Đạo đức ho giáo và ảnh hưởng
của nó đối với đạo đức xã hội Việt am /
guyễn Thị Thủy
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo ra đời ở Trung Quốc thời cổ đại, do Khổng Tử (551 - 479
TCN) sáng lập. Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ trước công nguyên.
Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam, đặc biệt là từ
thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận,
sử dụng Nho giáo làm cơ sở cho hệ tư tưởng, làm công cụ trị nước, giáo dục,
đào tạo con người cho phù hợp với yêu cầu, mục đích của giai cấp phong
kiến thống trị.
Với tính cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, Nho giáo
đã ảnh hưởng tới nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và
con người Việt Nam. Trong đó có một lĩnh vực rất cơ bản là đạo đức Nho
giáo. Dấu ấn đạo đức Nho giáo ở Việt Nam được thể hiện trong lịch sử tư
tưởng, trong lĩnh vực chính trị - đạo đức, trong lĩnh vực đào tạo và đánh giá
con người.
Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới (1986) đến nay, bên cạnh
những thành tựu lớn về kinh tế, về đời sống, về nhận thức chủ nghĩa xã hội
thời kì quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chúng ta còn bộc lộ những
yếu kém. Trong các yếu kém ấy, có nhiều yếu kém về đạo đức. Nguyên
nhân sự yếu kém về đạo đức, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng có nguyên
nhân lịch sử là do ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo.
Có người cho rằng do ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo; có người cho
rằng do chúng ta phê phán, bài xích Nho giáo; có người nêu lên giải pháp
hiện nay ta cần áp dụng triệt để công thức công nghệ chủ nghĩa tư bản với
mô hình quản lý xã hội của các nước phát triển có truyền thống Nho giáo.
Qua đó cho thấy việc đánh giá ảnh hưởng của Nho giáo nói chung, đặc biệt
là đạo đức Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử và hiện nay có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Có như
vậy, chúng ta mới thực hiện được “quan điểm phát triển” kinh tế, văn hóa,
về Ngũ luân, Ngũ thường.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đem lại nhiều bổ ích cho
những người quan tâm và nghiên cứu Nho giáo. Tuy nhiên, do nhiều điều
kiện chi phối, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệ thống ảnh
hưởng của đạo đức Nho giáo đến đạo đức xã hội Việt Nam. Vì vậy, việc tiếp
tục nghiên cứu vấn đề trên là đòi hỏi của thực tiễn.
Thứ hai, nghiên cứu ảnh hưởng của ho giáo vào Việt am từ đầu công
nguyên, đặc biệt là từ khi nước ta giành được độc lập dân tộc đến đầu thế kỷ
XX. Theo hướng này, các tác giả Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Vũ Khiêu,
Phan Đại Doãn, Nguyễn Tài Thư, Trần Đình Hượu, Chương Thâu, Cao Huy
Đỉnh, Lê Văn Lan, Đặng Thai Mai, Lê Sỹ Thắng, Nguyễn Khắc Viện,
Nguyễn Đức Sự, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đức Qùy, Chu Đình Xương,
Nguyễn Thanh Bình đã công bố các kết quả được viết thành sách hoặc bài
đăng các tạp chí đem lại nhiều bổ ích cho những ai quan tâm, nghiên cứu
Nho giáo. Các tác giả cho rằng ảnh hưởng của Nho giáo vào Việt Nam từ
đầu công nguyên, đặc biệt là từ thế kỉ XI đến thế kỷ XIX. Nội dung ảnh
hưởng bao gồm chính trị, đạo đức, giáo dục là đậm nét nhất. Riêng ảnh
hưởng của đạo đức Nho giáo, cuốn Tư tưởng phương Đông gợi những điểm
nhìn tham chiếu của cố giáo sư Cao Xuân Huy cho rằng: “Nho giáo là hình
thái ý thức của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến ở Trung Quốc và
3
Việt Nam”. Trong đó, “ngũ luân, ngũ thường hay tam cương, ngũ thường là
những cái tuyệt đối, hằng tồn, phổ biến”. Cuốn Bản sắc văn hóa Việt am,
giáo sư Phan Ngọc cho thấy các phạm trù chính trị - đạo đức cơ bản của
Nho giáo như: Trung, hiếu, nhân, nghĩa, nhà, nước khi vào Việt Nam đã
bị khúc xạ, đã được người Việt Nam tiếp và biến nó. Vì vậy, các phạm trù
này ở các nhà Nho Việt Nam có nội dung rộng, phong phú hơn, mang nhiều
yếu tố nhân văn hơn. Nhờ vậy, Nho giáo mới đóng một vai trò quan trọng
lại. Bài “Góp phần phê phán lễ giáo phong kiến” của giáo sư Hà Thúc Minh
đã chỉ rõ thực chất của phạm trù lễ là sự ràng buộc, đè nén, kìm hãm hoạt
động và nhu cầu của con người; là sự tượng trưng cho sự giáo điều, đẳng
cấp; là phương tiện cứu cánh của Nho giáo. Tàn dư của lễ giáo ở Việt Nam
vẫn còn, cần phải phê phán. Bài “Cha ông ta đã tiếp thu những gì tích cực ở
các ý thức hệ phong kiến của Trung Quốc” của Trương Chính đã gợi mở
cho chúng ta một cách kế thừa những yếu tố tích cực của Nho giáo về vấn
đề con người, đạo làm người trên cơ sở thực tiễn xã hội Việt Nam. Những tư
tưởng Nho giáo vì dân, trọng dân cũng được cha ông ta kế thừa nhằm hạn
chế quyền lực của giai cấp thống trị. Tuy vậy, trong hướng nghiên cứu này,
chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống ảnh hưởng của
đạo đức Nho giáo đối với đạo đức xã hội Việt Nam. Vì vậy, kế thừa các kết
quả đã có, việc tiếp tục nghiên cứu theo hướng của đề tài luận văn xác định
là cần thiết, góp phần cho xu hướng nghiên cứu này toàn diện hơn.
Với tên đề tài đã được xác định, luận văn sẽ đi sâu trình bày hệ thống
nội dung đạo đức Nho giáo, hệ thống đạo đức xã hội Việt Nam có: đạo đức
Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống Việt Nam và đạo đức mới Việt
Nam. Trên cơ sở ấy trình bày những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối
với đạo đức truyền thống và đạo đức mới của xã hội Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
- Làm rõ nội dung đạo đức Nho giáo; nội dung đạo đức Nho giáo Việt
Nam; nội dung đạo đức truyền thống, đạo đức mới của Việt Nam.
- Làm rõ những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức
truyền thống và đạo đức mới của Việt Nam.
* hiệm vụ: Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn nhằm làm rõ:
- Nội dung đạo đức Nho giáo
- Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống Việt Nam.
mối quan hệ giữa đạo đức Nho giáo với đạo đức xã hội Việt Nam, làm rõ sự
khác biệt của đạo đức xã hội Việt Nam. Chính sự khác biệt ấy là bản sắc đạo
đức của dân tộc Việt Nam.
- Luận văn dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ học tập, nghiên cứu,
giảng dạy học tập Nho giáo cũng như triết học phương Đông và lịch sử tư
tưởng Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1. Đạo đức Nho giáo
Chương 2. ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền
thống Việt Nam
Chương 3. ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức mới Việt
Nam.
6
Chương 1
ĐẠO ĐỨC HO GIÁO
1.1. Điều kiện ra đời đạo đức ho giáo
1.1.1. Cơ sở kinh tế - xã hội của sự hình thành đạo đức ho giáo
Thời cổ đại Trung Quốc đã trải qua các triều đại: Nhà Hạ, nhà Thương,
nhà Chu. Nhà Hạ khoảng thế kỷ XXII đến thế kỷ XVII TCN. Nhà Thương
khoảng tử thế kỷ XVIII đến thế kỷ XII TCN. Nhà Chu từ 1135 đến năm 221
TCN. Nhà Chu được chia thành hai thời kỳ: Tây Chu, khoảng từ 1135 - 770
TCN và Đông Chu khoảng từ 770 - 221 TCN. Xã hội Tây Chu là xã hội
thịnh vượng về kinh tế, ổn định về chính trị - xã hội; đạo đức, kỷ cương
được giữ vững.
Thời Đông Chu (hay còn gọi là thời Xuân Thu - Chiến Quốc) là thời kỳ
học và tôn giáo, trong đó có đạo lý triết học chính trị, đạo đức của N ho giáo.
1.1.2. Cơ sở tư tưởng của sự hình thành đạo đức ho giáo
Thời Tây Chu, tôn giáo, chính trị, đạo đức đã ra đời. Về tôn giáo, thời Tây
Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờ thượng đế”, “trời
người hợp nhất”. Họ cho rằng, “trời” là là lực lượng có nhân cách, có ý chí và
uy quyền tuyệt đối. Về chính trị, các nhà tư tưởng Tây Chu dựa vào tư tưởng
tôn giáo xây dựng quan điểm chính trị phản động cho rằng triều đại nhà Chu
do biết làm theo “mệnh trời”, “trời” nên được “nhân dân” từ tay nhà Ân để
“hưởng dân” và “nhận dân”. Ai chống lại “mệnh trời”, “ý trời” thì nhà Chu sẽ
trừng phạt. Vua nhà Chu là thiên tử, thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân. Vì
vậy, dân phải phục tùng vua. Về đạo đức, các nhà tư tưởng Tây Chu lấy hai
chữ “đức” và “hiếu” làm cốt để tuyên truyền, củng cố sự tồn tại vĩnh viễn địa
vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu. Họ cho rằng các bậc tiên vương nhà
Chu có đức nên thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân. Vì vậy, các vua sau
phải kính cái đức ấy, phải bồi dưỡng cho con cháu phải thờ tổ tiên, nhớ công
lao tổ tiên, giữ gìn phép tắc tổ tiên, đó là đức Hiếu. Có được đức hiếu mới
nhận được mệnh trời mà hưởng nước, hưởng dân mãi mãi. Quan điểm đạo
đức này là cơ sở góp phần hình thành đạo đức N ho giáo sau này. N ho giáo ra
đời tiếp nhận các tư tưởng trên của Tây Chu là tiếp nhận một phương thức
chính trị mà giai cấp thống trị Tây Chu đã thực hiện là sử dụng thần quyền để
củng cố, sử dụng vương quyền trong việc cai trị đất nước. Đến thời Đông Chu,
N ho giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, liên hệ mật thiết với đời
sống kinh tế, phản ánh đời sống kinh tế - xã hội thời bấy giờ. Để khắc phục
tình trạng xã hội rối loạn, nhằm đưa xã hội vào trạng thái ổn định, phát triển,
N ho giáo một mặt thừa nhận, sử dụng thần quyền, đồng thời mặt chủ yếu là
khẳng định địa vị vương quyền đứng trên thần quyền, khẳng định vai trò, vị trí
của con người trong biến đổi lịch sử.
N ho gia nêu lên chủ trương cơ bản để quản lý xã hội này là đường lối trị
nước "đức trị". “Đức trị” là tư tưởng về đường lối cai trị đất nước, quản lý
xã hội trên cơ sở chuNn mực đạo đức. Vai trò của đạo đức trong quản lý xã
Thứ hai: Bản tính con người là ác, đại biểu cho quan niệm này là Tuân Tử.
Thứ ba: Bản tính của con người không thiện, không ác, đại biểu cho
quan niệm này là Cáo Tử.
Thứ tư: Bản tính con người có cả thiện và cả ác. Đây là quan niệm của
các nhà N ho từ thời Hán về sau.
Đạo của con người, đó là con đường để con người trở thành người.
hân nghĩa với tính cách là đạo của con người không thể hiểu thông
thường. N hân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung và bất nhân là
ác, bất nghĩa là bạc. Đạo của con người có ý nghĩa rất lớn đối với tính của
con người. Đạo của con người phù hợp với tính phú của con người do trời
9
phú, do con người sáng lập nên có chức năng dẫn dắt tính của con người,
không để tính ác của con người do “tập” làm biến chất.
Đức của con người liên hệ mật thiết với đạo. Con đường đi từ đạo đến
đức của N ho giáo không phải là con đường bằng phẳng, dễ dàng. Bao quát
các mối quan hệ, N ho giáo nêu lên 10 đức: Cha từ, con hiếu, anh lành, em
đễ, chồng có nghĩa, vợ có nghĩa, trưởng có ân, ấu ngoan ngoãn, vua nhân,
tôi trung.
1.2.2. ội dung cơ bản của đạo đức ho giáo
1.2.2.1. Luân thường
Trong xã hội phong kiến, quan hệ giữa người với người được gọi là
nhân luân. Các bậc vua chúa, giai cấp quý tộc và các nhà N ho trong xã hội
phong kiến gọi trật tự, thứ bậc và quan hệ giữa vua và tôi, cha và con, chồng
và vợ, anh em và bạn bè là ngũ luân; đồng thời họ cho rằng ngũ luân là biểu
hiện của lý trời trong đời sống xã hội con người, là đạo lý vĩnh hằng, không
thể biến đổi cho nên gọi là Luân thường.
Từ phương diện đạo đức, N ho giáo đề cập đến mối quan hệ giữa người
nói đến tản mạn trong Kinh thư, Kinh thi, đặc biệt là trong Luận ngữ của
Khổng Tử với các phạm trù nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, hiếu, trung, đễ và
trong quan điểm của Mạnh Tử với tư tưởng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
ĐỨC HÂ
- Ý nghĩa luân lý của hân:
+ hân là đức ở tâm.
+ hân là lòng yêu thương người.
+ hân là lòng cung kính, là đức hiếu thuận.
+ hân là gốc của nghĩa.
- Ý nghĩa bao quát của hân: Có thể thi hành năm điều cho thiên hạ, đó
là nhân, ấy là tự mình phải cung, khoan, tín, mẫu, huệ.
- Công dụng xã hội và chính trị của nhân: N hân là lòng yêu người hay
là lòng trắc Nn. N hân là cái bao hàm mọi đức.
ĐỨC GHĨA
- " ghĩa" là việc nên làm hay điều ta phải làm đúng theo đạo lý, đúng
bổn phận, không vì một cái gì hay việc theo đường lối phải và lòng hào hiệp
của con người.
- ghĩa là tiêu chu n của hành vi
- ghĩa là kỷ cương của mọi việc
N ếu đức nhân thể hiện trong mối quan hệ với người khác thì đức nghĩa
thể hiện trong khi tự vấn lương tâm mình. N ghĩa đen của từ nghĩa rất rộng, là
điều nên nói, việc nên làm. N ói điều gì đó, làm việc gì đó mà thấy thảnh thơi,
thoải mái, hứng thú trong lương tâm thì điều nói, việc làm đó là điều nghĩa,
việc nghĩa, không nói điều ấy, không làm việc ấy thì thấy bứt rứt trong lương
tâm, như thế là có điều nghĩa không nói, có việc nghĩa không làm.
ĐỨC LỄ
“Lễ” nguyên nghĩa là kính trời, thờ quỷ thần, tôn thờ tổ tiên, cầu phúc
đức, một dạng văn hóa tinh thần mang màu sắc lễ nghi tôn giáo ở Trung
Quốc cổ đại. Sau đó được mở rộng về nội dung và tính chất của nó và lễ
11
ĐỨC TÍ
Đức tín là đức trong ngũ thường với ý nghĩa cơ bản là thành thực, tin
tưởng, tín nghĩa.
N ội dung trước hết của tín là thành thực. Luận ngữ viết: “Bậc quốc
trưởng cai trị một nước có ngàn cỗ xe, làm việc gì cũng phải kính cNn mà
giữ chữ tín thật, của cải dùng tiết kiệm và thương yêu tất cả mọi người,
khiến dân chúng phải đúng thời, đúng lúc”; “người mà không nói thật,
không biết người ấy làm việc gì cho nhanh được”.
12
ội dung thứ hai, tín là gốc của lễ, là đầu mối của quan hệ bạn bè. Luận
ngữ viết: Tử Lộ nói: “Tôi muốn nghe chí của thầy”, Khổng Tử đáp: “Ta muốn
cho người già cả được yên vui, cho bạn bè có lòng tín nghĩa, muốn trẻ nhỏ
được đùm bọc”; “trước kia nghe lời người ta nói mà tin tưởng vào việc làm
của họ. N ay, ta nghe lời người ta nói, ta phải quan sát hành động của họ”.
Trong ngôn ngữ của Khổng Tử và Mạnh Tử, trung hay đi đôi với tín,
thể hiện lòng thật thà hay là thành thực, là đức của đạo bằng hữu.
13
Chương 2
Ả H HƯỞ G CỦA ĐẠO ĐỨC HO GIÁO
ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀ THỐ G VIỆT AM
2.1. Đạo đức ho giáo Việt am và đạo đức truyền thống Việt am
2.1.1. Đạo đức ho giáo Việt am
2.1.1.1. Sự truyền bá đạo đức ho giáo vào Việt am
ho giáo du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc (bắt đầu từ năm 179
TCN đến tận năm 905 SCN ) thông qua đội quân xâm lược và sự áp đặt văn
nhằm tách biệt hoàng đế, hoàng tộc lên cả “thần dân trăm họ”.
Qua quá trình truyền bá đạo đức N ho giáo vào Việt N am trong lịch sử,
ta thấy một số đặc điểm:
Thứ nhất, quá trình diễn ra sự truyền bá đạo đức N ho giáo gắn liền với
quá trình đạo đức Phật giáo và Đạo giáo.
Thứ hai, sự truyền bá đạo đức N ho giáo phát triển chủ yếu ở thời kỳ đất
nước giành được độc lập dân tộc. Sự truyền bá đạo đức N ho giáo không diễn
ra một chiều mà thông qua sự đấu tranh với nền đạo đức truyền thống của
dân tộc, cho nên dân tộc ta chủ động lựa chọn những mặt tích cực của đạo
đức N ho giáo để kế thừa. Do đó, đạo đức N ho giáo khi vào Việt N am đã trở
thành đạo đức ho giáo ở Việt am.
2.1.1.2. ội dung đạo đức ho giáo Việt am qua các thời kì lịch sử và
đặc điểm của nó
- Thứ nhất, cha ông ta rập khuôn ngũ luân và ngũ thường của ho giáo
để làm khuôn phép cho các mối quan hệ xã hội.
- Thứ hai, dân tộc ta đã tiếp nhận, vận dụng quan điểm nhân nghĩa của
ho giáo làm nguyên tắc xử thế
- Thứ ba, lễ giáo phong kiến Việt am
- Đặc điểm của nội dung đạo đức ho giáo Việt am
Thứ nhất, các nhà tư tưởng Việt N am thời phong kiến tiếp nhận và sử
dụng tư tưởng đạo đức N ho giáo thời Hán của Đổng Trọng Thư và thời
Tống của các nhà họ Trình và họ Chu. Tuy nhiên, do xuất phát từ thực tiễn
kinh tế - xã hội Việt N am nên đạo đức N ho giáo Việt N am không mang tính
chất khắt khe, nghiêm ngặt như Hán N ho, không rườm rà, chi tiết, tỉ mỉ như
Tống N ho.
Thứ hai, song song với việc tiếp nhận đạo đức N ho giáo, dân tộc ta còn
tiếp nhận nhiều khía cạnh của đạo đức Phật giáo với những nội dung “từ bi
hỷ xả”, “nhẫn nhịn”... Vì vậy, đạo đức thời phong kiến Việt N am có sự giao
thoa, ảnh hưởng của các quan niệm đạo đức N ho - Phật - Đạo.
Thứ ba, đạo đức N ho giáo Việt N am là một sản phNm của quá trình kế
lĩnh vực gia đình, thôn xã của xã hội nông nghiệp.
- Thứ năm, sự sụp đổ của N ho giáo và sự phát triển của đạo đức truyền
thống thành đạo đức cách mạng.
2.1.2.2. hững truyền thống đạo đức cơ bản của dân tộc Việt am
- Thứ nhất, truyền thống yêu nước
Yêu nước là một truyền thống đạo đức ăn sâu vào con người Việt N am
qua nhiều thế hệ, bắt đầu từ thời Vua Hùng dựng nước. Truyền thống yêu
nước Việt N am ra đời và được củng cố, phát huy cùng với sự ra đời của đất
nước, sự phát triển, trường tồn của dân tộc suốt mấy ngàn năm. Truyền
thống yêu nước là biểu hiện tình cảm, ý chí, hành động của con người Việt
N am từ thế hệ này qua thế hệ khác trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc.
- Thứ hai, truyền thống nhân nghĩa
16
N hân nghĩa là truyền thống đạo lý rất cao thượng của dân tộc ta, thể
hiện đạo đức của các thế hệ người Việt N am từ xưa đến nay luôn được duy
trì, phát triển.
- Thứ ba, truyền thống cần cù, sáng tạo
Dân tộc Việt N am hình thành, phát triển trong điều kiện tự nhiên, xã hội
có nhiều khó khăn. Để tồn tại và phát triển, người Việt N am từ thế hệ này
đến thế hệ khác đã phải lao động cần mẫn và luôn sáng tạo để chiến thắng
khó khăn, chiến thắng kẻ thù. Đồng thời với những chiến thắng để tồn tại và
phát triển, dân tộc ta đã sáng tạo nên một nền văn hóa phong phú, góp phần
phát triển nền văn hóa thế giới.
- Thứ tư, truyền thống đoàn kết cộng đồng
Đoàn kết cộng đồng bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, là biểu hiện
của truyền thống yêu nước. Việt N am là quốc gia có điều kiện tự nhiên và vị
một xã hội có giai cấp và tồn tại nhiều mối quan hệ vẫn giữ được tâm hồn
cao thượng. Suy đến cùng, đạo làm người ấy bao gồm trong hai chữ nhân
nghĩa.
- Thứ ba, trong N ho giáo có nhiều điểm có tác dụng hạn chế quyền lực
của giai cấp thống trị, có lợi cho dân như tư tưởng “trọng dân”, “thân dân”,
“dung dân”... Cha ông ta đã dựa vào những tư tưởng đó để đấu tranh nhằm
hạn chế sự thống trị, bóc lột của giai cấp thống trị.
- Thứ tư, từ những điều học được, các nhà N ho Việt N am đã ứng dụng
vào hoàn cảnh trước mắt của Việt N am để giải quyết các vấn đề Việt N am.
N hờ những điều học được của Khổng Mạnh mà trong lịch sử đã xuất hiện
nhiều nhà N ho yêu nước, có thể chết vì nước, có thể từ chối quyền cao chức
trọng mà sống nghèo khổ trong xóm làng với mảnh vườn và dăm ba người
học trò, có thể bỏ các hôn quân bạo chúa mà giúp các cuộc khởi nghĩa của
nông dân. N ếu viết sách, làm văn thì họ có tiêu chuNn để đánh giá giai cấp
thống trị, phê phán chúng, bóc trần, vạch tội ác của chúng, tố cáo bọn tham
quan, ô lại...
2.2.2. hững ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức ho giáo đối với đạo
đức truyền thống Việt am
- Thứ nhất là sự tác động tiêu cực của lễ giáo phong kiến
- Thứ hai, N ho giáo củng cố ở nhân dân ta tư tưởng về tính vĩnh cửu của
chế độ phong kiến
- Thứ ba, N ho giáo giam con người trong một trậi tự, tôn ti phong kiến
chặt chẽ từ trên xuống dưới. Cuộc sống lâu ngày, trong hoàn cảnh như vậy
đã nuôi dưỡng trong toàn thể xã hội một đầu óc tôn ty, trật tự, khuyến khích
sự truy cầu công danh, địa vị.
- Thứ tư, đánh giá con người không đúng tiêu chuNn
- Thứ năm, tư tưởng coi khinh lao động chân tay
- Thứ sáu, tư tưởng coi thường phụ nữ
18
Tư tưởng này đã kế thừa truyền thống nhân nghĩa cao cả của dân tộc
cũng như tinh thần nhân đạo của nhân loại. Đây là một tình cảm rộng lớn,
trước hết giành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức,
bóc lột. Khi đặt chân lên đất Pháp, N gười nhận thấy: ở nước Pháp cũng có
người nghèo như nước ta.
- Thứ ba: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
PhNm chất đạo đức này thể hiện rõ nhất thông qua hoạt động thực tiễn,
qua cuộc sống hàng ngày của con người. N gười giải thích những đức này rất
rõ ràng.
"Cần" tức là cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng
suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, ỷ lại,
dựa dẫm vào người khác.
"Kiệm" là tiết kiệm, tiết kiệm thời gian, tiền của và lao động, không xa
xỉ, không hoang phí, bừa bãi, không phô trương, hình thức.
20
“Cần” và “kiệm” phải đi đôi với nhau. “Cần” mà không kiệm không có
nghĩa lý gì. “Kiệm” mà không “cần” cũng không ích chi, không khác gì làm
ngần nào, xào ngần ấy.
"Liêm" là liêm khiết, trong sạch, “không xâm phạm một đồng xu, hạt
thóc của N hà nước, của nhân dân”, không tham lam, hủ hóa, tham địa vị.
Không tham tiền tài của người khác, không ham người khác tâng bốc mình.
N gười đã chỉ ra ba căn bệnh cơ bản mà người cán bộ thường mắc phải:
Một là: Đặc quyền đặc lợi
Hai là: Bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu
Ba là: Bệnh “tư túng”, “chia rẽ”, “kiêu ngạo”
"Chính" là không tà, là thẳng thắn, chính trực
Đối với mình phải: không tự cao tự đại, phải chịu khó học hỏi, luôn tự
của mỗi đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội. Quan điểm đó
là thái quá, không đúng.
- N gười nhấn mạnh nhiều lần vai trò gương mẫu của cán bộ, Đảng viên:
“Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính” và “mình
trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng
năng được”. Hồ Chí Minh nhiều lần giáo dục cán bộ, đảng viên, những
chiến sĩ cách mạng của mình rằng phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”,
“cái sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng,
thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước”. Cũng như vậy, N gười
động viên thanh niên rằng: “Gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi
người”.
Trong hệ thống phạm trù “đức” của N ho giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
tiếp nhận hai phạm trù trung và hiếu. Trung và hiếu là hai đức tính tốt trong
quan hệ vua - tôi, cha - con, hai quan hệ đứng đầu trong quan hệ xã hội (ngũ
luân).
Trong rất nhiều trường hợp cụ thể Hồ Chí Minh đã sử dụng cụ thể
những câu chữ và những khái niệm quen thuộc của N ho giáo để nói lên
những phNm chất tối thiểu mà con người Việt N am cần đạt tới. N gười cũng
đã chỉ ra nhiệm vụ của từng người trong quân đội là phải “trí, dũng, nhân,
tín, liêm, trung”
N ho giáo ra đời, phát triển trong chế độ xã hội phong kiến, nó có rất
nhiều hạn chế song theo phương châm của Hồ Chi Minh cũng như của cha
ông trước đây, ta có thể tiếp nhận được “nhiều cái hay”, nhất là vấn đề đạo
đức để góp phần xây dựng đạo đức mới theo tinh thần của Đại hội Đảng X
và XI.
3.2.2. hững ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức ho giáo đối với đạo
đức mới Việt am
Chế độ phong kiến đã tồn tại trong hàng ngàn năm ở nước ta. Bổ sung
cho sự bóc lột về kinh tế và áp bức về chính trị, giai cấp phong kiến hết sức
chú trọng sử dụng đạo đức, nhất là đạo đức ho giáo làm công cụ nô dịch
nghiêm minh.
3.2.2.3. Tư tưởng trọng quan khinh dân là cơ sở của những quan liêu
thư lại hiện nay
Từ thế kỷ X đến XIX, nước ta là một nước phong kiến theo N ho giáo.
Thể chế chính trị - kinh tế - xã hội có thể tóm tắt là:
Hoàng đế chuyên chế + làng, họ + hộ gia đình làm kinh tế tự túc và
cống nạp. Cơ chế đó tạo ra trong xã hội các nhân vật: vua, quan, lại, thân sĩ,
hào cường với bốn giai tầng nhân dân: sĩ, công, nông, thương. Trong thực tế
xã hội có hai nhân vật quan trọng nhất là: nhà N ho và nông dân.
Trên cơ sở thực tế của tầng lớp sĩ phu, N ho giáo đưa ra mô hình nhân
cách “người quân tử" và đối lập là “đứa tiểu nhân".
Quân tử và tiểu nhân là cặp phạm trù có ý nghĩa đạo đức và chính trị xã hội của N ho giáo. Tiểu nhân nguyên nghĩa để chỉ những người nhỏ mọn,
23
tầm thường, trái với người quân tử, đại nhân, là những người được coi là
những người tài đức xuất chúng, có địa vị, tri thức, đạo đức và nhân cách
lớn.
Quan niệm quân tử và tiểu nhân và sự phân biệt chúng ban đầu chỉ là sự
phân biệt dựa trên sự khác nhau về năng lực, trình độ học vấn, phNm chất
đạo đức, nhân cách và thái độ sống. hưng sao đó, sự phân biệt chúng đã
gắn liền với sự phân chia đẳng cấp, danh phận và địa vị xã hội bởi vì không
phải bất kỳ người nào trong xã hội cũng có đủ điều kiện để đạt được địa vị
người quân tử như N ho giáo đã đưa ra và lý tưởng hóa nó. Do đó, địa vị của
kẻ tiểu nhân thường gắn liền với tầng lớp bên dưới của xã hội, gọi là thứ
dân, tiểu nhân. Có thể nói, không có sự phân chia đẳng cấp thì chế độ phong
kiến không thể tồn tại. N ho giáo đã nêu lên đủ cái quy phạm để bảo vệ đẳng
cấp đó.
Đầu óc đẳng cấp, tư tưởng quyền lực cản trở quan hệ mới giữa cán bộ
với nhân dân, trong đó cán bộ là công bộc của dân; cản trở quan hệ bình
hộ và Đường hóa của phương Bắc. Vì vậy, những năm 1920 - 1930, dù đạo
đức N ho giáo sụp đổ nhưng đạo đức truyền thống lại phát triển thành đạo
đức mới, tức là đạo đức cách mạng. Trong quá trình vận động phát triển của
đạo đức truyền thống và đạo đức mới, đạo đức N ho giáo đã có những ảnh
hưởng tích cực và tiêu cực, trong đó có những tiêu cực đang cản trở cho sự
phát triển nền dân chủ mới, cản trở đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa.
3. Giải pháp cơ bản nhằm phát huy và hạn chế các ảnh hưởng của đạo
đức nho giáo đối với đạo đức xã hội Việt N am phải là giải pháp tổng hợp,
trong đó yếu tố quyết định là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và con người mới xã hội chủ nghĩa. Cùng với yếu tố kinh tế xã hội, cần coi trọng yếu tố giáo dục đạo đức truyền thống trong gia đình,
nhà trường, xã hội, nêu cao vai trò của pháp luật trong việc kế thừa và phát
huy giá trị đạo đức truyền thống. Cần coi trọng việc kế thừa, phát huy các
giá trị đạo đức của nhân loại.
25