Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT hà huy tập – hà tĩnh - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là do công trình nghiên cứu của chính tôi thực
hiện. những số liệu trong khóa luận tốt nghiệp này là trung thực. Các đoạn
trích được trích dẫn rõ ràng, đúng quyền tác giả. Các kết quả nghiên cứu trong
luận văn chưa từng được công bố.
Đà Nẵng, ngày 22 tháng 5 năm 2010
Tác giả

Nguyễn Viết Hưng


Lời cảm ơn !
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học sư
phạm Đà Nẵng, Thầy cô giáo trong khoa Tâm lý – giáo dục đã tận tình chỉ
bảo giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt 4 năm học tập tại
trường cũng như trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến cô giáo ThS. Tô
Thị Quyên cô đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban giám hiệu nhà trường, các
thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ Sử - Địa và bộ môn Giáo
dục công dân, giáo viên chủ nhiệm và tập thể học sinh các lớp 10a1, 10a13,
12b1 và 12b6 cùng toàn thể các em học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà
Tĩnh đã nhiệt tình giúp đỡ, cộng tác để em có thể hoàn thành khó luận tốt
nghiệp này.
Cảm ơn các bạn trong lớp và các anh chị khóa trước đã chia sẽ tài liệu và
giúp đỡ tôi rất trong quá trình thực hiện đề tài này.
Báo cáo tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được sự chia sẻ, góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn để bài đề tài được
hoàn thiện hơn.


Trung học phổ thông

2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

THCS
ĐHSP
ĐHQGHN
KHXH
Nxb
TLH
TT
SL
Nn
Bc
Bt

UBND

76


4

Bảng 3.3. Đối tượng học sinh ở các kiểu khí chất chia sẻ

77

5

khi gặp khó khăn của học sinh trường THPT Hà Huy Tập
Bảng 3.4. Tác động của gia đình đến học sinh khi học sinh

79

6

bị stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập
Bảng 3.5. Mong muốn của học sinh ở các kiểu khí chất

81

đối với bố mẹ khi bị stress của học sinh trường THPT Hà
Huy Tập

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
1


5

giới tính của học sinh trường THPT Hà Huy Tập.
Biểu đồ 3.5 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa khí chất và

69

6

nguyên nhân gây stress của học sinh THPT Hà Huy Tập
Biểu đồ 3.6 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa khí chất và biểu

71

hiện stress về mặt tâm lý của học sinh trường THPT Hà Huy
7

Tập
Biểu đồ 3.7 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa khí chất và biểu

72

hiện stress về mặt tâm lý của học sinh trường THPT Hà Huy
8

Tập
Biểu đồ 3.8 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa khí chất và việc

76


phần tất yếu không thể tránh được trong cuộc sống của mỗi người. Bởi vậy,
dù muốn hay không muốn chúng ta cũng phải học cách sống chung với nó.
Năm 1992, tổ chức Liên Hợp Quốc đã đưa ra một bản báo cáo mang tên
“Bệnh tật trong thế kỷ XX”. [8, trang 7]. Trong đó, có việc cảnh báo stress có


thể mang nhiều nguy cơ gây hại cho cuộc sống của con người ở thế kỷ XXI.
Những rối loạn tâm thần, thường cũng do stress gây ra như: các rối loạn lo
âu ám sợ; phản ứng với stress trầm trọng và các rối loạn sự thích ứng...
Stress nói chung là trạng thái căng thẳng về tâm lý. Stress xuất hiện ở con
người nói chung và trong cuộc sống, trong hoạt động học tập của học sinh
nói riêng, có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, đến hiệu quả hoạt động
học tập của họ.
Theo một nghiên cứu gần đây “Stress trong học tập của học sinh THPT”
của Phạm Thanh Bình, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội phần lớn số học sinh được điều tra đang ở mức độ báo động có tới
143/150 học sinh, chiếm 95,23% học sinh trong tổng số học sinh được điều
tra (tức là từ 60 đến 90 điểm) theo phân loại của Soly – Bensabal.
Như vậy, stress của học sinh hiện nay là vấn đề báo động, nếu như chúng
ta không có những biện pháp và hướng giải quyết khoa học thì để lại những
hậu quả khôn lường không chỉ đối với chính những học sinh đó mà cả gia
đình và xã hội.
Đã có nhiều nghiên cứu về stress và cũng như mối liên hệ giữa stress với
các yếu tố khác như stress với ung thư, stress với nhận thức hay stress với
nghề nghiệp,... Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về
mối liên hệ giữa khí chất và stress, nhất là mối liên hệ giữa khí chất và stress
của học sinh THPT.
Với tính cấp thiết đó, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất
và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh”. Đề tài không
những cho chúng ta biết được thực trạng các kiểu khí chất và stress, mối liên

nhưng học sinh có khí chất hướng ngoại.


- Người có khí chất ưu tư và nóng nảy dễ bị stress hơn người có khí bình
thản và linh hoạt.
- Kiểu khí ảnh hưởng đến phản ứng của con người đối với stress và stress
cũng có ảnh hưởng không giống nhau đối với kiểu khí chất đó.
- Tác động của các gia đình đối với các kiểu khí chất khác nhau có sự khác
nhau.
- Các kiểu khí chất khác nhau mong muốn với bố mẹ khi bị stress cũng
khác nhau.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát
6.2.2 . Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn
6.2.4. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
6.2.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

PHẦN NỘI DUNG


Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Tổng quan các nghiên cứu về khí chất
Từ lâu các nhà tâm lý học đã chú ý đến những sự khác nhau có tính cá biệt
trong hành vi của con người. Ngay từ thời cổ đại, những người có kinh
nghiệm đã ghi nhận rằng có những “hình ảnh hành vi” tiêu biểu cho một cá

minh, ánh mắt sắc bén… nhưng người này dễ tự cao huênh hoang, kiêu ngạo,
hiếu chiến, dã tâm…
Hai là, người quẻ Khảm là thuỷ, nắm giữ khí thuỷ của trời, tính rất ấm
nhu. Người thuộc quẻ Khảm hướng nội cao độ, trầm tĩnh, giỏi mưu chước,
tâm kế, có tố chất của nhà tham mưu. Người thuộc loại này tính cách thuỷ khí
tương đối nặng tính nước (thuỷ) ẩn kín, vì vậy chất người quẻ Khảm âm nhiều
mà không biểu lộ, bề ngoài tĩnh lặng như hồ nước. Dạng người này cũng có
thể có những tính cách xấu như: suy sút (ý chí), hậm hực, lạnh nhạt, tê liệt về
tình cảm, âm hiểm. Người vô cùng giữ chữ tín, kiên trì và giàu cương nghị ở
bên trong. Tóm lại người quẻ Khảm cho dù không thuận lợi, nhưng trăm
nghìn trắc trở cũng không sờn lòng kiên trì mãi cuối cùng sẽ thành công.
Ba là, người quẻ Khôn tượng trưng địa, tính âm mà chất thuận. Về cơ bản
người quẻ Khôn thiên về hướng nội, khoan dung độ lượng, cần mẫn chăm chỉ,
ung dung khiêm tốn, có tố chất của người thực nghiệp, có ý chí mạnh mẽ,
không ngừng vươn lên. Hạn chế của người quẻ Khôn là phản ứng chậm, lời


nói việc làm chậm chạp, ít nhạy cảm với sự việc mới, dễ có hiện tượng an
nhiên tự tại, không tranh giành.
Bốn là, người quẻ Càn tượng trưng cho trời, thuộc khí Kim, cho nên tính
mạnh mẽ, cứng rắn. Phần lớn thông minh, tính tình rộng rãi, nhìn xa trông
rộng, biết tự kiềm chế, biết tổ chức, có tố chất của người lãnh đạo. Hạn chế
của loại người này là thường giả dối háo danh, lòng tự ái quá mạnh, thậm chí
có tư tưởng chỉ mình là nhất.
Năm là, người quẻ Tốn tượng trưng cho gió, nắm giữ khí phong của trời.
Tính phong thuộc dương chủ động nên loại người này hiếu động, tính gấp,
nhanh nhẹn được việc, tư duy minh mẫn, giỏi về ngoại vụ, có tố chất của nhà
ngoại giao. Người quẻ Tốn đến đi vội vàng giống như cơn gió, nhưng tính
phong nhiều biến đổi, vì vậy người quẻ Tốn phần đông không ổn định, khi thì
giống như cuồng phong, khi thì giống như gió thoảng, lúc thì nhu thuận, lúc

sướng hay đau khổ họ đều có sự rung động sâu sắc.
Kiểu điềm tĩnh là kiểu người có nhiều nước nhớt trong cơ thể. Đặc điểm
của kiểu người này là kém nhanh nhẹn, hưng phấn, cảm xúc yếu. Tuy vậy, thái
độ bình tĩnh, kiên định đối với hiện thực thường là điều tốt. Người điềm tĩnh
thường khó mất bản lĩnh. Thói quen và kỹ xảo của người kiểu này rất cố định
và khó thay đổi.
Kiểu ưu tư là kiểu có số lượng mật đen nhiều. Cảm xúc của người kiểu
người này mang tính chất mềm yếu. Bất kỳ một thât bại nào cũng gây ức chế.
Người kiểu này hầu như u sầu. Tất cả mọi rung động ở người kiểu này dễ bị


tổn thương. Trong đại đa số trường hợp những người kiểu này đều tỏ ra thụ
động và tò mò.
Đến nay tuy khoa học đã có những bước tiến vượt bậc nhưng những nét
tiêu biểu của các kiểu khí chất được các nhà tư tưởng Hy Lạp – La Mã cổ đại
mô tả là khá chính xác, đúng đắn về mặt tâm lý và ngày nay vẫn giữ nguyên ý
nghĩa của mình.
Năm 1863, nhà sinh học và tâm lý học Nga I. M. Xechênốp đã viết công
trình "Những phản xạ của não". Trong công trình này, Xechênốp đã đưa ra tư
tưởng về tính phản xạ tâm lý và sự điều chỉnh tâm lý của hoạt động.
Tư tưởng này của ông được nhà sinh lý học vĩ đại người Nga I. P. Pavlov
phát triển trong xây dựng học thuyết về hoạt động thần kinh cấp cao. Trong
học thuyết của mình, Pavlov đã đưa ra những giải thích khoa học về bản chất
của khí chất.
Bằng phương pháp phản xạ có điều kiện I. P. Pavlov đã khám phá ra những
quy luật của hoạt động thần kinh cấp cao (gồm hai quá trình căn bản đó là
hưng phấn và ức chế và những thuộc tính của hai quá trình thần kinh gồm có
3 thuộc tính cơ bản đó là: cường độ, cân bằng và linh hoạt.
Theo I. P. Pavlov đặc điểm của các hoạt động thần kinh với 3 thuộc tính
bao giờ cũng có hai trạng thái đối lập nhau đó là: Mạnh – yếu, cân bằng –

của sự sống còn. Do đó, những thay đổi hay những tác động ngoại cảnh làm


đảo lộn sự cân bằng nội tại này khiến cơ thể phải phản ứng lại và bù trừ nhằm
tồn tại.
Sau đó năm 1914, Walter Cannon đã sử dụng thuật ngữ này trong sinh lý
học, để chỉ các stress cảm xúc. Năm 1935, ông đã đi sâu vào nghiên cứu về sự
cân bằng nội môi ở động vật có vú khi chúng lâm vào tình huống khó khăn,
nhất là khi thay đổi nhiệt độ. Ông cũng mô tả những nhân tố cảm xúc trong
quá trình phát sinh, phát triển một số bệnh và xác định vai trò của hệ thần
kinh khi cơ thể đối phó với các tình huống khẩn cấp.
Hans Hugo Bruno Selye, một y sĩ người Canada, gốc Áo đã mở rộng
thêm những quan sát của Cannon. Chính Hans Selye, nhà nghiên cứu người
Canada, đã phát triển khái niệm stress hiện đại. Năm 1936, ông đã chiết từ
dịch tiết của buồng trứng động vật có sừng một loại hormon và đem tiêm nó
cho chuột. Sau khi tiêm một thời gian, chuột có những biểu hiện như:
- Vỏ tuyến thượng thận tăng trưởng mạnh và chứa một lượng không lớn
các hạt lipit bài tiết.
- Tuyến ức, các hạch limpho và các cấu trúc chứa limpho bị teo nhỏ lại
(involution).
- Thành tá tràng , dạ dày và ruột bị loét và chảy máu .
Những thí nghiệm khác đã cho thấy các chất chiết từ tuyến thượng thận,
tuyến tụy và một số chất độc cũng gây nên những biến đổi tương tự .
Lúc đầu những biến đổi này được gọi là “triệu chứng được gây ra bởi các
tác nhân khác nhau”. Về sau chúng được đổi thành “triệu chứng thích ứng
chung” hay còn gọi là “triệu chứng stress sinh học”. Và ba biến đổi trên đã trở
thành ba chỉ số quan trọng của stress và là cơ sở để phát triển một khái niệm
đầy đủ về stress.



học cổ truyền phương Đông đã lưu ý vấn đề này từ lâu.
Ở nước ta, danh y Tuệ Tĩnh, vào thế kỷ 14, trong tác phẩm “Nam dược
thần hiệu” đã xác định: "thất tình (vui sướng, giận dữ, ưu phiền, sầu thảm, tư
lự, sợ hãi, khiếp đảm) là nguyên nhân bên trong của mọi bệnh". Còn danh y
Hải Thượng Lãn Ông, vào thế kỷ thứ 17, đã viết trong “Vệ sinh yếu quyết” đề
cập đến việc phòng bệnh có những câu sau đây:
“… Nội thương bệnh chứng phát sinh,
Thường do xúc động thất tình gây nên
Lợi dục đầu mối thất tình,
Chặn lòng ham muốn thì mình được an.
Cần nên tiết dục thanh tâm,
Giữ lòng liêm khiết chẳng tham tiền tài…”
Dưới góc độ sinh lý học và y học là nhà khoa học Tô Như Khuê, với công
trình nghiên cứu “phòng chống trạng thái căng thẳng (stress) trong đời sống
và trong lao động” (5/1976). Những công trình của ông và cộng sự trong thời
chiến tranh (1967-1975) chủ yếu phục vụ cho việc tuyển dụng, huấn luyện và
nâng cao sức chiến đấu cho bộ đội ở các binh chủng đặc biệt.
Tiếp nối các nghiên cứu trên, sau Tô Như Khuê, nhiều tác giả có uy tín
trong nước đã tiếp nối các nghiên cứu trên bắt tay vào nghiên cứu lý thuyết về


stress. Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện - nhà sáng lập trung tâm nghiên cứu tâm lý
trẻ em N-T, đã có công biên soạn và dịch thuật giới thiệu nhiều tài liệu khoa
học bổ ích về tâm lý trẻ em. Trong đó dưới góc độ nghiên cứu về stress, đáng
chú ý là cuốn “Tâm bệnh học trẻ em” do nhà xuất bản Y học và trung tâm NT phối hợp ấn hành.
Ngoài ra, phải kể đến GS. BS. Đặng Phương Kiệt, bác sỹ nhi khoa chuyên
nghiên cứu và tư vấn về tâm lý lâm sàng với nhiều tác phẩm như: “Stress và
đời sống”, “Stress và sức khỏe”, “Chung sống với stress”.
Hai tác giả Phạm Ngọc Giao và Nguyễn Hữu Nghiêm với tác phẩm “Stress
trong thời đại văn minh” nxb Đà Nẵng, 1986 đã cảnh báo với tất cả những

người. Nó biểu hiện trong sức mạnh của các tình cảm, trong trình độ sâu sắc
hay hời hợt của chúng, trong sự diễn ra nhanh hay chậm của chúng, trong tính
vững chắc hay trong sự thay đổi nhanh chóng của chúng.”
Theo Tâm lý học: “Khí chất là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá
nhân, biểu hiện cường độ, tốc độ nhịp độ của các hoạt động tâm lý thể hiện
sắc thái hành vi, cử chỉ cách nói năng của cá nhân”.
- Cường độ: (mạnh – yếu) là chỉ số khả năng làm việc của tế bào thàn kinh
và hệ thần kinh nói chung.
- Tốc độ: (nhanh – chậm) là chỉ số khả năng làm việc của tế bào thần kinh,
chỉ quá trình hưng phấn và ức chế chiếm ưu thế.
- Nhịp độ: (đồng đều hay thất thường) nói lên chỉ số làm việc của tế bào
thần kinh.


Định nghĩa trên cho thấy hành vi của con người không chỉ phụ thuộc vào
điều kiện xã hội mà con phụ thuộc vào sự tổ chức thần kinh đặc biệt của cá
nhân.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm khí chất, cần chú ý một số điểm sau:
Một là, khí chất gắn liền với kiểu hoạt động thần kinh của con người, là
biểu hiện cụ thể ra bên ngoài về cường độ, tốc độ và nhịp độ các hoạt động
tâm lý của con người.
Hai là, khí chất là động lực hành vi cá nhân, nhưng nó chỉ quyết định về
cường độ, nhịp độ và tốc độ hành vi chứ không quyết định nội dung của hành
vi (như xu hướng, tình cảm, ý chí, thế giới quan…).
Ba là, nói đến khí chất là nói đến động lực của toàn bộ hành vi cá nhân,
nghĩa là không chỉ nói đến động lực của từng quá trình trâm lý riêng lẻ, từng
hoạt động cụ thể trong một phạm vi nhất định nào đó, mà nói lên đến đặc
trưng chung nhất về cường độ, nhịp độ của toàn bộ hành vi của cá nhân, là
động lực tương đối bền vững trong cả cuộc đời cá nhân.
1.2.2.1. Những thuộc tính cơ bản của khí chất

bằng. Trước hết, căn cứ vào sức bền so với kích thích tác động mạnh và kéo
dài mà hệ thần kinh có thể mạnh hay yếu. Một hệ thần kinh yếu, nhạy cảm dễ
ức chế sẽ xá định hành vi của chủ thể ở những nét đặc trưng của kiểu khi chất
ưu tư. Vì vậy, I. P. Pavlov đã gắn kiểu hoạt động thần kinh cao yếu với khí
chất ưu tư.


Ông đã xây dựng lý luận về phản xạ có điều kiện của hoạt động thần kinh
cấp cao mới đẻ soi sáng vấn đề cơ sở sinh lý của khí chất.
- Hoạt động thần kinh cấp cao ở người gồm có hai quá trình cơ bản: hưng
phấn và ức chế. Đặc điểm của các kiểu hoạt động thần kinh bao giờ cũng có
hai trạng thái đối lập nhau: mạnh – yếu; cân bằng – không cân bằng; linh hoạt
– không linh hoạt.
Mỗi người chúng ta tùy theo đặc điểm thần kinh mà ở cực A hay cực B,
có người rời vào trạng thái trung gian.
Trạng thái trung gian
A

B

+ Kiểu mạnh - cân bằng - linh hoạt (quá trình hưng phấn cân bằng với quá
trình ức chế) - kiểu hoạt.
+ Kiểu mạnh - không cân bằng, có đặc điểm là quá trình hưng phấn mạnh
và quá trình ức chế yếu - kiểu nóng.
+ Kiểu mạnh - cân bằng - không linh hoạt (bề ngoài thì điềm đạm hơn,
bền bỉ hơn) - kiểu trầm.
+ Kiểu yếu có đặc điểm là quá trình hưng phấn cũng như hưng phấn đều
yếu - kiểu ưu
Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng bốn kiểu thần kinh trên đã bao hàm tất cả
những thức của hoạt động thần kinh cấp cao của cá nhân. Những kiểu trên là

thần kinh là rất quan trọng nhưng trong trường hợp khác thì tính nhạy cảm
cao của hệ thần kinh lại rất cần thiết. Hơn thế nữa, nếu như hoạt đọng thần


kinh cấp cao “yếu” là “không” có giá trị thì nó đã không còn tồn tai từ lâu do
chọn lọc tự nhiên.
I. P. Pavlov đã xác định sức mạnh của hệ thần kinh cả theo tốc độ hình
thành các định hình động lực. Sau B. M. Teplov và V. D. Nebulinxki đã đề
nghị gọi tính chất đó là tính năng động của hoạt động thần kinh cấp cao. Tính
năng động đó quyết định các đặc điểm cá biệt của con người trong sự định
hình động lực. Sự hình thành định hình động lực càng tốt thì các kỷ xảo
chuyên môn của con người được tạo nên càng nhanh.
1.2.2.2. Bản chất xã hội của khí chất
Kiểu hoạt động thần kinh không phải cố định. Điều đó có nghĩa là khí chất
của con người óc thể thay đổi được dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống
– giáo dục và hoạt động của cá nhân. Không phải chỉ những thuộc thì bẩm
sinh của hệ thần kinh quyết định tính độc đáo của khí chất. Tính độc đáo của
khí chất phụ thuộc vào những tác động ảnh hưởng liên tục đến trong suốt quá
trình sống. Những dấu vết xã hội, đặc biệt là những tiêu chuẩn đạo đức,
những yêu cầu xã hội đã ghi lại rõ nét các hình thức hành vi của mỗi người.
Vì vậy, khí chất của một con người cụ thể thường chỉ rõ những đặc điểm của
dân tộc, địa phương.
Mặt khác, con người là một thành viên của xã hội, chịu sự tác động của xã
hội nên những biến cố trong đời sống không chỉ ảnh hưởng đến đời sống
sống tinh thần và tình cảm của con người mà còn làm thay đổi khí chất của
họ. Điều này muốn nói cá nhân có thể thay đổi toàn bộ hoặc một số đặc điểm
nào đó của khí chất trong quá trình sống và hoạt động. Ví dụ, một người vốn
hồn nhiên, lạc quan yêu đời không may bị lừa gạt hay bị cô lập, thất bại trong
việc gì đó, hay bị đối xử không công bằng dễ chuyển sang khí chất điềm tĩnh,
ưu tư…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status