BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VŨ HUY NHẤT
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TƯ VẤN
TRƯỚC, TRONG, SAU SINH CỦA NHÂN VIÊN
Y TẾ THÔN BẢN TẠI HUYỆN YÊN MINH,
TỈNH HÀ GIANG, NĂM 2015
Đề cương luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng
Mã số: 60.72.03.01
Hà Nội-2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VŨ HUY NHẤT
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TƯ VẤN
TRƯỚC, TRONG, SAU SINH CỦA NHÂN VIÊN
Y TẾ THÔN BẢN TẠI HUYỆN YÊN MINH,
TỈNH HÀ GIANG, NĂM 2015
Đề cương luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng
Mã số: 60.72.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Hữu Bích
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Tổng điều tra Nông nghiệp, Lâm nghiệp và
Thủy sản năm 2011
Bệnh viện đa khoa
Bộ y tế
Cán bộ y tế
Cô đỡ thôn bản
Làm mẹ an toàn
Nhân viên
Sức khỏe sinh sản
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trung tâm y tế
Tổ chức Y tế thế giới
Y tế thôn bản
6
Bên cạnh đó còn sự đối nghịch giữa sự e ngại của đại đa số phụ nữ dân tộc thiểu số
trong việc chấp nhận người nam giới đỡ đẻ ngoài chồng với đại đa số NV YTTB
hiện đang hoạt động tại huyện Yên Minh là Nam giới với 73.1%[18]. Một câu hỏi
chính được đặt ra là (1) Kiến thức của NV YTTB trong tư vấn trước, trong và sau
sinh như thế nào?; (2) Thực hành tư vấn về chăm sóc trước, trong và sau sinh của
nhân viên YTTB thực hiện tại thôn bản như thế nào?; (3) Yếu tố nào liên quan/ảnh
hưởng đến kiến thức và thực hành tư vấn trước, trong và sau sinh của NVYTTB.
Nghiên cứu “Kiến thức và thực hành tư vấn trước, trong, sau sinh của nhân
viên y tế thôn bản tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, năm 2015” nhằm trả lời
các câu hỏi ở trên. Kết quả nghiên cứu là căn cứ để TTYT huyện Yên Minh và đơn
vị có liên quan xây dựng kế hoạch hoạt động nâng cao khả năng đáp ứng của nhân
viên YTTB trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
7
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành tư vấn trước, trong và sau
sinh của nhân viên YTTB và một số yếu tố liên quan tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà
Giang năm 2015.
Mục tiêu cụ thể
1. Mô tả kiến thức và thực hành tư vấn trước, trong và sau sinh của nhân
viên YTTB huyện Yên Minh, Hà Giang.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành tư vấn
trước, trong và sau sinh của nhân viên YTTB huyện Yên Minh, Hà
Giang.
c) Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình:
- Tuyên truyền, vận động phụ nữ mang thai đến trạm y tế xã đăng ký quản lý thai,
khám thai và đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để sinh đẻ;
- Hướng dẫn, theo dõi chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà trong 06
tuần đầu sau khi sinh đẻ;
- Hướng dẫn một số biện pháp đơn giản về theo dõi, chăm sóc sức khoẻ trẻ em và
phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi;
11
Chức năng và nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản làm nhiệm vụ chăm sóc
sức khỏe ban đầu: Cô đỡ thôn, bản có chức năng tham gia công tác chăm sóc sức
khỏe bà mẹ và trẻ em tại thôn, bản. Theo Bộ Y tế (2013) có 8 nhiệm vụ chuyên biệt
về chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em tại thôn, bản. Trong đó nội dung nhiệm vụ
tuyên truyền, vận động chăm sóc sức khỏe Bà mẹ và trẻ em của CĐTB cụ thể được
thể hiện tại Hộp 2.
Hộp 2: Nhiệm vụ của Cô đỡ thôn bản
12
a) Tuyên truyền, vận động về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em:
- Tư vấn về sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới 05 tuổi;
- Tuyên truyền, vận động phụ nữ mang thai đến trạm y tế xã đăng ký quản lý thai,
khám thai và đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để sinh đẻ, tiêm phòng uốn ván
cho mẹ và tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin cho trẻ em trong độ tuổi;
- Hướng dẫn phụ nữ mang thai cách chăm sóc bản thân khi mang thai, sau khi
sức khỏe sinh sản của mình (Thảo luận nhóm, tư vấn, đến thăm tại nhà...)
14
Tư vấn là một trong những cách tiếp cận thông dụng nhất trong giáo dục sức khoẻ
đối với cá nhân hoặc với gia đình. Tư vấn là một phương pháp và một nghệ thuật
đòi hỏi cán bộ tư vấn phải có kiến thức, kỹ năng, sự nhậy cảm để khuyến khích
người đến tư vấn (đối tượng) bày tỏ được những vấn đề của mình. Rồi người tư vấn
đưa ra các giải pháp để đối tượng có thể lựa chọn cho mình một giải pháp tối ưu
phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng của người được tư vấn. Vì họ là người quyết
định nên giải pháp lựa chọn sẽ thích hợp và được duy trì. Như vậy, sau quá trình tư
vấn, đối tượng sẽ tự quyết định các lựa chọn của mình chứ không phải do cán bộ tư
vấn quyết định.
Một số nguyên tắc trong tư vấn. Tư vấn phải đảm bảo (1) Tạo và duy trì mối quan
hệ tốt với đối tượng; (2) Xác định nhu cầu của đối tượng; (3) Hiểu và cảm thông với
đối tượng; (4) Khuyến khích sự tham gia của đối tượng; (5) Tôn trọng và giữ bí mật
thông tin; (6) Cung cấp thông tin và nguồn hỗ trợ.
Các kỹ năng cơ bản của tư vấn: Tiếp cận, tạo mối quan hệ tốt với đối tượng; Kĩ
năng đặt câu hỏi; Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng giải thích; Kĩ năng tóm tắt cuộc tư
vấn.
Một số hình thức tư vấn: Tư vấn cho cá nhân, Tư vấn cho hộ gia đình; Tư vấn cho
nhóm lớn.
1.1.2. Tình hình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em trên thế giới và Việt Nam
Ngày nay sức khỏe sinh sản vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật
cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên toàn thế giới. Một số lượng lớn phụ nữ nghèo,
đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đang phải đối mặt với vấn đề có thai ngoài ý
muốn, tử vong mẹ và tai biến sau sinh, . [5]. Đồng thời, giai đoạn phát triển ban đầu
của trẻ là giai đoạn phát triển quan trọng nhất và cũng dễ bị tổn thương nhất. Theo
báo cáo của tổ chức y tế thế giới mỗi năm ước tính có khoảng 2,955 triệu trẻ sơ sinh
sức khỏe sinh sản cho tất cả mọi người bao gồm chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ
sinh; kế hoạch hóa gia đình; tăng cường việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện
đại; xây dựng các chương trình, chính sách và luật pháp về sức khỏe sinh sản và
quyền, cũng như các dịch vụ có chất lượng tới người nghèo và các nhóm dân số dễ
bị tổn thương [3], [20].
Trong một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe
bà mẹ trẻ em tại vùng dân tộc thiểu số là trạm y tế chưa có sức hút và việc sinh con
tại nhà của phụ nữ dân tộc thiểu số còn cao.
16
Trạm Y tế hiện nay chưa có sức hút với người dân tộc. Theo Nguyễn Thị Thiềng
và cộng sự (2012) khi tiến hành nghiên cứu hệ thống chính sách về chăm sóc sức
khỏe sinh sản cho người dân tộc trên 98 chính sách liên quan đến CS SKSS đã được
ban hành trong giai đoạn 2000 đến 2008 cho đồng bào dân tộc chỉ ra 5 mô hình cho
người dân tộc: (1) Người dân đến trạm y tế; (2) CBYTTB đến chăm sóc tại nhà; (3)
Đội y tế lưu động của huyện đến xã; (4) Cán bộ TYT đến nhà phục vụ (5) Người
dân đến các cơ sở y tế khác. Trạm y tế xã hiện nay chưa có sức hút đối với người
dân tộc, đặc biệt là dịch vụ đỡ đẻ, do đường xa, thiếu phương tiện đi lại, trạm y tế
xuống cấp, thiếu cán bộ đỡ đẻ là nữ, nhân viên y tế thiếu nhiệt tình, người dân
nghèo chứ không hẳn là “thói quen sinh đẻ ở nhà”. [8]
Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại nhà cao tại các xã miền núi. Một nghiên cứu thực hiện
theo chương trình khung thứ 7 của Cộng đồng châu Âu trong vòng 3 năm. Nghiên
cứu nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ tại 3 nước
là Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc (HESVIC). Số liệu được thu thập ở trung ương
và 2 tỉnh đại diện cho khu vực phía Bắc và phía Nam. Tại từng tỉnh, 2 huyện được
lựa chọn theo tiêu chí một huyện có đầy đủ dịch vụ cấp cứu sản khoa thiết yếu toàn
diện (có mổ đẻ và truyền máu) và một huyện không cung cấp đủ các dịch vụ này
(không thực hiện mổ đẻ và truyền máu) Các huyện được chọn không nằm trên địa
Giang là 62.1 - 67.0 – 67.7% và của huyện Yên Minh là 29.1 – 33.7 – 34.6% [1315].
Về tình hình chăm sóc trong và sau đẻ 42 ngày, tại huyện Yên Minh thấp hơn tỷ lệ
chung của toàn tỉnh Hà Giang. Từ năm 2012 đến 2014 tỷ lệ chung của toàn tỉnh Hà
Giang là 86.5 - 88.6 – 86.4% và của huyện Yên Minh là 72.6 – 82.7 – 77.0% [1315].
18
Về tình hình cung cấp các biện pháp y tế hiệu quả khi sinh và tuần đầu của cuộc
sống và đồng thời phát hiện các dấu hiệu bất thường của bà mẹ sau đẻ và trẻ sơ
sinh. Tỷ lệ bà mẹ/trẻ sơ sinh được CBYT chăm sóc và chăm sóc trong tuần đầu sau
đẻ của huyện Yên Minh thấp hơn tỷ lệ chung của toàn tỉnh Hà Giang. Tỷ lệ được
chăm sóc của tỉnh Hà Giang và huyện Yên Minh trong 3 năm 2012-2014 lần lượt là
89.0-88.4-86.4% và 79.3-82.3-77.5%. Trong đó, tỷ lệ được chăm sóc trong một tuần
đầu sau đẻ của tỉnh Hà Giang và huyện Yên Minh trong 3 năm 2012-2014 lần lượt
là 77.1-70.8-72.7% và 69.0-72.8-64.6% [13-15].
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của trẻ. Sữa mẹ có nhiều chất kháng thể
bảo vệ trẻ chống các bệnh nhiễm khuẩn. Vì vậy, những bé bú mẹ ít bị ốm hơn, đặc
biệt là ít bị viêm phổi và tiêu chảy (những bệnh nguy hiểm đối với bé). Sữa non
không những chứa nhiều chất dinh dưỡng mà còn mang nhiều kháng thể và bạch
cầu để bảo vệ bé chống lại nhiễm khuẩn và dị ứng. Sữa non có tác dụng xổ nhẹ,
tống phân su ra nhanh, làm bé không vàng da. Cho bé bú sớm, mẹ bé sẽ nhanh cầm
máu và sữa xuống nhanh hơn. Tỷ lệ trẻ được bú mẹ trong giờ đầu sau sinh là khá
cao. Từ năm 2012 đến 2014 tỷ lệ của toàn tỉnh Hà Giang là 95.8-92.0-91.7% và
của huyện Yên Minh là 88.0-89.5-92.7% [13-15].
1.2. Một số nghiên cứu và phát hiện liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Việc sở hữu phương tiện thông tin truyền thông tại địa bàn nghiên cứu
của người dân là hạn chế.
Việc sở hữu phương tiện thông tin truyền thông giúp cho người dân tiếp cận thông
tin về giáo dục sức khỏe, cập nhật kiến thức văn hóa, khoa học được thuận lợi. Từ
thông ra sao, nôi dung truyền thông chính là gì và khả năng của NV YTTB thực
hiện truyền thông nhóm tại nhà văn hóa/sinh hoạt cộng đồng ra làm sao.
1.2.2. Sự gắn kết xã hội và hoạt động truyền thông.
Việc tư vấn chăm sóc trước trong và sau sinh có liên hệ chặt chẽ bởi vốn xã hội của
người trực tiếp làm công tác truyền thông và đối tượng đích hưởng lợi. Theo Cohen
và Prusak (2001) định nghĩa: “Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng
giữa những con người với nhau: Sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau, và sự chia sẻ
những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn,
các cộng đồng lại với nhau làm cho việc phối hợp hành động có khả năng thực hiện
được”. Trong tư vấn trước, trong và sau sinh thì vốn xã hội bao gồm các mạng lưới
và mối liên hệ (thành viên trong gia đình, quan hệ hàng xóm, dân tộc), các giá trị và
20
hành vi chung, các nguyên tắc và phong tục… Hiện nay chưa có nghiên cứu nào
công bố sự liên kết xã hội giữa các dân tộc khác nhau trong truyền thông nâng cao
sức khỏe trong cộng đồng có sự đa dạng về thành phần dân tộc (Ví dụ như liệu
người Mông có chấp nhận người Giấy tư vấn, đỡ đẻ hay không hoặc ngược lại), hay
mối quan hệ giữa phụ nữ mang thai với người chồng/Gia đình chồng trong chăm
sóc sức khỏe tại cộng đồng dân tộc thiểu số…
1.2.3. Nhân viên YTTB có vai trò quan trọng trong trợ giúp bà mẹ sinh con tại
nơi có điều kiện khó khăn.
Theo Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (2008) đã triển khai nghiên cứu cung cấp dịch
vụ tại 18 trạm y tế thuộc 6 huyện của 3 tỉnh Đắc Lắc, Kon Tum và Gia Lai. Trong
nghiên cứu này, chất lượng dịch vụ y tế được đánh giá bằng cách so sánh với chuẩn
Quốc gia về sức khoẻ sinh sản qui định cho các trạm y tế tuyến xã. Kết quả cho
thấy, chất lượng dịch vụ cung cấp còn hạn chế cụ thể các dịch vụ cung cấp chưa đầy
đủ, các phòng chức năng của trạm y tế chưa đạt chuẩn, số lượng và trình độ chuyên
môn của cán bộ về chăm sóc trước và trong sinh cần cải thiện. Trong nghiên cứu
viên dân số sẽ giữ họ ở lại vị trí công tác. Các hoạt động đó có thể là thường xuyên
đào tạo cập nhật, ghi nhận các kỹ năng giao tiếp và các kỹ năng truyền thông của
các cán bộ y tế thôn bản có khả năng đặc biệt bằng cách sử dụng họ làm trợ giảng
cho các hoạt động đào tạo [21]..
1.2.6. Năng lực chuyên môn NV YTTB trong thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế
và trang thiết bị cung cấp cho NV YTTB còn thiếu.
Cuộc “Khảo sát về nhân viên y tế thôn bản và vai trò của họ trong việc nâng cao
khả năng tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng đối với người nghèo/dân tộc thiểu số
tại vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ” thuộc Dự án Hỗ trợ Y tế vùng Duyên Hải Nam
Trung Bộ dưới sự hỗ trợ vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á thực hiện trên
811 NVYTTB tại 11 huyện của 6 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong năm 2013 chỉ
ra về năng lực chuyên môn và sự cung cấp trang thiết bị cho NV YTTB hoạt động:
Thứ nhất về sự đáp ứng về năng lực chuyên môn, nhiệm vụ và kiến thức: Có tới
60% NVYTTB không đạt tiêu chuẩn về bằng cấp chuyên môn y tế theo Thông tư số
07/2013/TT-BYT của Bộ Y tế “Quy định tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhân
viên y tế thôn, bản”. Trong số 192 NVYTB được phỏng vấn có 26,1% không đạt
tiêu chuẩn bằng cấp chuyên môn y tế theo Thông tư nêu trên. Hầu hết NVYTTB
không nhớ đủ nhiệm vụ của NVYTTB, đa số NVYTTB kể được nhiệm vụ tuyên
truyền giáo dục sức khỏe và CSSKBMTE-KHHGĐ, còn 6 nhiệm vụ khác không
22
quá 40% NVYTTB kể tới . Kiến thức của NVYTTB về truyền thông, BHYT và
chuyên môn y tế còn hạn chế, điểm kiến thức trung bình của NVYTTB chỉ đạt từ
20-33/100 điểm [16].
Thứ hai về trang thiết bị cung cấp cho NVYTTB còn thiếu, chỉ có 67,2% NVYTTB
được điều tra đã được trang bị túi NVYTTB, 83,9% đã được cấp tài liệu truyền
thông, 59,4% được cấp sổ tay tuyên truyền, 52,6% được trang bị túi truyền thông,
5,2% được trang bị loa cầm tay, 15,6% được trang bị các công cụ để làm mẫu, 7,3%
Theo UNFPA (2007) khi triển khai nghiên cứu tại Hòa Bình và Hà Giang, thời gian
đi lại làm tăng thời gian của các cán bộ y tế thôn bản phải đầu tư cho các hoạt động
sức khoẻ sinh sản. Một số tỉnh vùng sâu do có khoảng cách đi lại xa cộng thêm sự
hẻo lánh còn làm tăng mối nguy hiểm cho cá nhân nữ cán bộ y tế thôn bản hoặc nữ
cộng tác viên dân số nếu phải đi lại một mình [21]. Đây cũng có thể là một nguyên
nhân lý giải tại sao NV YTTB tại Yên Minh, Hà Giang đại đa số là nam giới.
1.2.8. Kiến thức và hành vi của cộng đồng dân tộc thiểu số về sức khỏe sinh sản
Các chương trình làm mẹ an toàn thực hiện trong nhóm dân cư dân tộc Kinh đa số
đã làm tăng đáng kể tỷ lệ phụ nữ được khám thai từ ba lần trở lên và sinh con tại
các cơ sở y tế công. Tuy nhiên lợi ích của các chương trình này nhìn chung chưa
tiếp cận tới các nhóm dân tộc thiểu số. Kết quả là tại một số vùng dân tộc thiểu số,
nhiều cơ sở chăm sóc sức khoẻ sinh sản có đầy đủ trang thiết bị nhưng không được
sử dụng hết công suất, người cung cấp dịch vụ y tế đã qua đào tạo thì không có đủ
việc làm [22].
Khi người phụ nữ dân tộc Hmông hoặc các dân tộc thiểu số khác từ chối sử dụng
dịch vụ chăm sóc thai nghén, hoặc từ chối sinh con tại các cơ sở y tế công, cần nhấn
mạnh rằng điều này không phải vì lý do mà nhiều người tin là do phụ nữ ngần ngại
không muốn nam giới can thiệp, hoặc bất cứ kiểu từ chối chung chung nào. Các lí
do liên quan tới các lễ nghi phức tạp xung quanh việc sinh đẻ nếu diễn ra ở nhà thì
dễ dàng hơn. Vấn đề này còn kết hợp với các vấn đề thực tế khác như ngại đi xa
trong thời kỳ cuối mang thai [22].
Để dỡ bỏ các trở ngại và mở rộng việc chăm sóc thai nghén tới các phụ nữ Hmông
và các dân tộc thiểu số khác, và để thúc đẩy một giải pháp trung gian giữa việc sinh
đẻ an toàn tại trạm y tế xã và các trở ngại hiện đang cản trở không cho người phụ nữ
tới đẻ ở các cơ sở y tế, bên cạnh các buổi nói chuyện với các chị em phụ nữ, cần
hướng nỗ lực vào việc đối thoại với các già làng, trưởng bản và dân bản nói chung
[22].
24
25
Thời gian giành cho công việc; Nội dung được đào tạo, tập huấn; Công việc đang
làm tại thôn; Lý do gắn kết với công việc;
Nhóm yếu tố được cung cấp dịch vụ, bao gồm phụ nữ mang thai/bà mẹ có con
nhỏ, ông chồng và các thành viên khác trong gia đình. Các yếu tố thuộc nhóm này
được nghiên cứu bao gồm; Sự chấp nhận dịch vụ tư vấn trước, trong và sau sinh của
NV YTTB; Sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình; sự khác nhau về ngôn
ngữ.
Chính sách, quản lý, giám sát hỗ trợ và đào tạo: bao gồm Chính sách hỗ trợ thực
hiện công việc đối với NVYTTB; Thực hiện quản lý, giám sát thực hiện công việc
của NV YTTB bởi cán bộ y tế xã/huyện; Chương trình và nội dung đào tạo và cập
nhật kiến thức kỹ năng thường xuyên; Sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng.