Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Quảng Nam – PGD Nam Phước - Pdf 35

1

CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng
thương mại
1.1.1. Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp [4, tr.46]
Cho vay khách hàng doanh nghiệp là một hình thức cấp tín dụng, theo đó
tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc
và lãi.
Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay là
khoản thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến
thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Dựa vào thời hạn có thể chia cho
vay doanh nghiệp thành cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
 Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
 Cho vay trung hạn là khoản vay có thời hạn cho vay từ đến 12 tháng
đến 60 tháng.
 Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng
trở lên.
1.1.2. Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp


Các nguyên tắc vay vốn [4, tr.47]

Nhìn chung, khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo hai nguyên
tắc:


nào cũng có thể tuân thủ đúng các nguyên tắc này. Do vậy, để giúp cho việc
đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi khách
hàng thỏa mãn một số điều kiện vay nhất định. Các điều kiện vay vốn khách
hàng cần có bao gồm:


3

o Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
o Có mục đích vay vốn hợp pháp.
o Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
o Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.
o Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính
phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.


Quy trình cho vay [4, tr.27]
Quy trình cho vay là mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu

vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải
ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng. Hầu hết các ngân hàng thương mại đều
tự thiết kế cho mình một quy trình tín dụng cụ thể, bao gồm nhiều bước đi
khác nhau với kết quả cụ thể của từng bước đi. Quy trình tín dụng có thể tóm
tắt thành các bước như sau:
o Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
o Bước 2: Phân tích tín dụng
o Bước 3: Quyết định tín dụng
o Bước 4: Giải ngân
o Bước 5: Giám sát và thanh lý tín dụng



Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đặc điểm cơ bản của loại cho vay này

là một hồ sơ xin vay dùng để xin vay cho nhiều món vay. Cụ thể khách hàng
nộp hồ sơ vay vốn một lần vào đầu quý, dù trong quý khách hàng có nhiều
món vay cũng chỉ cần làm một hồ sơ duy nhất. Ngân hàng tiến hành phân tích
tín dụng và nếu đồng ý cho vay, hai bên tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng,
trong hợp đồng tín dụng ngân hàng sẽ xác định hạn mức tín dụng cho khách
hàng. [4, tr.59]
1.1.3.2. Phương thức cho vay trung và dài hạn [4, tr.72]
Mục đích của cho vay trung và dài hạn là nhằm đầu tư vào tài sản cố định
của doanh nghiệp hoặc đầu tư vào các dự án đầu tư, dựa vào mục đích vay đó,
ngân hàng có thể cho khách hàng vay vốn dài hạn để đầu tư mua sắm tài sản
cố đinh như máy móc thiết bị hoặc cho khách hàng vay vốn dài hạn đầu tư
vào một dự án đầu tư. Cho nên về phương thức cho vay dài hạn có thể là:


5



Cho vay mua sắm máy móc thiết bị



Cho vay dự án đầu tư

1.2. Thẩm định tài chính đối với doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng
thương mại

 Làm cơ sở tham gia góp ý, tư vấn cho khách hàng, tạo tiền đề đảm bảo
hiệu quả cho vay, thu được nợ gốc đúng hạn, hạn chế, phòng ngừa rủi ro.
 Làm cơ sở xác định số tiền vay, thời hạn cho vay, dự kiến tiến độ giải
ngân, mức thu nợ hợp lý, các điều kiện cho vay; tạo tiền đề cho khách hàng
hoạt động có hiệu quả và đảm bảo mục tiêu đầu tư của ngân hàng.
 Đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp xin cấp tín dụng.
 Đánh giá để đảm bảo tính đầy đủ và tính chính xác của thông tin trên
báo cáo tài chính của công ty.
1.2.1.3. Vai trò thẩm định tài chính doanh nghiệp
 Thẩm định tài chính doanh nghiệp giúp ngân hàng thương mại ra quyết
định đầu tư đúng đắn.
Thẩm định tài chính doanh nghiệp là phân tích hiện trạng tài chính và
các dự báo về tài chính của khách hàng nhằm tìm kiếm và tiên lượng các
trường hợp xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng. Như
vậy, thẩm định tài chính để quyết định đầu tư đúng đắn, quyết định phương
hướng, quy mô tài trợ vốn và khả năng thu hồi vốn. Vai trò quyết định đúng
đắn của ngân hàng sẽ là: có nên quyết định đầu tư hay không và nếu đầu tư thì
sẽ đầu tư như thế nào cho hợp lý và hiệu quả.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng với đối tượng kinh doanh là tiền tệ
vốn dĩ là hoạt động chứa nhiều rủi ro. Vì vậy để bảo tồn được vốn vay và đảm
bảo thu nhập cho mình các ngân hàng thương mại không thể không quan tâm
đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp trước khi tài trợ vốn. Các ngân
hàng thương mại chắc chắn sẽ không quan hệ tín dụng với khách hàng là
doanh nghiệp làm ăn trong tình trạng thua lỗ, phương án kinh doanh không
hiệu quả. Cùng với việc phân tích các khía cạnh khác, những doanh nghiệp có


7

tình hình tài chính lành mạnh, khả năng sinh lời cao và có triển vọng phát


 Thẩm định tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho việc đánh giá xếp loại
tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp trích lập dự phòng hợp lý.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro và đặc biệt là
rủi ro tín dụng. Vì vậy khi đã quyết định cấp tín dụng là đúng đắn và quyết
định giải ngân, ngân hàng luôn phải theo dõi, đánh giá, xếp loại các khoản
vay để có biện pháp phòng ngừa hợp lý. Thông thường ngân hàng thường
trích lập dự phòng rủi ro, dự phòng cho các khoản nợ xấu và nợ có vấn đề.
Việc trích lập dự phòng cũng được quy định trong luật các tổ chức tín dụng
của ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Để biết thêm nguồn đảm bảo cho hoạt động của mình các ngân hàng
thương mại còn trích lập dự phòng từ lợi nhuận ròng để lại, nhằm đảm bảo
cho hoạt động của ngân hàng được vững chắc, vì lợi ích và sự phát triển lâu
dài của ngân hàng.
Việc đảm bảo tốt chất lượng tín dụng không chỉ thể hiện ở cách thức giải
quyết những khoản được cho vay có vấn đề vì trên thực tế rủi ro là yếu tố tất
yếu luôn đi kèm với hoạt động của các ngân hàng thương mại.
 Thẩm định tài chính doanh nghiệp giúp ngân hàng xác định rõ triển
vọng của ngân hàng với doanh nghiệp trong tương lai.
Trong bối cảnh các tổ chức tài chính và phi tài chính đang có sự cạnh
tranh gay gắt để tồn tại và phát triển. Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và
khách hàng không dừng lại ở việc khách hàng cần vốn tìm cách tiếp cận với
ngân hàng để được cấp tín dụng, mà ngân hàng cũng phải tự xây dựng cho
mình một chiến lược maketing phù hợp để có thể duy trì quan hệ lâu dài đối
với khách hàng, duy trì lòng trung thành của doanh nghiệp đối với ngân hàng,
đảm bảo sự hợp tác phát triển lâu dài của cả hai bên. Vì vậy đối với một
khách hàng là doanh nghiệp khi ngân hàng đã xác định là có triển vọng và
tiềm năng thì chính sách áp dụng đối với doanh nghiệp đó cũng khác biệt,
ngân hàng còn là nhà tư vấn tài chính cho doanh nghiệp để tình hình tài chính



10

vốn hình thành các tài sản đó tại một thời điểm. Căn cứ vào bảng cân đối kế
toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán thể hiện phương pháp tổng hợp để lập báo cáo kế toán
đồng thời cũng thể hiện phương pháp cân đối của kế toán.
 Kết cấu
Bảng cân đối kế toán chia làm hai phần: phần tài sản và phần nguồn vốn.
Phần tài sản: Các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản
hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, theo cơ cấu tài sản và hình
thức tồn tại trong quy trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản
phân chia thành: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm
pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng ở doanh
nghiệp. Nguồn vốn chia ra: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
Hai bên của bảng cân đối kế toán phản ánh hai mặt khác nhau của tài
sản, một bên thể hiện giá trị, một bên thể hiện nguồn hình thành của giá trị,
nên giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Xét về mặt định
lượng thì bao giờ cũng có tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn.
1.2.2.2. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh [6, tr.48]
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của
doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có những đặc điểm sau:
 Được đo lường theo những nguyên tắc kế toán.
 Mang tính thời kỳ.
 Lãi, lỗ theo báo cáo này chính là lợi nhuận kế toán.



12

 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
 Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng.
 Các chính sách kế toán áp dụng
 Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán.
 Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế
toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
 Những thông tin khác.
1.2.3. Các phương pháp thẩm định tài chính doanh nghiệp
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc thẩm định tình hình tài
chính Công ty. Phương pháp thẩm định tài chính dựa vào mục đích và thẩm
định tài chính dựa theo loại phân tích. Đứng trên giác độ ngân hàng, thường
thẩm định tài chính dựa theo loại phân tích.
Sơ đồ 1.1: Khuôn khổ phân tích tài chính dựa vào loại phân tích[4,tr.210]
Phân tích tỷ số:







Tỷ số thanh khoản
Tỷ số nợ
Tỷ số chi phí tài chính
Tỷ số hoạt động
Tỷ số khả năng sinh lời
Tỷ số tăng trưởng

định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp,
nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động - phản ánh việc sử dụng tài nguyên, lao
động.., nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lãi - phản ánh hiệu quả sản xuất kinh
doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp. Mỗi nhóm chỉ tiêu lại bao gồm những
tỷ số riêng lẻ phản ánh từng bộ phận của hoạt động tài chính. Trong mỗi
trường hợp, tùy thuộc vào mục tiêu phân tích tài chính mà ngân hàng sẽ chú
trọng các chỉ tiêu khác nhau. Chẳng hạn đối với những khoản vay ngắn hạn,
ngân hàng đặc biệt chú ý đến khả năng thanh toán của người vay. Trong khi
đó, với những khoản vay dài hạn thì ngân hàng thường quan tâm nhiều đến
khả năng hoạt động, hiệu quả sản xuất - kinh doanh.
 Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để đánh
giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích.
Trong phân tích báo cáo tài chính, phương pháp so sánh thường được sử dụng
bằng cách so sánh ngang, so sánh dọc. So sánh ngang báo cáo tài chính là việc
so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên
từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính; còn so sánh dọc là việc sử dụng các
tỷ suất, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo
cáo tài chính và giữa các báo cáo để rút ra kết luận. Để áp dụng phương pháp
so sánh cần chú ý những điều kiện sau:
Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu: phải thống nhất về nội dung phản
ánh, về phương pháp tính toán, về thời gian và đơn vị đo lường.


14

Gốc so sánh: việc xác định gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích phân
tích. Gốc so sánh thường được xác định về mặt thời gian, không gian; về mặt
thời gian có thể lựa chọn kỳ kế hoạch, kỳ trước, cùng kỳ này năm trước hay
lựa chọn các điểm thời gian (năm, tháng, ngày cụ thể)...; về mặt không gian

phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp. Vì vậy, mức độ tin cậy của số liệu trong
các báo cáo tài chính doanh nghiệp cung cấp chưa được đảm bảo. Do đó,
thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính là cần thiết. Vấn đề là
thẩm định như thế nào để có thể đánh giá chính xác được độ tin cậy của các
báo cáo tài chính?
Đối với những khoản vay có giá trị lớn của những khách hàng lớn, vì
tính chất quan trọng của khoản vay, ngân hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp
cung cấp các báo cáo tài chính sau khi đã được kiểm toán. Trong trường hợp
này, cơ quan kiểm toán sẽ giúp ngân hàng đánh giá và chịu trách nhiệm về
mức độ tin cậy của số liệu trong các báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng đại đa số các trường hợp vay vốn khách
hàng đều không thể cung cấp các báo cáo tài chính đã qua kiểm toán. Do đó,
thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính trở thành công việc
thường xuyên của nhân viên tín dụng. Để thẩm định mức độ tin cậy của các
báo cáo tài chính, nhân viên tín dụng cần thực hiện các bước như sau :
 Nghiên cứu kỹ số liệu của báo cáo tài chính.
 Sử dụng kiến thức kế toán tài chính và kỹ năng phân tích để phát hiện
những điểm nghi ngờ hay những bất hợp lý trong các báo cáo tài chính.
 Xem xét bảng thuyết minh để hiểu rõ hơn về những điểm đáng nghi
ngờ trong báo cáo tài chính.
 Mời khách hàng đến thảo luận, phỏng vấn và yêu cầu giải thích về
những điểm đáng nghi ngờ phát hiện được.
 Viếng thăm doanh nghiệp để quan sát và nếu cần tận mắt xem lại tài
liệu kế toán và chứng từ gốc làm căn cứ lập các báo cáo tài chính. [4, tr.202]
1.2.4.2. Phân tích các báo cáo tài chính


16

Sau khi thẩm định đánh giá được mức độ tin cậy của báo cáo tài chính,


vào phương pháp khấu hao và cán bộ tín dụng cần đi kiểm tra trực tiếp để có
sự tham khảo giá trị thị trường.
Thứ hai, với danh mục nguồn vốn, cán bộ tín dụng chú ý đến các vấn đề
sau:
o Đối với nợ phải trả: Khi xem xét nợ phải trả của khách hàng, vấn đề
ngân hàng đặt ra là kiểm tra số tiền và kỳ hạn trả nợ. Nợ phải trả được chia
làm hai loại: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong
thời gian ngắn sắp tới thường là 1 năm hay một chu kỳ kinh doanh. Nợ ngắn
hạn bao gồm các khoản vay và nợ ngắn hạn, khoản phải trả, chi phí chưa
thanh toán, thuế và các khoản phải nộp nhà nước, nợ dài hạn đến hạn trả. Các
khoản vay ngắn hạn phản ánh tổng số tiền mà doanh nghiệp vay ngắn hạn của
ngân hàng, của các tố chức tín dụng khác. Cán bộ tín dụng cần có một danh
sách về các giấy nợ ghi rõ số tiền vay và tài sản đảm bảo cho khoản vay đó để
tránh tình trạng doanh nghiệp sử dụng một tài sản đảm bảo cho nhiều khoản
vay ở nhiều ngân hàng khác nhau.
Đối với nợ dài hạn, chú ý đến số tiền vay và thời hạn các khoản nợ dài
hạn. Tuy nhiên, cán bộ tín dụng thường không quan tâm nhiều như nợ ngắn
hạn nhất là đối với mục đích cho doanh nghiệp vay ngắn hạn. Các khoản nợ
dài hạn sẽ không gây khó khăn khi có nguồn tiền đầy đủ sẵn sàng để trả nợ
dài hạn.
Ngoài ra, ngân hàng còn quan tâm đến vị trí của mình trong danh sách
các chủ nợ của khách hàng. Nếu ngân hàng giữ vị trí quan trọng nhất thì khả
năng thu hồi nợ khi doanh nghiệp bị phá sản sẽ được ưu tiên hơn.
o Đối với vốn chủ sở hữu, đây là một khoản mục được chủ các ngân hàng
quan tâm. Việc tăng vốn chủ sở hữu là một biểu hiện của sự tiến bộ về tài
chính của doanh nghiệp, số vốn chủ cần thiết để cho vay an toàn sẽ biến đổi





19

được năng lực thanh toán hiện tại cũng như biết được sự biến động của từng
chỉ tiêu, từng khoản mục trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Đồng thời, cán bộ
tín dụng sẽ thấy được quan hệ lỗ (lãi) ròng với luồng tiền tệ cũng như các hoạt
động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính ảnh hưởng tới tiền tệ
ở mức độ nào, làm tăng hay giảm tiền tệ.
Khi phân tích cán bộ tín dụng phải xem xét sự vận động của dòng tiền.
Sự vận động đó được thể hiện ở ba bộ phận: dòng tiền từ hoạt động sản xuất
kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư, dòng tiền từ hoạt động tài chính.
Cán bộ tín dụng có thể tính ra tỷ trọng tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh so
với tổng lượng tiền lưu chuyển trong kỳ. Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo
tiền từ hoạt động kinh doanh so với các hoạt động trong kỳ là cao hay thấp.
Giá trị của chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ khả năng tạo tiền từ hoạt động
kinh doanh, cho thấy lượng tiền tạo ra chủ yếu từ hoạt động kinh doanh chứ
không phải hoạt động tài chính hay hoạt động đầu tư và ngược lại.
Tiếp theo tiến hành so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối giữa kỳ
phân tích với kỳ gốc trên các chỉ tiêu: lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính. Việc so sánh này
sẽ cho biết mức độ ảnh hưởng của lượng tiền lưu chuyển thuần trong từng
hoạt động đến chỉ tiêu lưu chuyển tiền tệ thuần trong kỳ. Cuối cùng cán bộ tín
dụng đi sâu vào so sánh tình hình biến động của từng khoản mục trong từng
hoạt động đến lượng tiền lưu chuyển giữa kỳ này với kỳ trước.
Thêm nữa, trên cơ sở báo cáo lưu chuyển tiền tệ cán bộ tín dụng có thể
thấy được mức ngân quỹ doanh nghiệp đang duy trì đã hợp lý chưa. Nếu số
ngân quỹ quá lớn tức là đã có một số vốn lớn không được đưa vào quá trình
sản xuất kinh doanh, làm giảm khả năng sinh lời. Nếu mức ngân quỹ quá nhỏ
thì sẽ khó đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn cho doanh nghiệp.

o Bước 3: Giải thích ý nghĩa của tỷ số vừa tính toán.
o Bước 4: Đánh giá tỷ số vừa tính toán (cao, thấp, hay phù hợp).


21

o Bước 5: Rút ra kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp. [4,
tr.211]
Các tỷ số tài chính
 Tỷ số khả năng thanh khoản [5, tr.83]
o Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp
được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành. Khả năng thanh
toán hiện hành thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản ngắn hạn với nợ ngắn
hạn. Đó là quan hệ giữa tổng tài sản ngắn hạn với tổng số nợ đến hạn. Nợ
ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh toán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải
dùng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ
phận tài sản thành tiền. Trong tổng tài sản mà doanh nghiệp hiện đang quản lý
và sử dụng thì chỉ có tài sản lưu động là có thể dễ dàng khi chuyển đổi thành
tiền.
- Công thức:
HTTHH =

𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛

- Ý nghĩa:
Hệ số thanh toán hiện hành cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản
ngắn hạn có thể chuyển đổi để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Từ
đó đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

ánh khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp trong thời gian ngắn.
Nhìn chung, hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong
việc thanh toán công nợ, vì vào lúc cần doanh nghiệp có thể buộc phải sử
dụng các biện pháp bất lợi như bán các tài sản với giá thấp để trả nợ. Tuy
nhiên, độ lớn của hệ số này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ
hạn thanh toán các món nợ phải thu.
o Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
HTTLV =

𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑡ℎ𝑢ế 𝑣à 𝑡𝑟ả 𝑙ã𝑖
𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑡𝑟ả 𝑙ã𝑖


23

Hệ số này đo lường khả năng sử dụng lợi nhuận của công ty để thanh
toán lãi vay. Hệ số này cho chúng ta biết rằng liệu số vốn đi vay có thể sử
dụng tốt đến mức nào, có thể đem lại lợi nhuận bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vay
hay không.
 Tỷ số đòn bẩy tài chính [5, tr.92]
Tỷ số đòn bẩy tài chính đánh giá mức độ mà một doanh nghiệp tài trợ
cho hoạt động kinh doanh bằng vốn vay. Khi một doanh nghiệp vay tiền,
doanh nghiệp luôn phải thực hiện một chuỗi thanh toán cố định. Vì vậy cổ
đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi chi trả cho các chủ nợ, nợ vay
xem như tạo ra đòn bẩy. Trong thời kỳ khó khăn, các doanh nghiệp có đòn
bẩy tài chính cao có khả năng không trả được nợ. Vì thế doanh nghiệp muốn
vay tiền, ngân hàng sẽ đánh giá xem doanh nghiệp có vay quá nhiều hay
không? Ngân hàng cũng xét xem doanh nghiệp có duy trì nợ trong hạn mức
cho phép hay không?
Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính để ấn

doanh nghiệp vay hay không, các ngân hàng nhìn vào tỷ số này để đánh giá
mức độ an toàn của các món nợ. Nếu tỷ số này cao thì rủi ro trong sản xuất
kinh doanh chủ yếu do các chủ nợ gánh chịu. Mặt khác, bằng cách tăng vốn
thông qua vay nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm quyền kiểm soát và điều
hành doanh nghiệp.
Khi sử dụng nhiều nợ vay tỷ suất lợi nhuận cao hơn tỷ lệ lãi vay thì
doanh nghiệp sẽ được lợi và ngược lại. Trong những thời kỳ kinh tế suy thoái,
doanh nghiệp nào sử dụng nhiều nợ vay thì có nguy cơ vỡ nợ cao hơn những
doanh nghiệp sử dụng ít nợ vay. Nhưng trong giai đoạn bùng nổ kinh tế,
những doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay sẽ có cơ hội phát triển nhanh hơn.
 Tỷ số khả năng hoạt động [10]
o Tỷ số hoạt động hàng tồn kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho.
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ.
- Công thức:
Vòng quay hàng tồn kho =
- Ý nghĩa:

𝐺𝑖á 𝑣ố𝑛 ℎà𝑛𝑔 𝑏á𝑛
𝐻à𝑛𝑔 𝑡ồ𝑛 𝑘ℎ𝑜 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛


25

Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để
đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số
này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược
lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý,
hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status