Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại trường PTCB nguyễn đình chiểu (TT) - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự tồn tại của trẻ khuyết tật là một thực tế khách quan, xã hội càng phát triển thì sự
quan tâm của xã hội đến trẻ khuyết tật càng được nâng cao. Ở Việt Nam, việc đảm bảo
quyền cho trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng rất được chú trọng. Điều này thể
hiện trong các văn bản pháp quy mà Việt Nam đã kí và cam kết thực hiện như Công ước
Quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước về Giáo dục cho mọi người. Hơn nữa, trong Luật Phổ
cập giáo dục Tiểu học, Luật chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật giáo dục, Pháp lệnh về
Người tàn tật và Luật Người khuyết tật 2010 đã đề cập đến vấn đề trẻ khuyết tật có quyền
như mọi trẻ em khác.
Trong Nghị quyết TW Đảng khoá VI và Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010
đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục trẻ khuyết tật. Theo đó, Bộ Giáo dục và
đào tạo đã áp dụng các mô hình trẻ khuyết tật khác nhau và đã thu được những kết quả
nhất định. Đồng thời, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã có các chính sách dành cho
trẻ khuyết tật và gia đình có trẻ khuyết tật. Tất cả những điều này đã chứng minh sự quan
tâm ngày càng lớn của Đảng và Nhà nước đối với những người khuyết tật nói chung và trẻ
khuyết tật nói riêng.
Theo Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2008, ước tính có
khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật. Do đó, Việt Nam được xếp vào một trong những nước
có số lượng trẻ khuyết tật hàng cao trên thế giới. Trong một nghiên cứu của Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội hợp tác với UNICEF vào năm 1998 – 1999 trong những trẻ từ 0
đến 17 tuổi cho thấy có khoảng 1 triệu trẻ khuyết tật trên cả nước, chiếm khoảng 1,4%
tổng dân số và khoảng 3,1% tổng số trẻ em. Trung bình, cứ mỗi 5,7 hộ gia đình thì có
khoảng một gia đình có trẻ khuyết tật. Khuyết tật vận động là phổ biến nhất (22,4%) sau đó
là khuyết tật ngôn ngữ (21,4%), những vấn đề về hành vi (16,2%), khiếm thị (14,6 %),
khiếm thính (9,7%) và thiểu năng trí tuệ (3,6%).
Người khuyết tật thường phải gánh chịu những cảm giác đau đớn, khó chịu do sự ức
chế hoạt động hay do di chứng của khuyết tật gây nên. Việc vận dụng những phương pháp
tác động đặc biệt nhằm giúp trẻ giảm bớt những cơn đau, sự khó chịu, sự ức chế trong cơ
thể giúp trẻ có cảm giác thoải mái và dễ chịu hơn là hết sức cần thiết. Từ đó, dần dần phục
hồi một số chức năng cho trẻ trong việc di chuyển, tự phục vụ. Góp phần vào việc kéo dài

Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ
em bất hạnh thành phố Đà Nẵng.
4. Giả thuyết khoa học
Hầu hết các cán bộ giáo viên đều nhận thức được vai trò của phương pháp trị liệu
Dosaho và vận dụng phương pháp này sau khi được tập huấn. Việc vận dụng phương pháp
trị liệu Dosaho để phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bước đầu đã mang lại hiệu quả .
Tuy nhiên, do các cán bộ giáo viên chưa nắm vững kiến thức, kĩ năng của phương pháp
này và thời gian thực hành còn hạn chế nên hiệu quả vận dụng của phương pháp trị liệu
Dosaho đạt được chưa cao, số lượng học sinh được trị liệu còn hạn chế.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm các khái niệm cơ bản, lý luận về
trẻ khuyết tật, về lý thuyết Dosaho và cơ sở vận dụng của phương pháp này, các bài tập
Dosaho.
5.2. Khảo sát việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng
cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân
chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị
liệu Dosaho theo hướng lâu dài tại thành phố Đà Nẵng.
6. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ nghiên cứu việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục
hồi chức năng cho trẻ khuyết tật vận động, trẻ chậm phát triển trí tuệ và trẻ tự kỷ tại


Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ
em bất hạnh thành phố Đà Nẵng.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp
nghiên cứu sau:
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,

vận động cánh tay và cơ thể nhờ sử dụng biện pháp thôi miên. Điều đó có nghĩa là người ta
có thể vận động cơ thể và các chi bằng chính nỗ lực của mình dù các tế bào não đã bị tổn
thương hoặc một bộ phận các tế bào não đã chết. Kết luận này hoàn toàn ngược với các kết
luận trước đó. Chắc chắn phải xảy ra một quá trình tâm lý trong các vận động thể chất của
cơ thể con người, và các quá trình tâm lý vượt ra ngoài quan điểm thông thường về y học.
Trong nhiều công trình nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng, giáo sư Naruse và các
đồng nghiệp của ông đã cố gắng mô tả “hệ thống vận động của con người” – tiếng Nhật
gọi là “Dosaho” và đã thành công trong việc phát triển một chương trình phục hồi chức
năng không sử dụng thôi miên dành cho những bệnh nhân bị bại não và bị tắc nghẽn động
mạch não. Chương trình này có tên gọi là “phương pháp luyện tập Dosaho”. Hiệu quả rõ
rệt của phương pháp tập luyện Dosaho đã được chứng minh trong nhiều trường hợp. Hơn
nữa, phương pháp trị liệu Dosaho không chỉ phát huy tác dụng trong các chương trình phục
hồi chức năng thể chất mà còn trong các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần và tâm
lý trị liệu. Trong thực tế, đã xảy ra không ít trường hợp một số trẻ em đã được chẩn đoán sẽ
nằm liệt suốt đời do những tổn thương về thể chất và tâm lý, nhưng sau đó các em lại có
thể đứng thẳng, đi lại thoải mái và thậm chí theo học các lớp bình thường. Cũng trong các
trường hợp sử dụng liệu pháp tâm lý, đã có báo cáo khoa học khẳng định một trường hợp
bệnh nhân sử dụng bài tập Dosaho nhanh chóng cải thiện triệu chứng trầm cảm. Hiện nay,
các chương trình chăm sóc sức khỏe dựa trên phương pháp tâm lý sử dụng hệ thống các tác
động vận động Dosaho làm công cụ được gọi là chương trình phục hồi chức năng dựa vào
liệu pháp tâm lý, và trong hơn 20 năm qua, phương pháp tập luyện vận động Dosaho được
xem là chương trình phục hồi chức năng dựa vào liệu pháp tâm lý hiệu quả nhất ở Nhật
Bản.
Các chuyên gia tâm lý, các bác sĩ điều trị, các nhà nghiên cứu khoa học quan tâm
đến mối quan hệ không thể tách rời giữa thể chất và tinh thần đã ứng dụng phương pháp
Dosaho tại các trại huấn luyện, trong các chương trình điều trị bệnh, trong các chương
trình hoạt động học tập và chăm sóc sức khỏe. Hiện nay, cơ sở lý thuyết của phương pháp
tập luyện Dosaho đã được khẳng định, và các nhà khoa học đã phát hiện các phương pháp
mới như: Phương pháp Dosaho thể thao cho các vận động viên thể thao chuyên nghiệp
được sử dụng như là một phương pháp rèn luyện tinh thần, Phương pháp Dosaho trong

ngày 01 tháng 01 năm 2011.
Tại Đà Nẵng, công tác phục hồi chức năng cũng rất được chú trọng. Hầu hết các
bệnh viện đều có phòng phục hồi chức năng và được trang bị cơ sở vật chất tương đối hiện
đại. Tuy nhiên, ở các trường và cơ sở dạy trẻ khuyết tật thì vấn đề này chưa được chú trọng
và đầu tư nhiều.
1.2. Một số vấn đề chung về trẻ khuyết tật
1.2.1. Trẻ khuyết tật
1.2.1.1. Khái niệm
“Người khuyết tật là người do khiếm khuyết hoặc tình trạng sức khoẻ bị giảm
chức năng và/hoặc hạn chế sự tham gia sinh hoạt, lao động, học tập và đời sống xã hội“
(TS. Nguyễn Thị Xuyên (2008), Hướng dẫn quản lý và phục hồi chức năng dựa vào
cộng đồng, Hà Nội, tr.16)


Khái niệm này cũng tương đương với khái niệm khuyết tật của WHO khuyến cáo
sử dụng theo phân loại ICF, tương đương với khái niệm khuyết tật được đề cập trong dự
thảo Công ước Quốc tế về Quyền người khuyết tật và không mâu thuẫn với tinh thần của
Pháp lệnh về Người tàn tật của Việt Nam.
1.2.1.2. Phân loại
Căn cứ vào tình hình khuyết tật cụ thể của Việt Nam và kế thừa những phân loại cũ
và phân loại chức năng theo ICF, loại khuyết tật được chia thành các nhóm như sau:
1. Khuyết tật (giảm chức năng) vận động
2. Khuyết tật (giảm chức năng) về nghe, hoặc nghe và nói kết hợp
3. Khuyết tật (giảm chức năng) nhìn
4. Giảm cảm giác (bao gồm giảm cảm giác do bệnh Phong gây ra, giảm vị
giác, khứu giác,… do các nguyên nhân khác nhau).
5. Rối loạn chức năng nhận thức: các dạng chậm phát triển trí tuệ, Down
6. Rối loạn chức năng tâm thần – hành vi: tự kỷ, các dạng bệnh tâm thần, rối loạn
hành vi…
7. Các khuyết tật (giảm chức năng) khác thuộc hệ thống tuần hoàn, hô hấp, bài tiết,

vụ, sống tại gia đình, xã hội, sử dụng các tiện ích tại cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng
học đường chức năng, giải trí, lao động, sức khỏe, và an toàn,…
- Hiện tượng này xuất hiện trước 18 tuổi.
Theo Grossman, nhà bác học Mỹ: “CPTTT là tình trạng chức năng trí tuệ tổng
quát thấp hơn mức bình thường dẫn đến hành vi thích ứng kém và xảy ra trong giai đoạn
phát triển. Theo ông, trẻ CPTTT có đủ hai yếu tố: chức năng trí tuệ thấp và hành vi thích
ứng kém.”
1.2.3.2. Nguyên nhân gây khuyết tật CPTTT
* Trước khi sinh
- Di truyền: Bố, mẹ hoặc một trong hai người CPTTT thì có thể sẽ di truyền cho các thế
hệ tiếp sau.
- Do sự đột biến nhiễm sắc thể làm cho cấu trúc gen bị sai lệch dẫn đến một số hiện
tượng như: Bệnh Tớc-nơ(nữ), Clai-phen-tơ(nam), Đao(ba nhiễm sắc thể ở cặp thứ 21),…
- Người mẹ bị mắc một số bệnh trong thời gian mang thai như: cúm, sởi Rubela,…
- Thai nhi suy dinh dưỡng, thiếu i-ốt, …
- Yếu tố môi trường độc hại: Thai nhi bị nhiễm độc, ngộ độc, bố/ mẹ bị nhiễm phóng xạ,
các chất gây nghiện ( do hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma túy),…
- Sự mệt mỏi, căng thẳng của người mẹ.
* Trong khi sinh
Những rủi ro trong quá trình sinh: đẻ non, đẻ khó, trẻ bị ngạt,…có can thiệp y tế
nhưng không đảm bảo dẫn đến những tổn thương não bộ.
* Sau khi sinh
- Trẻ bị mắc các bệnh về não như: Viêm não, viêm màng não để lại di chứng, chấn
thương sọ não do tai nạn…
- Do biến chứng từ các bệnh sởi, đậu mùa…
- Dùng thuốc không theo chỉ định,…
- Suy dinh dưỡng, thiếu Iốt…
- Tai nạn trong sinh hoạt, học tập…
- Trẻ sống cách ly cuộc sống xã hội trong thời gian dài,…
1.2.3.3. Đặc điểm vận động của trẻ CPTTT

* Tổn thương não hoặc não bộ kém phát triển do:
Đẻ non tháng dưới 37 tuần.
Cân nặng khi sinh thấp dưới 2.500g.
Ngạt hoặc thiếu ô xy não khi sinh.
Chấn thương xọ não do can thiệp sản khoa.
Vàng da sơ sinh.
Chảy máu não- màng não sơ sinh.
Nhiễm khuẩn thần kinh như viêm não, viêm màng não.
Thiếu ô xy não do suy hô hấp nặng.
Chấn thương sọ não.
Nhiễm độc thủy ngân.


* Yếu tố di truyền:
Bất thường về nhiễm sắc thể.
Bệnh di truyền theo gen hoặc nhóm gen.
* Yếu tố môi trường:
Môi trường trẻ đang sống kích thích lên sự phát triển của trẻ trong 24 tháng đầu: cho
trẻ xem vô tuyến truyền hình, quảng cáo, âm nhạc, các đồ chơi khác nhau hay do sự quan
tâm dạy dỗ của cha mẹ và gia đình.
Một số hóa chất, kim loại nặng có thể gây tổn thương não.
1.2.4.3. Đặc điểm vận động của trẻ tự kỷ
Trẻ tự kỷ thường có những vận động, hoạt động mang tính lặp lại và rập khuôn. Do
đó, trẻ tự kỷ thường có dáng đi và tư thế khác trẻ bình thường. Đặc biệt, động kinh là điều
thường xuyên xảy ra ở trẻ tự kỷ. Nhưng mức độ khác nhau ở mỗi trẻ.
1.3. Một số vấn đề chung về phục hồi chức năng

1.3.1. Khái niệm
Phục hồi chức năng (PHCN) bao gồm các biện pháp y học, kinh tế - xã hội, giáo
dục và các kỹ thuật phục hồi làm giảm tối đa tác động của giảm chức năng và tàn tật, đảm

1.3.3.4. Phương pháp thôi miên: là phương có thể làm thay đổi hoặc kiểm soát trạng thái
tinh thần của một người đến mức người đó phải làm theo các chỉ thị của người thôi miên.

1.3.4. Các hình thức phục hồi chức năng
1.3.4.1. PHCN tại viện: Là hình thức PHCN nội trú hoặc ngoại trú tại các khoa PHCN
trong các bệnh viện đa khoa, tại các trung tâm hay viện PHCN.
- Ưu điểm:
+ PHCN sớm.
+ Có điều kiện kỹ thuật cao về trang bị máy móc và cán bộ.
+ Tiến hành công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học.
- Nhược điểm:
+ Số lượng thu dung ít.
+ Trở ngại về vấn đề đi lại của người tàn tật.
+ Thời gian tiến hành PHCN ngắn.
1.3.4.2. PHCN ngoại viện: Là hình thức mà cán bộ PHCN đến điều trị tận nhà cho người
tàn tật.
- Ưu điểm:
+ Hạn chế đi lại cho người tàn tật.
+ Có thể triển khai một số kỹ thuật cao.
- Nhược điểm:
+ Tổ chức khó khăn, số người được PHCN cũng hạn chế.
+ Giá thành cao, cần có sự tài trợ lớn.
1.3.4.3. PHCN dựa vào cộng đồng: Là hình thức PHCN ngay tại cộng đồng và dựa vào
cộng đồng (gồm chính quyền địa phương, y tế cộng đồng, hàng xóm, gia đình và bản thân
người tàn tật) là chính, cán bộ PHCN chỉ đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn
và kỹ thuật.
- Ưu điểm:
+ Số người được PHCN cao.
+ Người tàn tật được PHCN tại chỗ.
+ Các phương tiện dụng cụ giản đơn để làm tại chỗ và phù hợp với từng người

động sai để chuyển sang những cách vận động phù hợp và thoải mái hơn khi hợp tác với
các chuyên gia trị liệu để thực hiện các bài tập Dosaho.
1.4.2. Cơ sở vận dụng Dosaho
Từ cơ sở lý thuyết trên cộng với những thành quả mà phương pháp trị liệu Dosaho
đã đạt được, chúng ta có thể thấy được lợi ích của phương pháp này.
Với trẻ khuyết tật thì ngoài những khuyết tật chính, đi kèm theo đó còn có một số
khuyết tật khác. Hơn nữa, do những khuyết tật mà trẻ không có điều kiện để phát huy
những khả năng còn lại, phục hồi những chức năng đã mất. Do đó, trẻ dễ phát sinh nhiều
hành vi bất thường hoặc cũng có thể bị tê cứng nhiều bộ phận.
Một nguyên tắc đặc biệt ở Phương pháp trị liệu Dosaho là người được chữa trị phải
tập trung và tự mình thực hiện những thao tác theo yêu cầu của người trị liệu. Có nghĩa là
người điều trị đã tác động vào bệnh nhân bằng tâm lý trước để người bệnh thực hiện sau.
Và đây chính là nguyên tắc cơ bản cho mọi bài tập Dosaho.


Trong nhiều năm qua, với những thành công đạt được của Phương pháp trị liệu
Dosaho, các trung tâm, trại huấn luyện Dosaho đã được mở ra ở nhiều nơi trên khắp nước
Nhật. Hơn thế, phương pháp này cũng đã được người Nhật phổ biến ra một số nước (như
Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Iran, Campuchia) và các nước này cũng đã cử các đoàn
sang Nhật để được đào tạo và học hỏi kinh nghiệm.
Vì vậy, có thể nói phương pháp trị liệu Dosaho là một hướng mới trong việc phục
hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.
1.4.3. Thống kê một số bài tập Dosaho
1.4.3.1. Yêu cầu chung về kĩ thuật
Cho đến nay, có khoảng 40 – 50 kĩ thuật Dosaho được phát hiện, và chuyên gia trị
liệu chọn 4 – 5 kĩ thuật cho nguời bệnh của mình, gọi là bài tập Dosaho. Để điều chỉnh
những phương thức vận động Dosaho không phù hợp trong quá trình điều trị. Bài tập
Dosaho đuợc chia làm 2 loại: Bài tập căng thẳng và bài tập thư giãn. Chuyên gia trị liệu
phải yêu cầu nguời tập thực hiện một số tư thế trong bài tập. Chuyên gia trị liệu cần nghiên
cứu mỗi bài tập và những đặc điểm cũng như những ứng dụng của nó.


Hình 1: Sơ đồ xác định vị trí trên cơ thể
1. Cổ; 2. Bả vai; 3. Ngực; 4. Lưng; 5. Lưng cột sống; 6. Mông; 7. Đầu gối; 8. Gót chân; 9. Ngón chân; 10.
Vai; 11. Khuỷu tay; 12. Cổ tay; 13. Ngón tay 0. Vị trí mặt (a. Trán;
b. Khóe mắt; c. Xung quanh vùng mắt; d. Xung quanh vùng miệng(vị trí khóe miệng); e. Má; f. Đầu lưỡi(bộ
phận gốc lưỡi); g. Da đầu)


* Các bài tập tại các vị trí
- Vị trí số 1
Người được điều trị (NĐĐT)
- Nằm sấp, hai tay úp xuống nền trước ngực

Người điều trị(NĐT)
- Giữ 2 bên bắp tay

- Nới lỏng – gồng lên (nhiều lần).
- Nghiêng mặt sang trái

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng tại vị
trí đặt tay.

- Nới lỏng – gồng lên (nhiều lần).

- Đặt tay ở nốt cổ (trên)

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng tại vị
- Nghiêng đầu sang phải rồi thực hiện lại trí đặt tay.
- Yêu cầu NĐĐT nghiêng đầu sang phải rồi
tương tự theo yêu cầu của NĐT


- Nới lỏng – gồng lên
- Làm nhiều lần theo yêu cầu của NĐT

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng tại vị
trí đặt tay. (có đôi lúc ngắt quãng)

- Kết thúc theo yêu cầu của NĐT

- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi
- Hỏi: cảm giác thế nào?

- Vị trí số 6
Người được điều trị nằm ngửa, thả lỏng người. Người điều trị ngồi bên phải của NĐĐT:
Lần 1: Luồn chân trái sang phía dưới vị trí thắt lưng của NĐĐT. Để cho NĐĐT
nằm thả lỏng như vậy trong 2 phút. Đồng thời NĐT kiểm tra những vị trí bị cứng của
NĐĐT. Sau 2 phút thì rút chân ra. Hỏi NĐ ĐT có cảm giác thế nào?
Lần 2: Cho NĐ ĐT nằm thả lỏng sau khoảng 3 phút thì thực hiện một lần nữa. Hỏi
NĐ ĐT có cảm giác thế nào?
- Vị trí số 7


NĐĐT
Nằm duỗi thẳng
NĐT
-

Ngồi bên trái NĐĐT

-

L2: Đổi ngược bên.
NĐT
L1: Ngồi đối diện mặt NĐĐT, chân phải đặt chồng vuông góc với chân NĐĐT, chân trái
khụy xuống vuông góc với nền. Tai trái đặt hờ vào vị trí số 10 NĐĐT, đồng thời tay phải
nhấc cánh tai trái của NĐĐT từ từ ra phía sau ( ngược hướng NĐĐT ), ép tay sát xuống
nền đến mức có thể. Trong lúc thao tác khuyến khích NĐĐT “ Đúng rồi!”.
L2: Đổi ngược bên.
* Lưu ý: NĐĐT có cảm giác ấm, nóng thì có hiệu quả. Thực hiện động tác từ 3 - 5 lần.
- Vị trí số 11, 12
Bài tập 2: Đứng thẳng, thả lỏng người, hai vai cân bằng...
B1: Đưa bàn tay phải lên từ từ , giữ trong 25 giây (hỏi người thực hiện có cảm giác
thế nào). Đưa xuống từ từ và giữ 15 giây.
B2: Quan sát (thấy tây phải có vẻ dài hơn). Hỏi người thực hiện có cảm giác thế
nào.
Thực hiện tương tự với tay trái. Mỗi lần tập, đưa tay trái 2 lần, đưa tay phải 2 lần.
Nguyên tắc: làm cho căng cơ rồi thả lỏng thư giãn. Thực hiện trước lúc làm những việc
căng thẳng như: trước giờ thi, kiểm tra, phỏng vấn ...
- Vùng mặt


NĐĐT
Nằm duỗi thẳng, chân tay thả lỏng, nhắm mắt thư giãn.
NĐT
-

Ngồi khoanh chân phía trên phần đầu NĐĐT

-

Mắt nhìn thẳng vào phần mặt NĐĐT

Lưu ý: Khi làm mỗi 1 bộ phận trên khuôn mặt NĐĐT, NĐT nói “ Kéo căng, thả lỏng “
khi làm động tác.
Tiểu kết chương 1
Qua nghiên cứu lí luận về trẻ khuyết tật, chúng tôi nhận thấy trẻ khuyết tật còn gặp
nhiều khó khăn trong vận động. Việc phục hồi chức năng cũng đã được thực hiện bằng
nhiều hình thức và phương pháp khác nhau.
Qua nghiên cứu tìm hiểu hiểu về phục hồi chức năng, chúng tôi nhận thấy có nhiều
phương pháp khác nhau đã được vận dụng để phục hồi chức năng cho người khuyết tật nói
chung và trẻ khuyết tật nói riêng. Ở Việt Nam, các chương trình phục hồi chức năng đã
được quan tâm và thực hiện rộng khắp.
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp Dosaho, chúng tôi nhận thấy phương
pháp này đã được các nhà khoa học nghiên cứu khá lâu. Hiện nay, phương pháp này đang
mang lại một sự chuyển biến lớn trong việc phục hồi chức năng cho người khuyết tật trên
thế giới.
Tiến hành nghiên cứu về cơ sở lý thuyết và cơ sở vận dụng phương pháp Dosaho,
chúng tôi đã hiểu sâu hơn về phương pháp này. Đồng thời, nắm rõ hơn quy trình vận dụng
phương pháp và hiểu hơn các bài tập Dosaho đơn giản.


Chương 2: Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức
năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ
nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng
2.1. Khái quát về quá trình khảo sát
Thành phố Đà Nẵng có nhiều cơ sở nuôi dạy trẻ khuyết tật trải rộng khắp 8 quận,
huyện. Tuy nhiên, mới chỉ có cán bộ giáo viên của 2 cơ sở được tham gia chương trình tập
huấn Dosaho tại Đà Nẵng đó là Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ
nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, chúng tôi đã
tiến hành khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho vào trị liệu và
phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật của các cán bộ giáo viên thuộc 2 cơ sở này.
2.1.1. Vài nét về địa bàn khảo sát



hồi chức năng, vui chơi, ca hát, học nghề để phát triển về thể chất, tinh thần; gia đình các
cháu cũng giảm bớt gánh nặng, gửi con vào Trung tâm để hằng ngày có điều kiện đi lao
động kiếm sống...Các cháu tiến bộ rất nhiều, giảm stress, tự tin hơn, một số cháu đã có thể
tự kết cườm,làm hoa và may, giúp các cháu hoà nhập dần với cộng đồng, vươn lên trong
cuộc sống.
2.1.2. Đối tượng khảo sát
- Các cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ
nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng đã tham gia chương trình
tập huấn Dosaho tại Đà Nẵng.
- Các trẻ khuyết tật đã được phục hồi chức năng bằng phương pháp trị liệu Dosaho.
2.1.3. Nội dung khảo sát
- Nhận thức của cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm
bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng về phương pháp
trị liệu để phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.
- Nhận thức của cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm
bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng về phương pháp
trị liệu Dosaho.
- Thống kê số lượng giáo viên được tham gia chương trình tập huấn Dosaho tại
Tp.Đà Nẵng.
- Những hiểu biết của giáo viên về phương pháp trị liệu Dosaho và các bài tập vận
dụng.
- Kĩ năng sử dụng phương pháp trị liệu Dosaho của cán bộ giáo viên.
- Các bài tập Dosaho đã được vận dụng vào phục hồi chức năng cho trẻ.
- Những thuận lợi và khó khăn gặp phải khi vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho
trong phục hồi chức năng cho trẻ.
- Những tiến bộ của trẻ khi vận dụng các bài tập Dosaho.
- Thực hành các bài tập Dosaho.
2.1.4. Phương pháp khảo sát

0
2 đợt
4
1&2, 2&3, 2&3, 3&4
3 đợt
1
2, 3 & 4
4 đợt
4
1, 2, 3, 4
Nguyên nhân có sự thay đổi số lượng trên là do điều kiện khách quan của giáo viên
và quy định giới hạn số lượng của các đợt sau. Đáng chú ý là đã có 4 giáo viên tham gia
đầy đủ 4 đợt tập huấn và 1 giáo viên tham gia 3 đợt tập huấn.
Do đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc áp dụng phương pháp trị liệu Dosaho
của các giáo viên này.


* Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu về phương
pháp trị liệu để phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.
Bảng 2: Vai trò của trị liệu trong PHCN ở Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

Vai trò của trị liệu trong phục hồi chức năng
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Rất quan trọng
8
88,8
Quan trọng
1
11,2

Kết quả khảo sát vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho cho thấy cán bộ giáo viên
Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu cũng đánh giá cao phương pháp này. Cụ thể có 77,8%
cán bộ giáo viên được phỏng vấn cho rằng quan trọng và 22,2% cán bộ giáo viên cho rằng
rất quan trọng.
Mức độ

Biểu đồ 2: So sánh vai trò của trị liệu trong PHCN với vai trò của phương pháp Dosaho

Từ biểu đồ, chúng ta có thể thấy rõ, cán bộ giáo viên trường PTCB Nguyễn Đình
Chiểu đều đánh giá cao vai trò của trị liệu & phục hồi chức năng của phương pháp Dosaho.
Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức độ, điều này có nghĩa là phương pháp trị liệu Dosaho
là quan trọng, nhưng không phải là tiên quyết.
Bảng 4: Quan điểm của giáo viên về phương pháp Dosaho


STT
1
2
3
4

Nội dung
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Một phương pháp Mát - xa
0
0
Phương pháp vật lý trị liệu
1
11,1

1
Tổng
9
Nhận xét về điểm nổi bật của phương pháp Dosaho, tất cả
đó là sự kết hợp giữa tâm lý và vận động.
* Về các bài tập đã biết và quy trình thực hiện

Tỷ lệ (%)
0
88,8
0
11,2
100,0
giáo viên đều cho rằng

Bảng 6: Các bài tập giáo viên đã biết

Số lượng người biết
0 bài tập
1 bài tập
2 bài tập
3 bài tập
Vị trí số 1
1
7
1
0
Vị trí số 2
1
8

1
0
Vị trí số 9
6
2
1
0
Vị trí số 10
0
8
1
0
Vị trí số 11
6
3
0
0
Vị trí số 12
6
3
0
0
Vị trí số 13
6
3
0
0
Vùng mặt
0
9

Khác
2
Hầu hết các cán bộ giáo viên đều gặp phải những khó khăn nêu trên. Ngoài ra, còn
có một khó khăn khác được đưa ra là chưa xác định được chính xác các vị trí.
Biểu đồ 3: Thể hiện những khó khăn thường gặp
2

Khó khăn khác

7

Trẻ không hợp tác

8

Kĩ năng chưa vững
6

Số bài tập ít
2

Chưa nắm vững các bài tập
0

1

2

3


Vai trò của trị liệu trong phục hồi chức năng
Số lượng
Tỷ lệ (%)
2
40,0
3
60,0


Không quan trọng
0
0,0
Tổng
5
100,0
Kết quả khảo sát cho thấy, 100% cán giáo viên được hỏi đều đánh giá cao vai trò
của phục hồi chức năng trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật tại Trung tâm
bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng.
Bảng 9: Ý kiến của giáo viên về vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong PHCN

Vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi
chức năng
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Rất quan trọng
0
0,0
Quan trọng
5
100,0

20,0
Khác
0
0,0
Tổng
9
100,0
Từ bảng 10 cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về phương pháp Dosaho. Đa
số cán bộ giáo viên đều cho rằng Dosaho là một phương pháp Mat-xa. Một số ít lại cho
rằng Dosaho là một phương pháp vật lý trị liệu và pương pháp tâm vận động.
Bảng 11: Ý kiến của giáo viên về điểm nổi bật của phương pháp Dosaho

STT
1
2
3
4

Nội dung
Thôi miên
Tâm lý kết hợp vận động
Xác định các vị trí
Khác
Tổng

Số lượng
0
5
0
0

Phút/lần

Lần/ngày

Thời gian
Ngày/tuần

Tuần/tháng

Tổng
(phút/tháng)
GV1
15
1
2
2
60
GV2
15
1
1
2
30
GV3
15
1
1
2
30
GV4

15
1
1
2
30
Từ bảng thống kê trên cho thấy, thời gian trẻ được tác động Dosaho là rất ít. Điều
này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của phương pháp này.
Số lượng trẻ được luyện tập phương pháp trị liệu Dosaho còn ít , thể trong thống
kê sau: trong 9 cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho, mức độ áp dụng Dosaho
cho học sinh cụ thể như sau:
- Có 4 giáo viên chỉ mới áp dụng cho 1 – 2 học sinh
- Có 1 giáo viên đã áp dụng cho 3 – 4 học sinh
- Có 3 giáo viên đã áp dụng cho 5 – 6 học sinh
- Có 1 giáo viên đã áp dụng cho trên 6 học sinh
Như vậy, thời gian và số lượng trẻ được tập luyện Dosaho trong thời gian học chính
khóa không nhiều. Tuy nhiên, 100% giáo viên đều tập luyện Dosaho cho trẻ ngoài giờ. Kết
quả quan sát cho thấy học sinh rất hứng thú khi được tập luyện Dosaho.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status