TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
NGUYỄN VĂN GIỚI
QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT CÁC
DÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC
VIỆT NAM VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC
XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
BÌNH ĐỊNH – 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
NGUYỄN VĂN GIỚI
QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT CÁC
DÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC
VIỆT NAM VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC
XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục chính trị
Người hướng dẫn khoa học: Th.S LÊ VĂN LỢI
TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM......................................16
1.2.1. Vai trò của khối đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam.................................................................................................................16
1.2.2. Nội dung xây dựng khối đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc
Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh............................................................23
1.2.2.1. Các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam phải được bình
đẳng, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ...............................................23
1.2.2.2. Phải quan tâm phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số........................................................................................................29
1.2.2.3. Chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người
dân tộc thiểu số...........................................................................................30
1.3. NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM...............................................35
1.3.1. Xây dựng khối đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc.............................................35
1.3.2. Đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam dựa trên
nguyên tắc tôn trọng, giữ gìn phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các
dân tộc.............................................................................................................37
1.3.3. Đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam phải gắn liền
với sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và dân tộc đa số đối với đồng bào dân tộc
thiểu số............................................................................................................40
Chương 2 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT CÁC
DÂN TỘC TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO VIỆC XÂY
DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN AN LÃO,
TỈNH BÌNH ĐỊNH..............................................................................................45
2.1. HUYỆN AN LÃO VÀ TÌNH HÌNH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN AN
LÃO.....................................................................................................................45
2.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội...................................45
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời Hồ Chí Minh đã khẳng định “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”. Đại đoàn kết là một nội dung lớn
xuyên suốt trong tư tưởng cũng như hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Theo
Người, lực lượng và phương diện đoàn kết gồm một hệ thống rộng lớn: đoàn kết
các dân tộc, các tầng lớp, các đảng phái, các tôn giáo trong xã hội, với cả kiều
bào nước ngoài và đoàn kết quốc tế...Trong đó, đoàn kết các dân tộc trong cộng
đồng dân tộc Việt Nam là một trong những vấn đề được Người quan tâm hàng
đầu. Và bản thân Người là hiện thân của tinh thần đoàn kết ấy.
Hồ Chí Minh là người đã dày công xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và
ra sức chăm lo cho cuộc sống đồng bào các dân tộc trong cộng đồng dân tộc
Việt Nam. Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Hồ Chí
Minh đã cho tổ chức Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số để đồng bào thực
hiện quyền bình đẳng về chính trị và các quyền lợi khác cũng như trách nhiệm
đối với đất nước. Tại Hội nghị này, Người đã nhấn mạnh rằng, các dân tộc được
tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập
hoàn toàn, tự do và hòa bình.
Chính nhận thức rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của các dân t ộc trong
cộng đồng dân tộc Việt Nam đối với sự nghiệp chung của đất nước mà Hồ
Chí Minh đã rất quan tâm, chăm lo xây dựng, củng cố và phát triển khối đoàn
kết giữa các dân tộc. Người thường biểu dương truyền thống tốt đẹp và những
đóng góp to lớn của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam không chỉ
trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm mà cả trong xây dựng,
bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng và Nhà nước không thể không phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng miền núi và vùng đồng bào dân tộc
Minh về đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và vận
dụng vào việc xây dựng khối đoàn kết các dân tộc thiểu số ở huyện An Lão,
tỉnh Bình Định” là cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có những công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đến đề tài. Có thể
nêu một số công trình tiêu biểu sau:
3
Về sách đã xuất bản:
- PGS.Phùng Hữu Phú (chủ biên), GS.Vũ Dương Ninh, PGS.Lê Mậu Hãn,
PTS.Phạm Xanh (1995): “Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh”, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác phẩm nghiên cứu quá trình hình thành
chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, chiến lược đại đoàn kết trong cách mạng
giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa (CNXH), những
nội dung cơ bản của chiến lược đại đoàn kết trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
thống nhất.
- Nguyễn Khánh Bật, Bùi Đình Phong, Hoàng Trang (đồng chủ biên): “Tư
tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Nghệ An. Tác phẩm đã trình
bày cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn
liền với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội trong thời
kỳ mới.
- Lê Văn Yên (1998): “Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc tế trong
cách mạng giải phóng dân tộc”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội. Tác
phẩm đã phân tích và chứng minh quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh trong xây
dựng mối quan hệ đoàn kết giữa phong trào giải phóng dân tộc và phong trào
cách mạng vô sản quốc tế nhằm mục tiêu độc lập, tự do cho nhân dân Việt Nam.
bối cảnh hiện nay, củng cố quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam và tác
động toàn cầu hóa đối với đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay.
Về đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án:
- Nguyễn Xuân Thông (1995): “Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh và
sự thể hiện trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1930 – 1954”, luận án tiến sĩ sử
học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1995. Ở luận án này, tác giả đã
sử dụng phương pháp logic - lịch sử làm phương pháp chủ đạo, để tìm hiểu và
chứng minh tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh được Người trực tiếp vận
dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, kể từ thời niên thiếu của Người (1930)
đến khi cách mạng thành công (1954). Đây là luận án có giá trị khoa học và có
ý nghĩa thực tiễn cao đối với việc xây dựng và củng cố khối trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
- Khuất Thị Hoa: “Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh được thể hiện
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)”, Luận án
5
tiến sĩ sử học, Học Đại đoàn kết toàn dân viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
2000. Luận án đã đi sâu tìm hiểu chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí
Minh được thể hiện trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
giai đoạn 1945-1954. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận về vấn đề Đại đoàn
kết toàn dân và những giải pháp có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm chỉ đạo
việc củng cố, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
- Vũ Thị Thuỷ (2006): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc và
thực hiện bình đẳng dân tộc tỉnh Thái Nguyên trong sự nghiệp đổi mới, luận văn
thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học”, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tiễn về
việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên, tác giả Vũ
- Phạm Thế Duyệt: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại đoàn kết dân tộc và Mặt
trận dân tộc thống nhất”, báo Nhân dân ra ngày 16/5/2005.
Những đề tài khoa học, luận án, luận văn, các tác phẩm và một số bài báo,
tạp chí trên đã thể hiện kết quả nghiên cứu tổng thể toàn diện và sâu sắc về tư
tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh. Mặt khác, những công trình này
giúp làm sáng tỏ và phong phú tư tưởng ấy của Người, đồng thời làm tiền đề cơ
sở hết sức quan trọng cho việc nghiên cứu về vấn đề xây dựng khối đoàn kết các
dân tộc thiểu số ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định trong thời kỳ đổi mới theo tư
tưởng Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở tìm hiểu và hệ thống hoá những nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc thiểu số và qua sự khảo sát, nghiên cứu
thực trạng khối đoàn kết các dân tộc thiểu số huyện An Lão, tỉnh Bình Định hiện
nay, đề xuất một số giải pháp chủ yếu tăng cường xây dựng khối đoàn kết các
dân tộc huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá nội dung cơ bản quan điểm đoàn kết dân tộc thiểu số của
Hồ Chí Minh.
- Xác định các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc xây dựng khối đoàn
kết các dân tộc thiểu số và phân tích làm rõ thực trạng khối đoàn kết các dân tộc
thiểu số ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay.
7
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu tăng cường xây dựng khối đoàn kết các
dân tộc thiểu số ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định hiện nay dưới ánh sáng tư
tưởng Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
- Góp phần đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường xây dựng khối đoàn kết
các dân tộc thiểu số huyện An Lão.
- Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhà trường.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm 2 chương, 6 tiết.
Chương 1: Quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc trong cộng
đồng dân tộc Việt Nam
Chương 2: Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam vào việc xây dựng khối đoàn kết các dân tộc ở
huyện An Lão, tỉnh Bình Định hiện nay.
9
Chương 1
QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm dân tộc
Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một
quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện,
loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ
lạc, bộ tộc.
Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến.
Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng
hóa đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau. Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xóa bỏ,
thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị
con người, là hình thức phát triển xã hội được hình thành trên cơ sở cùng có
chung đời sống kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ và những đặc điểm về văn hóa, kinh
tế, ý thức, tâm lý riêng của mình. Dân tộc thường được nhận biết thông qua
những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng
quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ
phận, thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân
tộc.
Thứ hai, có thể cư trú trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú
đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng
gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ.
Thứ ba, có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng làm công cụ giao
tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, tình cảm…
Thứ tư, có nét tâm lý riêng biểu hiện kết tinh trong nền văn hóa dân tộc và
tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó với nền văn hóa của cả
cộng đồng các dân tộc.
Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc
trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau,
11
đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định.
Từ đó cho thấy, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,
trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất :
Một là, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững,
có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù.
Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc gia quốc gia có nhiều dân tộc.
Hai là dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước,
có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất quốc ngữ chung và ý thức về sự
Chính phủ về công tác dân tộc giải thích: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có
số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” [15, tr. 141].
Sinh thời Hồ Chí Minh rất chăm lo, xây dựng phát triển khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, đặc biệt là đoàn kết các dân tộc thiểu số với nhau. Người có một tình
thương và sự đồng cảm rất lớn đối với những người lao động nghèo khổ. Đó
chính là yếu tố quan trọng gắn kết Người với đồng bào: “Người cùng chung sống,
làm việc và hòa nhập với cuộc sống của các đồng bào dân tộc thiểu số. Những
ngày đầu khi trở về Tổ quốc, Người chọn hang Pác Bó làm nơi ở…”[38, tr. 280].
Người thường dùng các thuật ngữ: “dân tộc đa số”, “dân tộc thiểu số”, “đồng bào
Thượng du”, “anh em thiểu số”, “anh chị em các dân tộc”, “đồng bào các dân
tộc”, không mấy khi dùng: thị tộc, bộ tộc, sắc tộc.
Có thể nói rằng, dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít trong một quốc gia
đa dân tộc, có nơi sinh sống và cư trú vùng núi, có những nét đặc trưng riêng về
kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, tạo nên sự đa dạng cho quốc gia
dân tộc. Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng biệt nhưng đều là thống nhất với
nhau tạo nên một quốc gia đa dân tộc.
1.1.3. Khái niệm đoàn kết và đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng
Hồ Chí Minh
1.1.3.1. Khái niệm đoàn kết
Đoàn kết là một thuật ngữ ra đời rất sớm trong lịch sử loài người và được
sử dụng rất phổ biến, rộng rãi. Nhưng ở mỗi giai đoạn, thời kỳ, quan niệm về
đoàn kết của từng quốc gia riêng cũng có sự khác biệt nhau. Đến giữa thế kỷ
XIX, C.Mác và Ăngghen trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, đã nêu
khẩu hiệu “Vô sản các nước đoàn kết lại”. Kế thừa và phát triển tư tưởng tập
13
hợp lực lượng cách mạng quốc tế của C.Mác và Ph.Ăngghen phù hợp với thời
14
luôn coi dân là gốc, nguồn sức mạnh vô tận, là lực lượng chủ yếu quyết định
thành công của cách mạng.
Do đó, khi nói đến khái niệm đại đoàn kết dân tộc, theo Hồ Chí Minh là đại
đoàn kết toàn dân. Người đã từng nói Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng
để họ đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm
chủ, đó là sự nghiệp của quần chúng nhân dân đông đảo, mà không phải là công
việc của một số người, của riêng Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự nghiệp ấy chỉ có
thể được thực hiện bằng sức mạnh của cả dân tộc, bằng đại đoàn kết dân tộc. Vì
vậy, theo quan niệm của Người, đại đoàn kết dân tộc là một nhân tố quan trọng
nhất bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong tác phẩm “Thường thức Chính trị”, Hồ Chí Minh có đưa ra định
nghĩa dân: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc
và những phần tử khác yêu nước” [29, tr. 264]. Theo đó, khái niệm “Dân”,
hay “nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nội hàm rất rộng, bao gồm tất
cả những người Việt Nam yêu nước. Hồ Chí Minh cho rằng tất cả những ai
thừa nhận mình là con dân nước Việt thì đều là dân cả. Người thường dùng
các khái niệm để nói về “dân”: nhân dân, quần chúng nhân dân, dân ta, đồng
bào…để chỉ “mọi con dân nước Việt”, “con Lạc, cháu Hồng”, “con Rồng,
cháu Tiên”, “người chung một bọc”; không phân biệt đảng phái, giai cấp, già,
trẻ, gái, trai, giàu nghèo, dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người theo tôn
giáo với người không theo tôn giáo, …Như vậy, những người Việt Nam phản
quốc không thuộc phạm trù “dân”. Người giải thích:
Nhân dân và quốc dân khác nhau…Những bọn phản động chưa
đến nỗi bị xử tử, vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở
trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân.
Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử; không có quyền tổ chức
tuyên truyền, v.v… Song chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, như
mục tiêu chung: độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.
Họ đều là lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc.
Tuy nhiên, trong khối đoàn kết dân tộc đó phải được tổ chức, sắp xếp một
cách đúng đắn và khoa học, phải thể hiện lập trường giai cấp rõ ràng. Hồ Chí
Minh phân tích sâu hơn đâu là những lực lượng nòng cốt tạo nên cái nền tảng
ấy, Người viết:
Lực lượng chủ yếu trong khối đại đoàn kết dân tộc là công nông,
16
cho nên liên minh công nông là nền tảng của mặt trận dân tộc thống
nhất”. Người chỉ rõ: Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết
đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông
dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại
đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây...[30, tr. 244].
Với cương vị là lãnh tụ của Đảng và của dân tộc, đứng đầu Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa 24 năm liền, Người đã tập hợp các dân tộc, các giai cấp,
tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, nhân sĩ trí thức yêu nước, đồng bào trong nước và
kiều bào, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong suốt tiến trình cách mạng Việt
Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Người đã trở thành linh hồn, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng
rộng rãi và bền vững. Đại đoàn kết dân tộc rõ ràng là một nội dung xuyên suốt
trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như trong hoạt động thực tiễn cách mạng.
Tóm lại, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết toàn
dân rộng rãi tất cả những người Việt Nam không phân biệt giai cấp, giới tính,
tôn giáo, thành phần xã hội, đa số hay thiểu số, ở trong nước hay đang sinh sống
ở nước ngoài, miễn là người đó có tinh thần yêu nước.
1.2. NỘI DUNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM
trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh đoàn kết có một vai trò quan trọng đối với sự thành bại của
cách mạng Việt Nam.
Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh vẫn chưa lý giải
thấu đáo nguyên nhân thành bại các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở
nước ta; nhưng với nhãn quan chính trị sâu sắc, Người đã sớm nhận ra những
hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng, tìm sự cầu viện, đồng minh của các
nhà cách mạng tiền bối trước yêu cầu khách quan mới của lịch sử và sự thay đổi
của tình hình thế giới. Đến khi được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc, đầy đủ những giá trị của đoàn kết cũng như
nguyên nhân dẫn đến thất bại của các phong trào chống thực dân Pháp của các
nhà cách mạng tiền bối. Từ đó, Người có một niềm tin rất lớn vào sức mạnh của
đoàn kết đối với sự thành bại của cách mạng Việt Nam.
Đoàn kết là nguyên nhân của mọi thành công, Người đã chỉ rõ:
“đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của mọi thành công” [35, tr.
186]. Hồ Chí Minh chỉ ra thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng
18
điều đó:
Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm
được hết cả. Ví dụ: Lật đổ chế độ thực dân phong kiến có khó
không? Khó thế nhưng ta đoàn kết nên ta lật đổ được. Lúc bắt đầu
kháng chiến ta ở trong hoàn cảnh rất khó khăn. Pháp có hải quân,
không quân, xe tăng, có những tến tướng có kinh nghiệm mấy chục
năm, có khí giới của Mỹ giúp. Lúc đó, cơ đồ ta chỉ có tay không mà
phải đánh một kẻ địch mạnh hơn. Nhưng chúng ta đã thắng. Vì sao?
Vì đoàn kết” [31, tr. 602].
Người cũng chỉ ra bài học quý báu trong lịch sử: “Sử ta dạy cho ta bài
Tại Hội nghị Cán bộ miền núi ngày 1 tháng 9 năm 1962, Hồ Chí Minh chỉ
rõ rằng: “Miền núi có một vị trí cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc
phòng của cả nước” [34, tr. 458]. Với Hồ Chí Minh, trong kháng chiến hay
trong xây dựng đất nước, đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam luôn giữ vị trí “đầu nguồn’. Lòng nồng nàn yêu nước, truyền thống đoàn
kết, tính trung thực, thật thà, chịu khó của các đồng bào trong cộng đồng dân tộc
Việt Nam là cơ sở để Người tin tưởng sâu sắc rằng:
Đồng bào miền núi có truyền thống cần cù và dũng cảm. Trong thời
kỳ kháng chiến, đồng bào miền núi đã có những công trạng vẻ vang
và oanh liệt. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc và đấu tranh để thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc,
đồng bào miền núi đang cố gắng góp phần xứng đáng của mình
[34, tr. 458].
Đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có vinh dự được đón
Người về nước hoạt động trong suốt thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp
cho đến khi Người về Thủ đô Hà Nội. Người và Trung ương Đảng, Chính Phủ
đã chọn các tỉnh Việt Bắc để làm căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến; đã
chọn Điện Biên Phủ ở Tây Bắc là điểm quyết chiến kết thúc sự xâm lược của
thực dân Pháp. Chính trong quá trình cách mạng đó, đồng bào các dân tộc đã
được Hồ Chí Minh tổ chức, rèn luyện, đào tạo, đoàn kết tập hợp vào phong trào
cách mạng trong cả nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên
thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến thần kỳ chống giặc ngoại xâm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi sức mạnh đoàn kết các dân tộc trong
đại gia đình các dân tộc Việt Nam không những phát huy vai trò
20
quan trọng trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc
và tay sai, giành độc lập, thống nhất đất nước mà còn có vai trò