Cang, Ẳng Nưa, Ẳng Tở)
- Xôm (Mường Đăng)
12
- Luân Châu (Mường Mùn, Mùn Chung, Mường Báng, Mường Đun,
Mường Chiềng Thín).
- Các xã vùng cao, trung tâm là Pú Nhung
Dưới thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) tỉnh Hưng Hóa gồm
4 phủ (Gia Hưng, Quy Hóa, An Tuy, Điện Biên), 7 huyện (Tam Nông, Thanh
Sơn, Thanh Thủy, Văn Chấn, Yên Lập, Trần Yên, Cẩm Khê và 14 châu, Tuần
Giáo thuộc phủ Điện Biên. Như vậy tỉnh Hưng Hóa về sau chia thành 4 tỉnh:
Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai và phần lớn tỉnh Phú Thọ. Còn theo “các
tổng trấn xã danh bị lãm” viết đầu thời Nguyễn thì trấn Hưng Hóa có 3phủ
(Hưng Hóa, Gia Hưng, An Tuy). Tuần Giáo là một Châu thuộc phủ Gia
châu Điện Biên, phủ Tuần Giáo
Ngày 27/3/1916 thực dân Pháp thành lập đạo quan binh thứ 4 Lai Châu
gồm: Châu Lai, Châu Quỳnh Nhai, Sở Đại Lý và châu Điện Biên. Đạo quan
binh là một đơn vị hành chính theo chế độ quân quyền. Lúc đầu viên sĩ quan
đứng đầu có quyền ngang với thống sứ Bắc Kì, chịu sự chỉ đạo tối cao của
tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương. Từ sau 1908, viên sĩ quan này chỉ
ngang công sứ hàng tỉnh và chịu sự chỉ đạo tối cao của Thống sứ Bắc Kỳ.
Dưới đạo quan binh là tiểu quân khu. Các khu biên giới phía Bắc gồm:
Mường Tè, Mường Nhộ, Mường Bun và Mao Xá Phính (Sình Hồ được đổi
thành Sìn Hồ theo quy định số 13-CP ngày14/2/1967 của hội đồng chính
phủ). Sở Đại Lý và châu Điện Biên gồm 2 tổng châu Tuần Giáo và Sốp Cộp.
Chế độ quân quản ở tỉnh Lai Châu nói chung và châu Tuần Giáo nói riêng tồn
tại rất lâu, ngày 4/9/1943 chế độ quân quản ở Lai Châu mới bị bãi bỏ chuyển
sang chế độ cai trị hành chính.
Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công trong cả nước, song Tuần
Giáo cũng như các huyện khác của tỉnh Lai Châu hầu như không có khởi
nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân vì chưa có tổ chức Đảng lãnh đạo tại
địa phương. 10/10/1949, Ban cán sự tỉnh Lai Châu ra đời [16; 32]. Từ đây
14
phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc khác trong tỉnh đã có tổ chức
Đảng trực tiếp lãnh đạo. Chi bộ Tuần Giáo là tiền thân của chi bộ Đảng huyện
Tuần Giáo ngày nay.
1/8/1951, Ban Cán sự đảng huyện Tuần Giáo – Lai Châu được thành
lập. Tuần Giáo do liên ban cán sự Đảng Tuần- Lai trực tiếp lãnh đạo.
20/11/1952, huyện Tuần Giáo được bộ đội chủ lực giải phóng trong
chiến dịch Việt Bắc. Đồng bào các dân tộc của huyện được hưởng hòa bình.
Huyện Tuần Giáo lúc này gồm có 8 xã: Phường Ta Ma, Phình Sáng, Xá Nhè,
Tháng 12/ 2005, huyện Tuần Giáo gồm 19 xã và 2 thị trấn đó là các xã:
Ẳng Nưa, Ăng Tở, Ẳng Cang, Quài Cang,Quài Nưa, Quài Tở, Mùn Chung,
Mường Mùn, Nà Sáy, Chiềng Sinh, Tỏa Tình, Pú Nhung, Mường Lạn, Búng
Lao, Mường Thín, thị trấn Tuần Giáo, thị trấn Mường Ẳng.
14/11/2006 thành lập 3 xã: Xuân Lao, Nạm Dịch, Ngối Cáy, đổi tên thị
trấn Mường Ẳng thành thị trấn Mường Ăng. Cùng năm này tách thị trấn
Mường Ăng và 9 xã: Ẳng Cang, Ẳng Nưa, Ẳng Tở, Búng Lao, Mường Lạn,
Mường Đăng, Xuân Lao, Nặm Lịch, Ngối Cáy để thành lập huyện Mường
Ảng, huyện Tuần Giáo còn lại 1 thị trấn Tuần Giáo và 13 xã: Chiềng Sinh,
Mùn Chung, Mường Mùn, Mường Thín, Nà Sáy, Phình Sáng, Pú Nhung,
Quài Cang, Quài Nưa, Quài Tở, Ta Ma, Tênh Phông, Tỏa Tình.
Ngày 25-8-2012, thành lập 5 xã: Nà Tòng, Pú Xi, Rạng Đông, Chiềng
Đông, Mường Khong.
1.1.3. Điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội
Về kinh tế:
Trước cách mạng tháng Tám, ở Tuần Giáo nghề trồng trọt là nguồn
sống chủ yếu, trong đó nghề trồng lúa có vị trí hàng đầu. Nền kinh tế hái
lượm, săn bắn muông thú vẫn tồn tại, tính tự cấp, tự túc còn lệ thuộc nhiều
vào thiên nhiên, như câu nói của nhân dân địa phương “miếng cơm từ đất,
16
thức ăn ở rừng”. Ngoài ra, đồng bào các dân tộc còn làm nghề thủ công truyền
thống (đồ gốm, đan lát, dệt vải, rèn công cụ, làm giấy, chế thuốc súng…) vừa
phục vụ cho sinh hoạt vừa dùng để giao lưu, trao đổi. Có dân tộc vẫn sống du
canh du cư “ba ngày rời nhà, ba tháng rời bản”. Do vậy cuộc sống không ổn
định, đói rách triền miên.
Khi thực dân Pháp chiếm Tuần Giáo, công nghiệp hầu như không có gì,
thương nghiệp chỉ mang tính trao đổi chủ yếu là lâm sản, gia súc, gia cầm…,
Mông; múa tăng bu, hưn mạy của dân tộc Khơ Mú; lễ hội Sên Pang Ả của
dân tộc Kháng… đã góp phần làm phong phú nền văn hóa đa dạng, đậm đà
bản sắc dân tộc của huyện Tuần Giáo.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI HUYỆN TUẦN GIÁO
1.2.1. Quá trình hình thành người Thái ở huyện Tuần Giáo
Người Thái là một trong những dân tộc ít người có nhiều công sức
trong sự nghiệp xây dựng đất nước, điều đó thể hiện trong tâm thức “yêu bản,
mến mường”. Người Thái luôn coi quê hương của mình là một bộ phận của
quốc gia dân tộc Việt. Trong các truyền thuyết nói về đất tổ của mình họ có
nói đến vùng đất ba dải, chín con sông, nơi sông Đà gặp sông Hồng (hin xam
xẩu, nậm cẩu que, pá té tao). Có thể hình dung vùng đất rộng lớn này như là
hình rẻ quạt bao gồm miền hữu ngạn sông Hồng, miền lưu vực sông Đà, sông
Mã, sông Nậm U…kéo dài tới vùng Bạch Hạc ngày nay [13; 15]. Như vậy
lãnh thổ trong truyền thuyết này liền một dải với trung tâm nước Văn Lang
của các Vua Hùng. Theo “phong thổ lục” của Hoàng Bình Chính, đến thời Lý
Thái Tổ (1010), miền Tây Bắc được đặt tên là Châu Đằng và Châu Lâm Tây
đến “năm Long Chương Thiên Tự thứ 2 (1067), vào mùa xuân, Ngưu Hống
và Ai Lao lần đầu tiên đem vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi, đến
cống”.
18
Người Thái ở Tây Bắc có hai dòng Thái Đen và Thái Trắng. Hai nhóm
Thái này vừa mang những nét đặc trưng giống nhau vừa có những đặc điểm
riêng biệt. Huyện Tuần Giáo chủ yếu là Thái Đen và một phần Thái Trắng.
Sự hình thành nhóm Thái Trắng được lý giải qua các thư tịch cổ như
sau. Người Thái cư trú ở Mường Lay, Mường Tè, Phong Thổ, được gọi theo
tên người Hán đặt cho là “Bạch Tộc”. Còn theo khái niệm của người Hà Nhì
thì buổi đầu tiên ý nghĩa của sự phân chia đen trắng là sự phân chia khu vực
khối Bạch Man Tây Khoán họ đã đến thung lũng Mường Lay, Mường Tè
tương đối sớm. Người Mường Lay xưa cũng đã xác nhận tổ tiên xưa kia của
người Thái tự gọi là Phủ Tháy không phải là Thái như bây giờ. Nhóm Phủ
Tháy đến ở gần với người Pên, Co, Uni…Pên là tên của nhóm Lô Lô Penti
(Lô Lô bản địa). Co là tên người Thái gọi người La hủ. Uni là tên gọi chệch
cái tên của người Hà Nhì. “Tháy” và “Táy” đều có nghĩa giống nhau chỉ tên
tộc người Thái nhưng “Tháy” thường chỉ nhóm Thái ở Xíp Xoong Pắn Ná,
Thái Lan và Lào (còn gọi là Tháy Lừ). Bản thân người Thái ở Mường Lay
cũng công nhận tổ tiên của họ đến từ Xíp Xoong Pắn Ná. Họ đã giành mảnh
đất này từ tay thủ lĩnh người Uni (Hà Nhì), Pên, chính thế vùng đất này được
gọi là Mường Lay (Lay trong tiếng Thái có nghĩa là đuổi), tức địa danh này
mang ý nghĩa là đuổi chủ cũ đi để mình thay thế. Sau đó, người Thái sang Xíp
Xoong Pắn Ná mời một người họ Lò về làm “Tạo”. Nhân đó mà một số nhóm
Thái khác cũng về quần cư ở Mường So Luông. Khi đã phát triển đông đúc,
họ cùng với các dân tộc khác biến thung lũng Mường So, Mường Lự từ hoang
vu thành đồng ruộng màu mỡ.
Từ Mường So, một số nhóm Thái Trắng mới tiếp tục thiên di theo sông,
suối xuống Than Uyên, Văn Bàn, các miền dọc sông Hồng, xuống Mường
Hạ, Mường Mùn (Mai Châu- Hòa Bình). Như vậy nhóm Thái trắng thiên di
trước nhóm Thái Đen đến Nghĩa Lộ hồi thế kỉ XI – XII, vì theo Quắm Tố
20