1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHÍ VĂN KIÊN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VỀ TIÊM VẮC XIN CÚM MÙA CỦA NHÂN VIÊN
Y TẾ HAI BỆNH VIỆN TUYẾN TRUNG ƯƠNG
TẠI HÀ NỘI NĂM 2015 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2015
2
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BYT
Bộ Y tế
Bảng 3.1: Thông tin về nhân khẩu học của ĐTNC
Bảng 3.2: Thông tin liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của ĐTNC
Bảng 3.3: Thực trạng kiến thức của ĐTNC về bệnh cúm mùa
Bảng 3.4: Thực trạng kiến thức về sử dụng vắc xin cúm
Bảng 3.5: Điểm kiến thức của ĐTNC về từng lĩnh vực
Bảng 3.6: Điểm kiến thức chung của ĐTNC
Bảng 3.7: Thực trạng thái độ của ĐTNC
Bảng 3.8: Điểm thái độ của ĐTNC
Bảng 3.9: Thực trạng thực hành tiêm vắc xin cúm của bác sỹ
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học của ĐTNC với
kiến thức
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc lĩnh vực chuyên môn với
kiến thức
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với thái độ
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc lĩnh vực chuyên môn với
thái độ
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa giới và nhóm tuổi với thực hành
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc lĩnh vực chuyên môn với
thực hành
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, tiếp cận thông tin với
thực hành
Bảng 3.17: Phân tích đa biến về các yếu tố liên quan đến thực hành tiêm
vắc xin cúm của bác sỹ
Bảng 3.18: Yếu tố thúc đẩy việc tiêm vắc xin cúm mùa của bác sỹ
33
34
35
36
37
Biểu đồ 3.13. Phân bố tỷ lệ xếp loại thái độ theo chức vụ
Biểu đồ 3.14. Phân bố tỷ lệ thực hành tiêm vắc xin cúm của ĐTNC
34
39
39
40
40
41
41
44
44
45
45
46
46
47
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cúm mùa là một bệnh nhiễm trùng hô hấp cấp tính do vi rút cúm gây
nên. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân, lây nhiễm trực tiếp từ người
bệnh sang người lành qua các giọt bắn nhỏ khi nói chuyện, khi ho, hắt hơi [1].
Vi rút gây bệnh thường gặp là cúm A(H3N2), cúm A(H1N1), cúm B [1],[2].
Bệnh cúm lan truyền khắp nơi trên thế giới qua các dịch theo mùa trong
năm, tính chất ngày càng nghiêm trọng bởi sự biến chủng nguy hiểm và tiềm
tàng của vi rút cúm [3]. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 20 - 30% trẻ em
và 5 - 10% người lớn mắc bệnh cúm; trung bình các vụ dịch cúm gây bệnh
của vắc xin cúm mùa của chính NVYT [11],[12],[13].
Cho đến nay tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về cúm [14],[15] cũng
như điều tra kiến thức, thái độ và thực hành của người người dân về phòng
chống cúm A(H5N1), cúm A(H1N1) [16],[17],[18],[19]. Tuy nhiên chưa có
nghiên cứu nào đầy đủ và có hệ thống về kiến thức, thái độ, thực hành tiêm
phòng vắc xin cúm mùa của NVYT là các bác sỹ. Từ tình hình trên, chúng tôi
tiến hành đề tài nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm vắc xin
cúm mùa của nhân viên y tế hai bệnh viện tuyến trung ương tại Hà Nội năm
2015 và yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm vắc xin cúm mùa của
nhân viên y tế là các bác sỹ công tác tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện
Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2015.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của
nhân viên y tế là các bác sỹ công tác tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện
Bệnh Nhiệt đới Trung ương về tiêm vắc xin cúm mùa.
Kết quả nghiên cứu đóng góp cho việc đề xuất một số giải pháp hữu
hiệu trong việc kiểm soát bệnh dịch cúm tại Việt Nam.
8
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm bệnh cúm ở người
1.1.1. Khái niệm về bệnh cúm
- Bệnh cúm là bệnh nhiễm vi rút cấp tính đường hô hấp với biểu hiện sốt,
đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Ho thường nặng và kéo
dài. Có thể kèm theo các triệu chứng đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy),
đặc biệt ở trẻ em. Thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 27 ngày. Ở trẻ em và người lớn tuổi, người mắc bệnh mạn tính về tim phổi,
thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc người có suy giảm miễn dịch, bệnh có
trong các mùa dịch cúm và gây nên gánh nặng về kinh tế do chi phí do phải
nằm viện điều trị và chăm sóc y tế cũng như nghỉ việc do bị bệnh. Tỷ lệ mắc
bệnh cúm là 5-10% ở người lớn và 20-30% ở trẻ em. Trong các vụ dịch cúm
hàng năm, 5-15% dân số bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Bệnh nặng và tử
vong xảy ra chủ yếu ở những nhóm người có nguy cơ cao như trẻ em dưới 2
tuổi, người già và người mắc bệnh mạn tính [21].
- Hiện nay, các phân týp kháng nguyên của vi rút cúm A đang lưu hành
trên toàn cầu là A(H1N1) và A(H3N2) xen kẽ nhau hoặc một trong hai týp
chiếm ưu thế tuỳ từng nơi. Vi rút cúm B biến đổi chậm hơn vi rút cúm A và
do đó chỉ có một týp huyết thanh và không gây những vụ dịch lớn, với chu kỳ
dịch từ 5-7 năm. Vi rút cúm C gây ra các trường hợp tản phát với triệu chứng
lâm sàng không điển hình và các vụ dịch nhỏ ở địa phương [21].
- Ở các vùng ôn đới, dịch cúm thường xảy ra vào mùa lạnh. Ở các vùng
nhiệt đới, bệnh thường xảy ra vào mùa mưa hoặc các trường hợp tản phát xảy
ra bất kỳ tháng nào trong năm [21].
10
1.1.4. Nguồn truyền nhiễm
- Ổ chứa: Vi rút cúm A có khả năng gây nhiễm các loài động vật có vú
(như lợn và ngựa), các loài chim và gia cầm. Trong đó, vi rút cúm B và C chỉ
gây bệnh ở người. Tất cả các týp vi rút cúm A tồn tại trong quần thể chim
nước hoang dại. Nhìn chung, các vi rút cúm động vật không có khả năng gây
bệnh cho người trừ khi nó đã thích ứng với người hoặc tái tổ hợp với vi rút
cúm người [20].
- Đối với bệnh cúm mùa, người bệnh thể điển hình, hoặc thể nhẹ là ổ
chứa vi rút [20].
1.1.5. Phương thức lây truyền
- Bệnh cúm là bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao và lây truyền nhanh,
•
Người lớn và trẻ em từ 6 tháng trở lên bị bệnh tim hoặc phổi mãn tính, hen
suyễn, bệnh chuyển hóa (ví dụ bệnh tiểu đường), bệnh thận mãn tính, hoặc
suy giảm hệ miễn dịch.
•
Phụ nữ sẽ có thai trong mùa bệnh cúm;
•
Những người sống trong các nhà dưỡng lão và các cơ sở chăm sóc dài hạn.
•
Những người tiếp xúc mật thiết với các bệnh nhân như cán bộ y tế, người
cùng nhà với bệnh nhân,....
+ Chống chỉ định dùng vắc xin cúm mùa đối với người có dị ứng với
protein trứng hoặc với các thành phần khác của vắc xin [20].
1.2. Tình hình bệnh cúm trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1. Tình hình bệnh dịch cúm trên thế giới
- Bệnh cúm mùa: Hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 3 triệu đến 5
triệu trường hợp mắc cúm nặng phải nhập viện trong đó 250.000 đến 500.000
trường hợp tử vong.
- Cúm A(H1N1): Năm 2009, xuất hiện dịch bệnh mới nổi là cúm
A(H1N1), trường hợp đầu tiên được thông báo tại Mê hi cô vào tháng 3/2009,
sau 4 tháng dịch nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới, TCYTTG công bố
13
- Cúm A(H7N9): Chủng cúm A(H7N9) mới xuất hiện ở Trung Quốc từ
ngày 04/5/2013, theo ghi nhận của cơ quan đầu mối IHR - Tổ chức Y tế thế
giới đến ngày 11/9/2014 tổng số ca nhiễm cúm A(H7N9) là 453 người, trong
đó có 175 ca tử vong, ghi nhận chủ yếu tại Trung Quốc (15 tỉnh, thành phố);
Đài Loan, Hồng Kông và Malaysia. Mặc dù hoạt động điều tra vẫn đang được
tiếp tục thực hiện nhằm xác định chính xác nguồn bệnh và phương thức lây
truyền của vi rút cúm A(H7N9), tuy nhiên đến nay vẫn chưa có bằng chứng vi
rút cúm A(H7N9) lây từ người sang người.
1.2.2. Tình hình dịch cúm tại Việt Nam
- Bệnh cúm mùa: Hàng năm nước ta vẫn ghi nhận khoảng 1,6 triệu đến
1,8 triệu trường hợp mắc. Trong năm 2013, cả nước ghi nhận 1.252.220
trường hợp mắc hội chứng cúm tại 62 tỉnh, thành phố, 19 trường hợp tử vong
tại 10 địa phương.
- Cúm A(H1N1): Cúm A(H1N1) đại dịch đã xâm nhập và lây truyền tại
Việt Nam từ ngày 31/5/2009 đến tháng 12/2010, cả nước đã ghi nhận 11.305
trường hợp có xét nghiệm dương tính với vi rút cúm A(H1N1) tại 63 tỉnh,
thành phố, trong đó 61 trường hợp đã tử vong phân bố ở cả 4 khu vực là miền
Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên.
Năm 2011 chủ yếu lưu hành cúm A(H1N1) đại dịch (riêng miền Trung
có 186 trường hợp mắc, trong đó 2 trường hợp tử vong). Năm 2012 có 05
trường hợp dương tính với vi rút cúm A(H1N1) đại dịch còn lại là mắc cúm
A(H3N2). Từ đầu năm 2013 đến tháng 4/2013, ghi nhận thêm 03 trường hợp
tử vong tại Yên Bái và Thanh Hóa.
Theo kết quả giám sát các chủng vi rút cúm tại Việt Nam tại các
điểm giám sát trọng điểm 9 tháng đầu năm 2014 cho thấy:
+ Trong số các trường hợp mắc hội chứng cúm, tỷ lệ lưu hành chủ yếu là
cúm B 43%, cúm A(H3) 39% và cúm A(H1N1) 18%.
15
1.3.2. Tình hình sử dụng vắc xin cúm mùa trên thế giới
- Theo báo cáo tổng kết của nhóm chuyên gia tư vấn về chiến lược tiêm
chủng (NCGTV) của TCYTTG đã có hơn 570 triệu liều vắc xin cúm
A(H1N1) gây đại dịch năm 2009 đã được phân phối, trong đó có > 350 triệu
liều vắc xin được quản lý, bàn giao [20].
- Với mục đích giảm thiểu các ảnh hưởng xấu có thể do vi rút cúm
A(H1N1) gây ra, TCYTTG đã lên kế hoạch phân phối vắc xin cúm đại dịch
cho các nước có dịch bùng phát. Cùng với đó, Chính phủ các nước, những tổ
chức và nhà sản xuất vắc xin đã có những hỗ trợ về vắc xin cũng như tài
chính cho các khu vực có dịch. Tính đến cuối tháng 3/2010, 94 quốc gia cần
hỗ trợ vắc xin, 76 quốc gia ký thỏa thuận với TCYTTG và 48 quốc gia đã
được phê duyệt kế hoạch triển khai phân phối, sử dụng vắc xin cúm.
- Ủy ban tư vấn toàn cầu về an toàn vắc xin đã tiến hành một đánh giá
liên tục về tính an toàn và hiệu quả của vắc xin. Kết quả nghiên cứu cho thấy
tính hiệu quả và sinh miễn dịch tốt giữa kháng nguyên của vắc xin và chủng
cúm A(H1N1) đại dịch 2009. TCYTTG đã cam kết việc hỗ trợ vắc xin cho
các quốc gia và đã cung cấp 78 triệu liều vắc xin cúm, hầu hết trong số đó là
dành cho khu vực Châu Phi, khu vực Đông Nam Á và khu vực Đông Địa
Trung Hải. 11 loại vắc xin cúm đã được tiền kiểm nhanh chóng do có sự hỗ
trợ từ các cơ quan quản lý và tăng cường nhân lực, nhờ đó mà việc đánh giá,
đưa vào sử dụng các vắc xin cúm khác ít bị trì hoãn.
- NCGTV đề xuất các nhóm ưu tiên sử dụng vắc xin cúm bao gồm: phụ
nữ mang thai; trẻ trên 6 tháng tuổi, trẻ dưới 2 tuổi, người già trên 65 tuổi,
người mắc bệnh mạn tính và NVYT.
Trong giai đoạn 2012 - 2013:
- Từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012, chủng vi rút cúm
A(H1N1) đại dịch 2009 xuất hiện với tần suất thấp, có sự thay đổi trong việc
với
chủng
vi
rút
cúm
B/Brisbane/60/2008. Gần đây, các chuyên gia đã phân tích và cho thấy chủng
vi rút cúm B/Yamagata/16/88 có tính kháng nguyên khác với chủng dùng
trong loại vắc xin cúm B trước đó là B/Florida/4/2006; chủng vi rút cúm này
có sự tương đồng với chủng vi rút cúm B/Wisconsin/1/2010. Vắc xin cúm có
chứa thành phần B/Brisbane/60/2008 có hiệu giá tương tự đối với vắc xin có
chứa B/Victoria/2/87, tuy nhiên, hiệu giá thấp hơn đối với chủng cúm
B/Yamagata/16/88 [20].
- Các cơ quan phụ trách của từng quốc gia hoặc khu vực sẽ phê duyệt
thành phần và xây dựng các loại vắc xin cúm mùa được sử dụng ở mỗi nước
hay khu vực. Các đơn vị phụ trách về công tác y tế công cộng của các quốc
gia sẽ chịu trách nhiệm đưa ra các khuyến nghị liên quan đến việc sử dụng
vắc xin cúm mùa.
17
1.3.3. Tình hình sử dụng vắc xin cúm mùa tại Việt Nam
- Hiện nay ở Việt Nam vắc xin cúm đại dịch chưa được sử dụng mà mới
chỉ sử dụng một số vắc xin cúm mùa do nước ngoài sản xuất có thành phần
cúm A(H1N1) đại dịch 2009 được cấp giấy phép lưu hành: Vaxigrip (Sanofi
4.959
12.660
14.253
13.291
18.457
77.789
(liều)
298
1.996
1.508
7.337
3.701
6.358
4.431
7.522
33.151
(liều)
605
6.086
5.483
17.085
8.612
7.554
11.565
14.183
71.173
(liều)
và giảm 41% nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em. Tuy nhiên số liệu về tình
hình sử dụng vắc xin cúm mùa tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ này là tương đối
thấp so với số đối tượng nguy cơ cao mặc dù đã có xu hướng tăng qua các
năm đặc biệt là từ năm 2009 khi đại dịch cúm xảy ra.
1.4. Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành các nghiên cứu về tình hình sử
dụng vắc xin cúm và các yếu tố về kiến thức, thái độ, thực hành trong nhóm
NVYT:
- Nghiên cứu tại Teheran, Iran năm 2008 - 2009 đã chỉ ra các yếu tố thúc
đẩy việc tiêm vắc xin cúm của NVYT bao gồm hiệu quả của vắc xin (51,4%;
38/74), cúm là bệnh nguy hiểm (43,2%; 32/74); nguy cơ nhiễm bệnh từ công
việc hàng ngày (43,2%; 32/74), do tác động của các phương tiện truyền thông
(45; 32,4%). Các yếu tố cản trở việc quyết định không tiêm vắc xin cúm của
nhóm NVYT bao gồm lo lắng về tác dụng phụ của vắc xin, cho rằng tiêm vắc
xin là không cần thiết, vắc xin không có sẵn, quên hoặc không có thời gian,
tiêm vắc xin không hiệu quả,....
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng tiêm vắc xin cúm của NVYT trong
mùa dịch cúm 2011 - 2012 và tìm hiểu về thái độ, kiến thức, các yếu tố xã
hội, nhân khẩu học, nghề nghiệp đối với vắc xin cúm tại Navarre cho thấy có
19
56,2% NVYT đã tiêm vắc xin cúm. Tỷ lệ tiêm vắc xin cúm cao nhất ở nhóm
NVYT tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân có nguy cơ cúm (OR: 1,72; CI 95%:
1,05-2,84), sau đó là nhóm NVYT lo lắng sẽ mắc bệnh cúm (OR:4,59; CI
95%: 2,30-9,15), hoặc sẽ lây bệnh cho bệnh nhân của họ (OR: 6,29; CI 95%:
3,02-13,13) [25]. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra tỷ lệ tiêm vắc xin cúm của
NVYT tại Navarre còn thấp dưới mức mong đợi và cần có sự hưởng ứng việc
- Nguy cơ lây nhiễm cúm A/H1N1/09 đại dịch trong môi trường bệnh
viện cũng khác biệt so với hộ gia đình vì có những yếu tố liên quan đến nghề
nghiệp. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến nghề nghiệp có thể là: phơi nhiễm
với phòng thủ thuật (OR: 5,06; 95% CI: 1,01 - 34,23), làm việc lâu trong
phòng bệnh (OR: 3,1; 95% CI: 1,27 - 7,90), tiếp xúc gần với cán bộ y tế bị
nhiễm cúm (OR: 3,18; 95% CI: 1,22 - 8,54). Đó cũng là những yếu tố chỉ
điểm cho hành vi liên quan đến khả năng tiếp xúc với nguồn bệnh. Tuy nhiên
bên cạnh đó một số yếu tố như rửa tay (OR: 0,11; 95% CI: 0,04 - 0,28),
thường xuyên mở cửa sổ nơi làm việc (OR: 0,14; 95% CI: 0,05 - 0,39) đã
được chứng minh là yếu tố bảo vệ khỏi nhiễm/mắc cúm [28]. Bên cạnh đó,
nếu gia đình của các cán bộ y tế đông người cũng làm tăng khả năng nhiễm
cúm A/H1N1/09 đại dịch (OR: 1,2; 95% CI: 1,0 - 1,4) [29].
- Theo một nghiên cứu tại Thái Lan của Darunee Ditsungnoen vào năm
2013 trên 643 bác sĩ cho thấy 68% bác sĩ cho biết vắc xin cúm là an toàn,
62% các bác sĩ nghĩ rằng những khuyến cáo về tiêm phòng vắc xin cúm hiện
nay của Bộ Y tế không rõ ràng hoặc gây khó hiểu, chỉ có 24% các bác sĩ
khuyến cáo việc tiêm vắc xin cúm cho phụ nữ mang thai, 50% bác sĩ cho biết
có sẵn vắc xin trong bệnh viện nơi họ công tác, các bác sĩ sản/phụ khoa
thường xuyên khuyến cáo việc sử dụng vắc xin cúm hơn so với các bác sĩ
chuyên ngành khác [30].
21
1.4.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam
- Tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về cúm cũng như điều tra về
kiến thức, thái độ và thực hành của người người dân về phòng chống cúm
A(H5N1), cúm A(H1N1). Những nghiên cứu này đã cung cấp một số thông
tin về kiến thức, thái độ, thực hành của người dân, nhìn chung người dân có
những hiểu biết khá đầy đủ về cúm.
khám bệnh cho bệnh nhân có dấu hiệu về đường hô hấp,... Nguyên nhân của
sự cách biệt này là do sự chủ quan của NVYT, nhất là ở những vùng chưa có
dịch, do thói quen, do thiếu ý thức dự phòng lây nhiễm, do thiếu hiểu biết về
cách thức sử dụng (đối với quần áo, mặt nạ,...), do thiếu phương tiện phòng
hộ và do áp lực công việc không có đủ thời gian để thực hiện các biện pháp
phòng hộ.
+ Hiểu biết của NVYT thuộc các cơ sở điều trị về phác đồ điều trị cúm
A (H5N1) còn chưa đầy đủ do chưa được hướng dẫn chi tiết cũng như chưa
có nhiều trường hợp bệnh nhân trong thực tế để thực hành. Kiến thức và kỹ
năng vận hành các máy hỗ trợ điều trị (máy thở) còn nhiều bất cập.
+ Các nội dung mà NVYT mong đợi được tiếp nhận gồm có: mức độ
nguy hiểm của bệnh; triệu chứng thường gặp; cách phát hiện sớm và điều trị;
các biện pháp phòng lây nhiễm trong bệnh viện; cách phòng chống lây nhiễm
tại cộng đồng. Hình thức truyền tải thông tin về cúm A(H5N1) mà NVYT
mong muốn bao gồm: tập huấn, truyền hình, hội thảo, sinh hoạt khoa học,
sách báo, tạp chí, đặc san, cẩm nang, tờ rơi và trang web,...
- Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT tỉnh Thừa Thiên
Huế về cúm A(H5N1) do Hầu Văn Nam tiến hành năm 2010 [31] cho thấy
trước khi được tập huấn có tới 95,3% NVYT tuyến tỉnh biết được tiêm vắc
xin cúm A(H5N1) có thể phòng bệnh cho gia cầm; 90,7% NVYT tuyến tỉnh
cho rằng việc rửa tay sạch bằng xà phòng là phòng chống bệnh cúm
A(H5N1); 97,7% NVYT tuyến tỉnh cho rằng phải mang trang phục bảo hộ khi
23
chăm sóc bệnh nhân nhiễm cúm A(H5N1). Sau khi được tập huấn 100%
NVYT tuyến tỉnh đã nhận thức đúng về các nội dung trên.
- Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chúng tôi chưa tìm được một nghiên cứu
nào đầy đủ về kiến thức, thái độ, thực hành tiêm phòng vắc xin cúm mùa của
dựa chủ yếu vào sự bao cấp của Nhà nước, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa. Vắc xin cúm sử dụng chủ yếu là vắc xin nhập khẩu và sử dụng
dưới hình thức tiêm chủng dịch vụ vì vậy việc cung ứng vắc xin phụ thuộc
vào nguồn cung ứng và giá thành. Việc quản lý công tác tiêm chủng dịch vụ,
đặc biệt là tại các cơ sở y tế tư nhân chưa được triển khai đầy đủ. Các cơ sở
nghiên cứu trong nước đều mới sản xuất vắc xin cúm đơn giá trong khi các
nhà xuất trên thế giới đều đã đưa chủng vắc xin cúm đại dịch 2009 vào thành
phần vắc xin cúm mùa. Hiện mới chỉ có 1 cơ sở sản xuất xây dựng được nhà
xưởng và dây chuyền sản xuất đặc thù cho sản xuất vắc xin cúm bất hoạt, còn
các đơn vị sản xuất khác đều đang dùng chung nhà xưởng với vắc xin khác.
1.5. Một số thông tin về hai bệnh viện tiến hành nghiên cứu
- Bệnh viện Bạch Mai Được thành lập từ năm 1911 với tên gọi ban đầu
là Bệnh viện Lây Cống Vọng. Năm 1945, bệnh viện chính thức mang tên là
Bệnh viện Bạch Mai. Hiện nay bệnh viện Bạch Mai có quy mô 1.400 giường
bệnh với tổng số cán bộ là hơn 2.000 người. Đây là nơi khám chữa bệnh có
chất lượng hàng đầu và tin cậy của người bệnh và nhân dân cả nước. Nhiều
kỹ thuật tiên tiến hiện đại được ứng dụng góp phần chẩn đoán chính xác, điều
trị hiệu quả, cứu sống nhiều bệnh nhân hiểm nghèo, nâng cao chất lượng
khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Bệnh viện cũng là cơ sở đào tạo
cán bộ Trung học, Đại học và sau Đại học cho ngành y tế và cơ sở nghiên cứu
khoa học y học của ngành. Nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở đã
hoàn thành và có giá trị ứng dụng thực tế vào công tác khám chữa bệnh, đào
tạo cán bộ. Bệnh viện có quan hệ hợp tác với nhiều nước trên thế giới và có
nhiều ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý bệnh viện,… Nhiều
25
tập thể, cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng, thầy thuốc nhân dân,
thầy thuốc ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, huân chương, huy